|
BỘ LUẬT LAO đỘNG
CỦA NưỚC CỘNG HOà Xã
HỘI CHỦ NGHĩA VIỆT NAM
Bộ luật này đã được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá IX, kỳ họp thứ 5
thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994.
(Bộ
luật này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2002/QH10)
LỜI NóI đẦU
Lao
động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của
cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có
năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự
phát triển của đất nước.
Pháp luật lao động
quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử
dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng
và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy có vị
trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp
luật của quốc gia.
Kế thừa và phát triển
pháp luật lao động của nước ta từ sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945 đến nay, Bộ Luật Lao động thể chế hoá đường lối đổi mới
của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hoá các quy định của Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 về lao
động, về sử dụng và quản lý lao động.
Bộ Luật Lao động bảo
vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao
động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài
hoà và ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của
người lao động trí óc và lao động chân tay, của người quản lý
lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội
trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và
quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh.
CHươNG I
NHỮNG QUY đỊNH CHUNG
Điều
1
Bộ
Luật Lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động
làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã
hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động.
Điều 2
Bộ
Luật Lao động được áp dụng đối với mọi người lao động, mọi tổ
chức, cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động, thuộc
các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu.
Bộ
luật này cũng được áp dụng đối với người học nghề, người giúp
việc gia đình và một số loại lao động khác được quy định tại
Bộ luật này.
Điều 3
Công
dân Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, tại các cơ quan, tổ chức nước ngoài
hoặc quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt Nam và người nước ngoài
làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức và cho cá nhân Việt
Nam trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc phạm vi áp dụng của Bộ
luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam, trừ
trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Điều 4
Chế
độ lao động đối với công chức, viên chức Nhà nước, người giữ
các chức vụ được bầu, cử hoặc bổ nhiệm, người thuộc lực lượng
quân đội nhân dân, công an nhân dân, người thuộc các đoàn thể
nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác và xã viên hợp
tác xã do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tuỳ từng
đối tượng mà được áp dụng một số quy định trong Bộ luật này.
Điều 5
1-
Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và
nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không
bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội,
tín ngưỡng, tôn giáo.
2-
Cấm ngược đãi người lao động; cấm cưỡng bức người lao động
dưới bất kỳ hình thức nào.
3-
Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và
học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh
thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo
điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ.
Điều 6
Người
lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và
có giao kết hợp đồng lao động.
Người
sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê
mướn, sử dụng và trả công lao động.
Điều 7
1-
Người lao động được trả lương trên cơ sở thoả thuận với người
sử dụng lao động nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do
Nhà nước quy định và theo năng suất, chất lượng, hiệu quả công
việc; được bảo hộ lao động, làm việc trong những điều kiện bảo
đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ,
nghỉ hàng năm có lương và được bảo hiểm xã hội theo quy định
của pháp luật. Nhà nước quy định chế độ lao động và chính sách
xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ và các loại lao động có đặc
điểm riêng.
2-
Người lao động có quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công
đoàn theo Luật công đoàn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình; được hưởng phúc lợi tập thể, tham gia quản lý doanh
nghiệp theo nội quy của doanh nghiệp và quy định của pháp
luật.
3-
Người lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thoả
ước lao động tập thể, chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao
động và tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao
động.
4-
Người lao động có quyền đình công theo quy định của pháp luật.
Điều 8
1-
Người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn lao động, bố trí,
điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh; có quyền
khen thưởng và xử lý các vi phạm kỷ luật lao động theo quy
định của pháp luật lao động.
2-
Người sử dụng lao động có quyền cử đại diện để thương lượng,
ký kết thoả ước lao động tập thể trong doanh nghiệp hoặc thoả
ước lao động tập thể ngành; có trách nhiệm cộng tác với công
đoàn bàn bạc các vấn đề về quan hệ lao động, cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần của người lao động.
3-
Người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao
động, thoả ước lao động tập thể và những thoả thuận khác với
người lao động, tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối sử đúng
đắn với người lao động.
Điều 9
Quan
hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được
xác lập và tiến hành qua thương lượng, thoả thuận theo nguyên
tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích
hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.
Nhà
nước khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho người lao động
có những điều kiện thuận lợi hơn so với những quy định của
pháp luật lao động.
Người
lao động và người sử dụng lao động có quyền yêu cầu cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động. Nhà nước
khuyến khích việc giải quyết các tranh chấp lao động bằng hoà
giải và trọng tài.
Điều 10
1-
Nhà nước thống nhất quản lý nguồn nhân lực và quản lý lao động
bằng pháp luật và có chính sách để phát triển, phân bố nguồn
nhân lực, phát triển đa dạng các hình thức sử dụng lao động và
dịch vụ việc làm.
2-
Nhà nước hướng dẫn người lao động và người sử dụng lao động
xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà và ổn định, cùng nhau
hợp tác vì sự phát triển của doanh nghiệp.
Điều 11
Nhà
nước khuyến khích việc quản lý lao động dân chủ, công bằng,
văn minh trong doanh nghiệp và mọi biện pháp, kể cả việc trích
thưởng từ lợi nhuận của doanh nghiệp, làm cho người lao động
quan tâm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhằm đạt
hiệu quả cao trong quản lý lao động, sản xuất của doanh
nghiệp.
Nhà
nước có chính sách để người lao động mua cổ phần, góp vốn phát
triển doanh nghiệp.
Điều 12
Công
đoàn tham gia cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của người lao động;
tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của
Pháp Luật Lao động.
CHươNG II
VIỆC LàM
Điều
13
Mọi hoạt
động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm
đều được thừa nhận là việc làm.
Giải
quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều
có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các
doanh nghiệp và toàn xã hội.
Điều
14
1- Nhà
nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết,
hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng
các biện pháp khuyến khích khác để người có khả năng lao động
tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm
tạo việc làm cho nhiều người lao động.
2- Nhà
nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và
sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số.
3- Nhà
nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho
các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài, bao gồm cả
người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư phát triển sản
xuất, kinh doanh, để giải quyết việc làm cho người lao động.
Điều
15
1- Chính
phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn
với chương trình giải quyết việc làm; lập quỹ quốc gia về việc
làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác, phát triển hệ
thống tổ chức dịch vụ việc làm. Hàng năm Chính phủ trình Quốc
hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm.
2- Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập chương
trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp quyết định.
3- Các
cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân
và tổ chức xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm tham gia thực hiện các chương trình và quỹ giải
quyết việc làm.
Điều
16
1- Người
lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động
nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm. Người cần tìm
việc làm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký
tại các tổ chức dịch vụ việc làm để tìm việc tuỳ theo nguyện
vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình.
2- Người
sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức
dịch vụ việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm
lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy
định của pháp luật.
Điều
17
1- Trong
trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động
đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ một năm trở lên
bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào
tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu
không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho người lao
động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm
làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai
tháng lương.
2- Khi
cần cho nhiều người thôi việc theo khoản 1 Điều này, người sử
dụng lao động phải công bố danh sách, căn cứ vào nhu cầu của
doanh nghiệp và thâm niên làm việc tại doanh nghiệp, tay nghề,
hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của từng người để lần
lượt cho thôi việc, sau khi đã trao đổi, nhất trí với Ban chấp
hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp theo thủ tục quy định
tại khoản 2 Điều 38 của Bộ luật này. Việc cho thôi việc chỉ
được tiến hành sau khi đã báo cho cơ quan lao động địa phương
biết.
3- Các
doanh nghiệp phải lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm
theo quy định của Chính phủ để kịp thời trợ cấp cho người lao
động trong doanh nghiệp bị mất việc làm.
4- Chính
phủ có chính sách và biện pháp tổ chức dạy nghề, đào tạo lại,
hướng dẫn sản xuất kinh doanh, cho vay vốn với lãi suất thấp
từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm, tạo điều kiện để người
lao động tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm; hỗ trợ về tài
chính cho những địa phương và ngành có nhiều người thiếu việc
làm hoặc mất việc làm do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ.
Điều
18
1- Tổ
chức dịch vụ việc làm được thành lập theo quy định của pháp
luật có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu, cung ứng và giúp tuyển
lao động, thu thập và cung ứng thông tin về thị trường lao
động. Việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài chỉ được tiến hành sau khi có giấy phép của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền.
2- Tổ
chức dịch vụ việc làm được thu lệ phí, được Nhà nước xét giảm,
miễn thuế và được tổ chức dạy nghề theo các quy định tại
Chương III của Bộ luật này.
3- Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội thống nhất quản lý Nhà nước
đối với các tổ chức dịch vụ việc làm trong cả nước.
Điều
19
Cấm mọi
hành vi dụ dỗ, hứa hẹn và quảng cáo gian dối để lừa gạt người
lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm để thực hiện những
hành vi trái pháp luật.
CHươNG III
HỌC NGHỀ
Điều
20
1- Mọi
người có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với
nhu cầu việc làm của mình.
2- Doanh
nghiệp, tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật được mở cơ sở dạy nghề.
Chính
phủ ban hành quy định về việc mở các cơ sở dạy nghề.
Điều
21
1- Cơ sở
dạy nghề phải đăng ký, hoạt động theo quy định về dạy nghề,
được thu học phí và phải nộp thuế theo quy định của pháp luật.
2- Cơ sở
dạy nghề cho thương binh, bệnh binh, người tàn tật, người dân
tộc thiểu số hoặc ở những nơi có nhiều người thiếu việc làm,
mất việc làm, các cơ sở dạy nghề truyền thống, kèm cặp tại
xưởng, tại nhà được xét giảm, miễn thuế.
Điều
22
Người
học nghề ở cơ sở dạy nghề ít nhất phải đủ 13 tuổi, trừ một số
nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định và phải
có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề theo học.
Điều
23
1- Doanh
nghiệp có trách nhiệm tổ chức nâng cao trình độ nghề nghiệp
cho người lao động và đào tạo lại trước khi chuyển người lao
động sang làm nghề khác trong doanh nghiệp.
2- Doanh
nghiệp tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc tại
doanh nghiệp theo thời hạn cam kết trong hợp đồng học nghề,
tập nghề thì không phải đăng ký và không được thu học phí.
Thời gian học nghề, tập nghề được tính vào thâm niên làm việc
tại doanh nghiệp. Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu trực
tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp thì người
học nghề, tập nghề được trả công theo mức do hai bên thoả
thuận.
Điều
24
1- Việc
học nghề phải có hợp đồng học nghề bằng văn bản hoặc bằng
miệng giữa người học nghề với người dạy nghề hoặc đại diện cơ
sở dạy nghề. Nếu ký kết hợp đồng học nghề bằng văn bản, thì
phải làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản.
2- Nội
dung chủ yếu của hợp đồng học nghề phải bao gồm mục tiêu đào
tạo, địa điểm học, mức học phí, thời hạn học, mức bồi thường
khi vi phạm hợp đồng.
3- Trong
trường hợp doanh nghiệp nhận người vào học nghề để sử dụng thì
hợp đồng học nghề phải có cam kết về thời hạn làm việc cho
doanh nghiệp và phải bảo đảm ký kết hợp đồng lao động sau khi
học xong. Người học nghề sau khi học xong, nếu không làm việc
theo cam kết thì phải bồi thường phí dạy nghề.
4- Trong
trường hợp hợp đồng học nghề chấm dứt trước thời hạn vì lý do
bất khả kháng thì không phải bồi thường.
Điều
25
Nghiêm
cấm mọi doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân lợi dụng danh nghĩa
dạy nghề, truyền nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc
dụ dỗ, ép buộc người học nghề, tập nghề vào những hoạt động
trái pháp luật.
CHươNG IV
HỢP đỒNG LAO đỘNG
Điều
26
Hợp đồng
lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng
lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và
nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Điều
27
1- Hợp
đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau
đây:
a) Hợp
đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Hợp
đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;
c) Hợp
đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà
thời hạn dưới một năm.
2- Không
được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công
việc nhất định mà thời hạn dưới một năm để làm những công việc
có tính chất thường xuyên từ một năm trở lên, trừ trường hợp
phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự,
nghỉ theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời
khác.
Điều
28
Hợp đồng
lao động được ký kết bằng văn bản và phải được làm thành hai
bản, mỗi bên giữ một bản. Đối với một số công việc có tính
chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao động
giúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết bằng miệng.
Trong trường hợp giao kết bằng miệng, thì các bên đương nhiên
phải tuân theo các quy định của pháp luật lao động.
Điều
29
1- Hợp
đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: công
việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền
lương, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an
toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với
người lao động.
2- Trong
trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao
động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn mức được
quy định trong pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể,
nội quy lao động đang áp dụng trong doanh nghiệp hoặc hạn chế
các quyền khác của người lao động thì một phần hoặc toàn bộ
nội dung đó phải được sửa đổi, bổ sung.
3- Trong
trường hợp phát hiện hợp đồng lao động có nội dung nói tại
khoản 2 Điều này, thì Thanh tra lao động hướng dẫn cho các bên
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Nếu các bên không sửa đổi, bổ
sung thì Thanh tra lao động có quyền buộc huỷ bỏ các nội dung
đó.
Điều
30
1- Hợp
đồng lao động được giao kết trực tiếp giữa người lao động với
người sử dụng lao động.
2- Hợp
đồng lao động có thể được ký kết giữa người sử dụng lao động
với người được uỷ quyền hợp pháp thay mặt cho nhóm người lao
động; trong trường hợp này hợp đồng có hiệu lực như ký kết với
từng người.
3- Người
lao động có thể giao kết một hoặc nhiều hợp đồng lao động, với
một hoặc nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảm thực
hiện đầy đủ các hợp đồng đã giao kết.
4- Công
việc theo hợp đồng lao động phải do người giao kết thực hiện,
không được giao cho người khác, nếu không có sự đồng ý của
người sử dụng lao động.
Điều
31
Trong
trường hợp sáp nhập, phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền sở
hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp
thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp
tục thực hiện hợp đồng lao động với người lao động cho tới khi
hai bên thoả thuận sửa đổi, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc
giao kết hợp đồng lao động mới.
Điều
32
Người sử
dụng lao động và người lao động thoả thuận về việc làm thử,
thời gian thử việc, về quyền, nghĩa vụ của hai bên. Tiền lương
của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng
70% mức lương cấp bậc của công việc đó. Thời gian thử việc
không được quá 60 ngày đối với lao động chuyên môn kỹ thuật
cao và không được quá 30 ngày đối với lao động khác.
Trong
thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận làm thử
mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm
thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận. Khi việc làm
thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải nhận người lao
động vào làm việc chính thức như đã thoả thuận.
Điều
33
Hợp đồng
lao động có hiệu lực từ ngày giao kết hoặc từ ngày do hai bên
thoả thuận.
Trong
quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu
thay đổi nội dung hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước
ít nhất ba ngày. Việc thay đổi nội dung hợp đồng lao động có
thể được tiến hành bằng cách sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao
động đã giao kết hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.
Điều
34
1- Khi
gặp khó khăn đột xuất hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh,
người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao
động làm công việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60
ngày trong một năm.
2- Khi
tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề, người
sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít
nhất ba ngày, phải báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công
việc phù hợp với sức khoẻ và giới tính của người lao động.
3- Người
lao động tạm thời làm công việc khác theo quy định tại khoản 1
Điều này, được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương
của công việc mới thấp hơn tiền lương cũ thì được giữ nguyên
mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương
theo công việc mới ít nhất phải bằng 70% mức tiền lương cũ
nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy
định.
Điều
35
1- Hợp
đồng lao động được tạm hoãn thực hiện trong những trường hợp
sau đây:
a) Người
lao động đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc các nghĩa vụ công dân
khác do pháp luật quy định;
b) Người
lao động bị tạm giữ, tạm giam;
c) Các
trường hợp khác do hai bên thoả thuận.
2- Hết
thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động đối với các trường hợp
quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này, người sử dụng
lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc.
3- Việc
nhận lại người lao động bị tạm giữ, tạm giam khi hết thời gian
tạm hoãn hợp đồng lao động do Chính phủ quy định.
Điều
36
Hợp đồng
lao động chấm dứt trong những trường hợp sau đây:
1- Hết
hạn hợp đồng;
2- Đã
hoàn thành công việc theo hợp đồng;
3- Hai
bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng;
4- Người
lao động bị kết án tù giam hoặc bị cấm làm công việc cũ theo
quyết định của Toà án;
5- Người
lao động chết; mất tích theo tuyên bố của Toà án.
Điều
37
1- Người
lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ
một năm đến ba năm, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo
một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong những trường hợp
sau đây:
a) Không
được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không
được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thoả thuận trong hợp
đồng;
b) Không
được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn theo
hợp đồng;
c) Bị
ngược đãi; bị cưỡng bức lao động;
d) Bản
thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể
tiếp tục thực hiện hợp đồng;
đ) Được
bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được
bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy Nhà nước;
e) Người
lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy
thuốc.
2- Khi
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản
1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động
biết trước:
a) Đối
với các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c: ít nhất ba
ngày;
b) Đối
với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ: ít nhất ba
mươi ngày nếu là hợp đồng xác định thời hạn từ một năm đến ba
năm; ít nhất ba ngày nếu là hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một
công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm;
c) Đối
với trường hợp quy định tại điểm e: theo thời hạn quy định tại
Điều 112 của Bộ luật này.
3- Người
lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo
cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày.
Điều
38
1- Người
sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trong những trường hợp sau đây:
a) Người
lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp
đồng;
b) Người
lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85
của Bộ luật này;
c) Người
lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm
đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp
đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị sáu tháng
liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm
ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả
năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động
bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao
động;
d) Do
thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà
người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng
vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
đ) Doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.
2- Trước
khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo các điểm a, b
và c khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải trao đổi,
nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp
không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan lao động
biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải
chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp không nhất
trí với quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp hành
công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết
tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.
3- Khi
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định
tại điểm b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo
cho người lao động biết trước:
a) ít
nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời
hạn;
b) ít
nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ
một năm đến ba năm;
c) ít
nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một
công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.
Điều
39
Người sử
dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trong những trường hợp sau đây:
1- Người
lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc, trừ
trường hợp quy định tại điểm c và điểm đ khoản 1 Điều 38 của
Bộ luật này;
2- Người
lao động đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những
trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động cho phép;
3- Người
lao động là nữ trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều
111 của Bộ luật này.
Điều
40
Mỗi bên
có thể từ bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước
khi hết thời hạn báo trước. Khi hết thời hạn báo trước, mỗi
bên đều có quyền chấm dứt hợp đồng lao động.
Điều
41
1- Trong
trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại
làm việc và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền
lương trong những ngày người lao động không được làm việc.
Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc,
thì ngoài khoản tiền được bồi thường tương ứng với tiền lương
trong những ngày không được làm việc, người lao động còn được
trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật này.
2- Trong
trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc.
3- Trong
trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động thì phải bồi thường phí đào tạo nếu có, theo quy định của
Chính phủ.
4- Trong
trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu vi phạm
quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường
cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người
lao động trong những ngày không báo trước.
Điều
42
1- Khi
chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc
thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm
trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi
việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp
lương, nếu có.
2- Khi
chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại điểm a và điểm b
khoản 1 Điều 85 của Bộ luật này, người lao động không được trợ
cấp thôi việc.
Điều
43
Trong
thời hạn bảy ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai
bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan
đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài
nhưng không được quá 30 ngày.
Trong
trường hợp doanh nghiệp bị phá sản thì các khoản có liên quan
đến quyền lợi của người lao động được thanh toán theo quy định
của Luật phá sản doanh nghiệp.
Người sử
dụng lao động ghi lý do chấm dứt hợp đồng lao động vào sổ lao
động và có trách nhiệm trả lại sổ cho người lao động. Ngoài
các quy định trong sổ lao động, người sử dụng lao động không
được nhận xét thêm điều gì trở ngại cho người lao động tìm
việc làm mới.
CHươNG V
THỎA ưỚC LAO đỘNG TẬP THỂ
Điều
44
1- Thoả
ước lao động tập thể (sau đây gọi tắt là thoả ước tập thể) là
văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao
động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi
và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động.
Thoả ước
tập thể do đại diện của tập thể lao động và người sử dụng lao
động thương lượng và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình
đẳng và công khai.
2- Nội
dung thoả ước tập thể không được trái với các quy định của
pháp luật lao động và pháp luật khác.
Nhà nước
khuyến khích việc ký kết thoả ước tập thể với những quy định
có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật
lao động.
Điều
45
1- Đại
diện thương lượng thoả ước tập thể của hai bên gồm:
a) Bên
tập thể lao động là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc tổ chức
công đoàn lâm thời;
b) Bên
người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người
được uỷ quyền theo điều lệ tổ chức doanh nghiệp hoặc có giấy
uỷ quyền của Giám đốc doanh nghiệp.
Số lượng
đại diện thương lượng thoả ước tập thể của các bên do hai bên
thoả thuận nhưng phải ngang nhau.
2- Đại
diện ký kết của bên tập thể lao động là Chủ tịch Ban chấp hành
công đoàn cơ sở hoặc người có giấy uỷ quyền của Ban chấp hành
công đoàn. Đại diện ký kết của bên người sử dụng lao động là
Giám đốc doanh nghiệp hoặc người có giấy uỷ quyền của Giám đốc
doanh nghiệp.
3- Việc
ký kết thoả ước tập thể chỉ được tiến hành khi có trên 50% số
người của tập thể lao động trong doanh nghiệp tán thành nội
dung thoả ước đã thương lượng.
Điều
46
1- Mỗi
bên đều có quyền đề xuất yêu cầu ký kết và nội dung thoả ước
tập thể. Khi nhận được yêu cầu, bên nhận yêu cầu phải chấp
nhận việc thương lượng và phải thoả thuận thời gian bắt đầu
thương lượng chậm nhất 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
2- Nội
dung chủ yếu của thoả ước tập thể gồm những cam kết về việc
làm và bảo đảm việc làm; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương; định mức lao
động; an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội
đối với người lao động.
Điều
47
1- Thoả
ước tập thể đã ký kết phải làm thành 4 bản, trong đó:
a)
Một bản do người sử dụng lao động giữ;
b)
Một bản do Ban chấp hành công đoàn cơ sở giữ;
c)
Một bản do Ban chấp hành công đoàn cơ sở gửi công đoàn cấp
trên;
d)
Một bản do người sử dụng lao động gửi cơ quan lao động cấp
tỉnh chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày ký kết để đăng ký.
Những
doanh nghiệp có cơ sở ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương thì việc đăng ký thoả ước tập thể được tiến hành ở cơ
quan lao động cấp tỉnh nơi có trụ sở chính của doanh nghiệp.
2-
Thoả ước tập thể có hiệu lực kể từ ngày được cơ quan lao động
cấp tỉnh đăng ký. Chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản
thoả ước tập thể, cơ quan lao động cấp tỉnh phải thông báo
việc đăng ký. Nếu hết thời hạn trên mà không có thông báo thì
thoả ước tập thể đương nhiên có hiệu lực.
Điều 48
1-
Thoả ước tập thể bị coi là vô hiệu từng phần khi một hoặc một
số điều khoản trong thoả ước chưa được cơ quan lao động cấp
tỉnh chấp thuận, các điều khoản khác đã được đăng ký vẫn có
hiệu lực thi hành.
2-
Thoả ước tập thể thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị
coi là vô hiệu toàn bộ:
a)
Toàn bộ nội dung thoả ước trái pháp luật;
b)
Người ký kết thoả ước không đúng thẩm quyền;
c)
Không tiến hành theo đúng trình tự ký kết;
d)
Không đăng ký ở cơ quan lao động cấp tỉnh.
3-
Việc tuyên bố huỷ bỏ các thoả ước tập thể bị coi là vô hiệu
trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, thuộc
thẩm quyền của cơ quan lao động cấp tỉnh. Đối với các thoả ước
tập thể trong các trường hợp quy định tại các điểm b, c và d
khoản 2 Điều này, nếu nội dung đã ký kết có lợi cho người lao
động thì cơ quan lao động cấp tỉnh hướng dẫn để các bên làm
lại cho đúng quy định, nếu không làm lại thì bị cơ quan lao
động cấp tỉnh tuyên bố huỷ bỏ.
Điều 49
1-
Khi thoả ước tập thể đã có hiệu lực, người sử dụng lao động
phải thông báo cho mọi người lao động trong doanh nghiệp biết.
Mọi người trong doanh nghiệp, kể cả người vào làm việc sau
ngày ký kết đều có trách nhiệm thực hiện đầy đủ thoả ước tập
thể.
2-
Trong trường hợp quyền lợi của người lao động đã thoả thuận
trong hợp đồng lao động thấp hơn so với thoả ước tập thể, thì
phải thực hiện những điều khoản tương ứng của thoả ước tập
thể. Mọi quy định về lao động trong doanh nghiệp phải được sửa
đổi cho phù hợp với thoả ước tập thể.
3-
Khi một bên cho rằng bên kia thi hành không đầy đủ hoặc vi
phạm thoả ước tập thể, thì có quyền yêu cầu thi hành đúng thoả
ước và hai bên phải cùng nhau xem xét giải quyết; nếu không
giải quyết được, mỗi bên đều có quyền yêu cầu giải quyết tranh
chấp lao động tập thể theo trình tự do pháp luật quy định.
Điều 50
Thoả
ước tập thể được ký kết với thời hạn từ một năm đến ba năm.
Đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thoả ước tập thể, thì
có thể ký kết với thời hạn dưới một năm.
Chỉ
sau ba tháng thực hiện, kể từ ngày có hiệu lực đối với thoả
ước tập thể thời hạn dưới một năm và sau sáu tháng đối với
thoả ước tập thể thời hạn từ một năm đến ba năm, các bên mới
có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thoả ước. Việc sửa đổi, bổ
sung được tiến hành theo trình tự như ký kết thoả ước tập thể.
|