LuẬt
của Quốc hội số 35/2002/QH10 ngày 02
tháng 4 năm 2002
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động
Căn cứ vào Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung
theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X,
kỳ họp thứ 10;
Luật này sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp
thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994.
Điều 1
Sửa
đổi, bổ sung Lời nói đầu và một số điều của Bộ luật lao động:
1.
Đoạn cuối của Lời nói đầu được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Bộ
luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao
động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động,
tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định, góp phần phát
huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và lao động chân tay,
của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội
trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động,
góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh."
2.
Điều 18 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
18
1-
Tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người
lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động và nhiệm vụ khác theo quy
định của pháp luật.
Chính
phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu
việc làm.
2-
Tổ chức giới thiệu việc làm được thu phí, được Nhà nước xét giảm, miễn thuế và
được tổ chức dạy nghề theo các quy định tại Chương III của Bộ luật này.
3-
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước đối với các tổ
chức giới thiệu việc làm."
3.
Điều 27 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
27
1-
Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a)
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Hợp
đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác
định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
b)
Hợp đồng lao động xác định thời hạn.
Hợp
đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời
hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12
tháng đến 36 tháng;
c)
Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn
dưới 12 tháng.
2-
Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà
người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp
đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký
kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động
không xác định thời hạn. Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp
đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm một thời hạn, sau đó nếu người
lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định
thời hạn.
3-
Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất
định mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên
từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi
làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm
thời khác."
4.
Khoản 3 Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"3-
Trong trường hợp phát hiện hợp đồng lao động có nội dung quy định tại khoản 2
Điều này, thì Thanh tra lao động hướng dẫn và yêu cầu các bên sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp. Nếu các bên không sửa đổi, bổ sung thì Thanh tra lao động có quyền
buộc huỷ bỏ các nội dung đó; quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên được giải
quyết theo quy định của pháp luật."
5.
Điều 31 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
31
Trong
trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu,
quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao
động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với
người lao động. Trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có thì phải
có phương án sử dụng lao động theo quy định của pháp luật.
Người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động theo quy
định tại Điều này, được trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 17
của Bộ luật này."
6.
Điều 33 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
33
1-
Hợp đồng lao động có hiệu lực từ ngày giao kết hoặc từ ngày do hai bên thoả
thuận hoặc từ ngày người lao động bắt đầu làm việc.
2-
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu thay đổi
nội dung hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất ba ngày. Việc
thay đổi nội dung hợp đồng lao động được tiến hành bằng cách sửa đổi, bổ sung
hợp đồng lao động đã giao kết hoặc giao kết hợp đồng lao động mới. Trường hợp
hai bên không thoả thuận được việc sửa đổi, bổ sung hoặc giao kết hợp đồng lao
động mới thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết hoặc chấm dứt
theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật này."
7.
Điều 37 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
37
1-
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng
đến 36 tháng, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
trong những trường hợp sau đây:
a)
Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo
đảm các điều kiện làm việc đã thoả thuận trong hợp đồng;
b)
Không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn đã thoả thuận
trong hợp đồng;
c)
Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động;
d)
Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực
hiện hợp đồng;
đ)
Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ
chức vụ trong bộ máy nhà nước;
e)
Người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc;
g)
Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị ba tháng liền đối với người làm
việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và
một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động
theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả
năng lao động chưa được hồi phục.
2-
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này,
người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:
a)
Đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g: ít nhất ba ngày;
b)
Đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ: ít nhất 30 ngày nếu là
hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; ít nhất ba ngày nếu là
hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12
tháng;
c)
Đối với trường hợp quy định tại điểm e: theo thời hạn quy định tại Điều 112 của
Bộ luật này.
3-
Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động
biết trước ít nhất 45 ngày; người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị sáu
tháng liền thì phải báo trước ít nhất ba ngày."
8.
Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
38
1-
Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong
những trường hợp sau đây:
a)
Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;
b) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định
tại Điều 85 của Bộ luật này;
c)
Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã
điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời
hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người lao
động làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
có thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao
động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình
phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;
d)
Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính
phủ, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc
phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
đ)
Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.
2-
Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo các điểm a, b và c khoản 1
Điều này, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công
đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước
về lao động địa phương biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và
phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp không nhất trí với
quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người
lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp
luật quy định.
3- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường
hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho
người lao động biết trước:
a)
ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b)
ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến
36 tháng;
c)
ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc
nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."
9.
Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
41
1-
Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng
đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp
lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít
nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).
Trong
trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền
được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, người lao động còn được trợ cấp
theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này.
Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận
người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền
bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Điều 42 của Bộ
luật này, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động
để chấm dứt hợp đồng lao động.
2-
Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp
luật thì không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao
động nửa tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).
3-
Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải
bồi thường chi phí đào tạo (nếu có) theo quy định của Chính phủ.
4- Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường
cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong
những ngày không báo trước."
10.
Khoản 1 Điều 45 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"1-
Đại diện thương lượng thoả ước tập thể của hai bên gồm:
a)
Bên tập thể lao động là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công
đoàn lâm thời;
b)
Bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền
theo điều lệ tổ chức doanh nghiệp hoặc có giấy ủy quyền của Giám đốc doanh
nghiệp.
Số lượng đại diện thương lượng thoả ước tập thể của các
bên do hai bên thoả thuận."
11.
Điều 47 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
47
1-
Thoả ước tập thể đã ký kết phải làm thành bốn bản, trong đó:
a) Một bản do người sử dụng lao động giữ;
b) Một bản do Ban chấp hành công đoàn cơ sở giữ;
c) Một bản do Ban chấp hành công đoàn cơ sở gửi công
đoàn cấp trên;
d) Một bản do người sử dụng lao động gửi đăng ký tại
cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi
đặt trụ sở chính của doanh nghiệp chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày ký.
2- Thoả ước tập thể có hiệu lực từ ngày hai bên thoả
thuận ghi trong thoả ước, trường hợp hai bên không thoả thuận thì thoả ước có
hiệu lực kể từ ngày ký."
12. Điều 48 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 48
1- Thoả ước tập thể bị coi là vô hiệu từng phần khi
một hoặc một số điều khoản trong thoả ước trái với quy định của pháp luật.
2- Thoả ước thuộc một trong các trường hợp sau đây bị
coi là vô hiệu toàn bộ:
a) Toàn bộ nội dung thoả ước trái pháp luật;
b) Người ký kết thoả ước không đúng thẩm quyền;
c) Không tiến hành theo đúng trình tự ký kết.
3- Cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương có quyền tuyên bố thoả ước tập thể vô hiệu từng phần
hoặc vô hiệu toàn bộ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Đối với các
thoả ước tập thể trong các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2
Điều này, nếu nội dung đã ký kết có lợi cho người lao động thì cơ quan quản lý
nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn để các bên
làm lại cho đúng quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hướng
dẫn; nếu không làm lại thì bị tuyên bố vô hiệu. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của
các bên ghi trong thoả ước bị tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo quy định
của pháp luật."
13. Khoản 1 Điều 52 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"1- Trong trường hợp sáp
nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý,
quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động và Ban chấp
hành công đoàn cơ sở căn cứ vào phương án sử dụng lao động để xem xét việc tiếp
tục thực hiện, sửa đổi, bổ sung hoặc ký thoả ước tập thể mới."
14. Điều 57 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 57
Sau khi tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động
Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động, Chính phủ quy định các nguyên
tắc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động để người sử dụng lao
động xây dựng và áp dụng phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp; quy định thang lương, bảng lương đối với doanh nghiệp nhà nước.
Khi xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao
động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ
sở; thang lương, bảng lương phải được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính của người sử dụng lao động và công
bố công khai trong doanh nghiệp."
15. Điều 61 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 61
1- Người lao động làm thêm giờ được trả lương theo đơn
giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm như sau:
a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
b) Vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200%;
c) Vào ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất
bằng 300%.
Nếu làm thêm giờ vào ban đêm thì còn được trả thêm
theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Nếu người lao động được nghỉ bù những giờ làm thêm,
thì người sử dụng lao động chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lương
tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm của ngày
làm việc bình thường.
2- Người lao động làm việc vào ban đêm quy định tại
Điều 70 của Bộ luật này, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính
theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm vào ban
ngày."
16. Điều 64 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 64
Căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh hàng năm của
doanh nghiệp và mức độ hoàn thành công việc của người lao động, người sử dụng
lao động thưởng cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp.
Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định
sau khi tham khảo ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ sở."
17. Điều 66 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 66
Trong trường hợp sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử
dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu
trách nhiệm trả lương và các quyền lợi khác cho người lao động từ doanh nghiệp
cũ chuyển sang. Trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản thì tiền lương, trợ
cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động theo
thoả ước tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết là khoản nợ trước hết trong thứ
tự ưu tiên thanh toán."
18. Điều 69 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 69
Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả
thuận làm thêm giờ, nhưng không quá bốn giờ trong một ngày, 200 giờ trong một
năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không được quá 300 giờ trong
một năm do Chính phủ quy định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn lao
động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động."
19. Khoản 1 Điều 84 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"1- Người vi phạm kỷ luật lao động, tuỳ theo mức
độ phạm lỗi, bị xử lý theo một trong những hình thức sau đây:
a) Khiển trách;
b) Kéo dài thời hạn nâng lương không quá sáu tháng
hoặc chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là
sáu tháng hoặc cách chức;
c) Sa thải."
20. Điều 85 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 85
1- Hình thức xử lý kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng
trong những trường hợp sau đây:
a) Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ
bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về
tài sản, lợi ích của doanh nghiệp;
b) Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn
nâng lương, chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ
luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm;
c) Người lao động tự ý bỏ việc năm ngày cộng dồn trong
một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm mà không có lý do chính đáng.
2- Sau khi sa thải người lao động, người sử dụng lao
động phải báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương biết."
21. Điều 88 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 88
1- Người bị khiển trách sau ba tháng và người bị xử lý
kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc chuyển làm công việc khác sau sáu
tháng, kể từ ngày bị xử lý, nếu không tái phạm thì đương nhiên được xoá kỷ
luật.
2- Người bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương
hoặc chuyển làm công việc khác sau khi chấp hành được một nửa thời hạn, nếu sửa
chữa tiến bộ, thì được người sử dụng lao động xét giảm thời hạn."
22. Khoản 2 Điều 96 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"2- Việc sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển
các loại máy, thiết bị, vật tư, năng lượng, điện, hoá chất, thuốc bảo vệ thực
vật, việc thay đổi công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới phải được thực hiện theo
tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động. Các loại máy, thiết bị, vật tư,
các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động phải được
đăng ký và kiểm định theo quy định của Chính phủ."
23. Khoản 3 Điều 107 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"3- Người sử dụng lao động
có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 tháng tiền lương và phụ cấp lương
(nếu có) cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc
cho thân nhân người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của
người lao động. Trong trường hợp do lỗi của người lao động thì cũng được trợ
cấp một khoản tiền ít nhất cũng bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu
có).
Chính phủ quy định trách nhiệm của người sử dụng lao
động và mức bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động bị
suy giảm khả năng lao động từ 5% đến dưới 81%."
24. Khoản 3 Điều 111 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"3- Người sử dụng lao động không được sa thải
hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do
kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp
doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
Trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ
dưới 12 tháng tuổi, người lao động nữ được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật lao động, trừ trường
hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động."
25. Điều 121 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 121
Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động
chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát
triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao
động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong
quá trình lao động.
Cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những
công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm
việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ theo Danh mục do Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành."
26. Khoản 2 Điều 129 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"2- Người lao động được hưởng các quyền lợi và có
nghĩa vụ liên quan đến các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,
các đối tượng sở hữu công nghiệp khác do mình tạo ra hoặc cùng tạo ra trong quá
trình thực hiện hợp đồng lao động theo pháp luật sở hữu công nghiệp, phù hợp
với hợp đồng đã ký."
27. Điều 132 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 132
1- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trực
tiếp tuyển lao động Việt Nam hoặc thông qua tổ chức giới thiệu việc làm và phải
thông báo danh sách lao động đã tuyển được với cơ quan quản lý nhà nước về lao
động địa phương.
Đối với công việc đòi hỏi kỹ thuật cao hoặc công việc
quản lý mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được, thì doanh nghiệp được tuyển một
tỷ lệ lao động nước ngoài cho một thời hạn nhất định nhưng phải có chương
trình, kế hoạch đào tạo người lao động Việt Nam để sớm làm được công việc đó và
thay thế họ theo quy định của Chính phủ.
2- Các cơ quan, tổ chức quốc tế hoặc nước ngoài, cá
nhân là người nước ngoài tại Việt Nam được tuyển dụng lao động Việt Nam, lao
động nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
3- Mức lương tối thiểu đối với người lao động là người
Việt Nam làm việc trong các trường hợp quy định tại Điều 131 của Bộ luật này do
Chính phủ quy định và công bố sau khi lấy ý kiến của Tổng liên đoàn lao động
Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động.
4- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao
động, vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, việc giải quyết tranh chấp lao động
trong các doanh nghiệp, tổ chức và các trường hợp khác quy định tại Điều 131
được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và của các văn bản pháp luật khác
có liên quan."
28. Khoản 1 Điều 133 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"1- Người nước ngoài làm việc từ đủ ba tháng trở
lên cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam phải có giấy phép lao
động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương cấp; thời hạn giấy phép lao động theo thời hạn hợp đồng lao động, nhưng
không quá 36 tháng và có thể được gia hạn theo đề nghị của người sử dụng lao
động."
29. Điều 134 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 134
1- Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp, cơ quan, tổ
chức, cá nhân tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động nhằm tạo việc làm ở nước
ngoài cho người lao động Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp
với pháp luật nước sở tại và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
2- Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng
lao động, tự nguyện và có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện khác theo pháp luật Việt
Nam, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của bên nước ngoài thì được đi làm việc ở
nước ngoài."
30. Bổ sung Điều 134a như sau:
"Điều 134a
Các hình thức đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài gồm có:
1- Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước
ngoài;
2- Đưa lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu,
khoán công trình ở nước ngoài;
3- Đưa lao động đi làm việc theo các dự án đầu tư ở
nước ngoài;
4- Các hình thức khác theo quy định của pháp
luật."
31. Điều 135 được sửa đổi, bổ sung như sau:
''Điều 135
1- Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động phải có
giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước về lao động có thẩm quyền.
2- Doanh nghiệp hoạt động xuất
khẩu lao động có những quyền và nghĩa vụ sau:
a) Phải đăng ký hợp đồng xuất khẩu lao động với cơ
quan quản lý nhà nước về lao động có thẩm quyền;
b) Khai thác thị trường, ký kết hợp đồng với bên nước
ngoài;
c) Công bố công khai các tiêu chuẩn, điều kiện tuyển
chọn, quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động;
d) Trực tiếp tuyển chọn lao động và không được thu phí
tuyển chọn của người lao động;
đ) Tổ chức việc đào tạo, giáo dục định hướng cho người
lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật;
e) Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với người lao
động; tổ chức cho người lao động đi và về nước theo đúng hợp đồng đã ký và quy
định của pháp luật;
g) Trực tiếp thu phí xuất khẩu lao động, đóng tiền vào
quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động theo quy định của Chính phủ;
h) Quản lý và bảo vệ quyền lợi
của người lao động trong thời gian làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài phù hợp
với pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại;
i) Bồi thường thiệt hại cho người lao động do doanh
nghiệp vi phạm hợp đồng gây ra;
k) Khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do người lao
động vi phạm hợp đồng gây ra;
l) Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các
hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động.
3- Doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài để thực hiện hợp đồng nhận thầu, khoán công trình và dự án
đầu tư ở nước ngoài phải đăng ký hợp đồng với cơ quan quản lý nhà nước về lao
động có thẩm quyền và thực hiện quy định tại các điểm c, d, đ, e, h, i, k và l
khoản 2 Điều này.
4- Chính phủ quy định cụ thể về việc người lao động có
hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài không thông qua doanh nghiệp."
32. Bổ sung Điều 135a như sau:
"Điều 135a
1- Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có những
quyền và nghĩa vụ sau:
a) Được cung cấp các thông tin liên quan tới chính
sách, pháp luật về lao động, điều kiện tuyển dụng, quyền lợi và nghĩa vụ của
người lao động làm việc ở ngoài nước;
b) Được đào tạo, giáo dục định hướng trước khi đi làm
việc ở nước ngoài;
c) Ký và thực hiện đúng hợp đồng;
d) Được bảo đảm các quyền lợi trong hợp đồng đã ký
theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại;
đ) Tuân thủ pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại
và tôn trọng phong tục, tập quán nước sở tại;
e) Được bảo hộ về lãnh sự và tư pháp;
g) Nộp phí về xuất khẩu lao động;
h) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với cơ quan có thẩm
quyền của Nhà nước Việt Nam hoặc của nước sở tại về các vi phạm của doanh
nghiệp xuất khẩu lao động và người sử dụng lao động nước ngoài;
i) Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra;
k) Được bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp vi phạm
hợp đồng gây ra.
2- Người lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc các
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 135 có những quyền và nghĩa vụ quy định
tại các điểm a, b, c, d, đ, e, h, i và k khoản 1 Điều này."
33. Bổ sung Điều 135b như sau:
"Điều 135b
Chính phủ quy định cụ thể việc đào tạo lao động xuất
khẩu; tổ chức, quản lý lao động ở nước ngoài và việc thành lập, quản lý và sử
dụng Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động."
34. Bổ sung Điều 135c như sau:
"Điều 135c
1- Nghiêm cấm việc tuyển và đưa người lao động ra nước
ngoài làm việc trái pháp luật.
2- Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân lợi dụng xuất khẩu
lao động để tuyển chọn, đào tạo, tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm
việc trái pháp luật thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại
thì phải bồi thường cho người lao động.
3- Người lao động lợi dụng việc
đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện mục đích khác thì bị xử lý theo quy định
của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường."
35. Khoản 1 Điều 140 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"1- Nhà nước quy định chính sách bảo hiểm xã hội
nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc, phục hồi
sức khoẻ, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các
trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác.
Chính phủ quy định cụ thể việc
đào tạo lại đối với người lao động thất nghiệp, tỷ lệ đóng bảo hiểm thất
nghiệp, điều kiện và mức trợ cấp thất nghiệp, việc thành lập, quản lý và sử
dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp."
36. Điều 141 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 141
1- Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối
với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng
lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định
thời hạn. ở những doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này, người sử dụng lao động,
người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật
này và người lao động được hưởng các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội ốm đau, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và tử tuất.
2- Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao
động có thời hạn dưới ba tháng thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền
lương do người sử dụng lao động trả theo quy định của Chính phủ, để người lao
động tham gia bảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo
hiểm. Khi hết hạn hợp đồng lao động mà người lao động tiếp tục làm việc hoặc
giao kết hợp đồng lao động mới, thì áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
theo quy định tại khoản 1 Điều này."
37. Điều 144 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 144
1- Trong thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại
Điều 114 của Bộ luật này, người lao động nữ đã đóng bảo hiểm xã hội được trợ
cấp bảo hiểm xã hội bằng 100% tiền lương và được trợ cấp thêm một tháng lương.
2- Các chế độ khác của người lao động nữ được áp dụng
theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật này."
38. Bổ sung khoản 1a vào Điều 145 như sau:
"1a- Lao động nữ đủ 55 tuổi và đủ 25 năm đóng bảo
hiểm xã hội, lao động nam đủ 60 tuổi và đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội được
hưởng cùng tỷ lệ lương hưu hàng tháng tối đa do Chính phủ quy định."
39. Điều 148 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 148
Các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,
diêm nghiệp có trách nhiệm tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, phù hợp với
đặc điểm sản xuất và sử dụng lao động trong từng ngành theo quy định của Chính
phủ."
40. Điều 149 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 149
1- Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn
sau đây:
a) Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng
quỹ tiền lương;
b) Người lao động đóng bằng 5% tiền lương;
c) Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện
các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động;
d) Tiền sinh lời của quỹ;
đ) Các nguồn khác.
2- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân
chủ và công khai theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được
Nhà nước bảo hộ. Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn
giá trị và tăng trưởng theo quy định của Chính phủ."
41. Khoản 2 Điều 151 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"2- Tranh chấp về bảo hiểm xã hội:
a) Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao
động được giải quyết theo các quy định tại Chương XIV của Bộ luật này;
b) Tranh chấp giữa người lao động đã nghỉ việc theo
chế độ với người sử dụng lao động hoặc với cơ quan bảo hiểm xã hội, giữa người
sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội do hai bên thoả thuận; nếu không
thoả thuận được thì do Toà án nhân dân giải quyết."
42. Điều 153 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 153
1- ở những doanh nghiệp đang hoạt động chưa có tổ chức
công đoàn thì chậm nhất sau sáu tháng, kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật lao động có hiệu lực và ở những doanh nghiệp mới thành lập thì
sau sáu tháng kể từ ngày bắt đầu hoạt động, công đoàn địa phương, công đoàn
ngành có trách nhiệm thành lập tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp để đại diện,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và tập thể lao động.
Người sử dụng lao động có trách
nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức công đoàn sớm được thành lập. Trong
thời gian chưa thành lập được thì công đoàn địa phương hoặc công đoàn ngành chỉ
định Ban chấp hành công đoàn lâm thời để đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người lao động và tập thể lao động.
Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thành lập và hoạt
động công đoàn tại doanh nghiệp.
2- Chính phủ hướng dẫn thực hiện khoản 1 Điều này sau
khi thống nhất với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam."
43. Điều 163 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 163
1- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở phải được thành
lập trong các doanh nghiệp có công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm
thời gồm số đại diện ngang nhau của bên người lao động và bên người sử dụng lao
động. Số lượng thành viên của Hội đồng do hai bên thoả thuận.
2- Nhiệm kỳ của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở là
hai năm. Đại diện của mỗi bên luân phiên làm Chủ tịch và Thư ký Hội đồng. Hội
đồng hoà giải lao động cơ sở làm việc theo nguyên tắc thoả thuận và nhất trí.
3- Người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện cần thiết
cho hoạt động của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở."
44. Khoản 3 Điều 164 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"3- Trong trường hợp hoà
giải không thành hoặc một bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai theo giấy
triệu tập hợp lệ mà không có lý do chính đáng, thì Hội đồng hoà giải lao động
cơ sở lập biên bản hoà giải không thành. Bản sao biên bản phải được gửi cho hai
bên tranh chấp trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày hoà giải không thành. Mỗi bên
tranh chấp đều có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết tranh chấp. Hồ sơ
gửi Toà án nhân dân phải kèm theo biên bản hoà giải không thành."
45. Khoản 1 Điều 165 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"1- Hoà giải viên lao động tiến hành việc hoà
giải theo trình tự quy định tại Điều 164 của Bộ luật này đối với các tranh chấp
lao động cá nhân xảy ra ở nơi chưa thành lập Hội đồng hoà giải lao động cơ sở,
tranh chấp về thực hiện hợp đồng học nghề và chi phí dạy nghề."
46. Điều 166 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 166
1- Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động
cá nhân mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động hoà giải không
thành hoặc Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động không giải
quyết trong thời hạn quy định.
2- Toà án nhân dân giải quyết những tranh chấp lao
động cá nhân sau đây mà không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức
sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Tranh chấp về bồi thường thiệt
hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người
sử dụng lao động;
d) Tranh chấp về bảo hiểm xã hội quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 151 của Bộ luật này;
đ) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao
động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
3- Người lao động được miễn án phí trong các hoạt động
tố tụng để đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã
hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, để giải quyết những
vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái
pháp luật.
4- Khi xét xử, nếu Toà án nhân dân phát hiện hợp đồng
lao động trái với thoả ước tập thể, pháp luật lao động; thoả ước tập thể trái
với pháp luật lao động thì tuyên bố hợp đồng lao động, thoả ước tập thể vô hiệu
từng phần hoặc toàn bộ.
Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên ghi trong hợp
đồng lao động, thoả ước tập thể bị tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo quy
định của pháp luật.
5- Chính phủ quy định cụ thể việc giải quyết hậu quả
đối với các trường hợp hợp đồng lao động, thoả ước tập thể bị tuyên bố vô hiệu
quy định tại khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 48 và khoản 4 Điều này."
47. Điều 167 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 167
1- Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân, kể từ ngày mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích bị vi phạm được
quy định như sau:
a) Một năm, đối với các tranh chấp lao động quy định
tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 166;
b) Một năm, đối với tranh chấp quy định tại điểm d
khoản 2 Điều 166;
c) Ba năm, đối với tranh chấp quy định tại điểm đ
khoản 2 Điều 166;
d) Sáu tháng, đối với các loại tranh chấp lao động
khác.
2- Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
tập thể là một năm, kể từ ngày mà mỗi
bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm."
48. Điều 181 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 181
1- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động
trong phạm vi cả nước.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động.
Bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm phối hợp với Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội để thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nước
về lao động.
2- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước
về lao động trong phạm vi địa phương mình. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động
địa phương giúp ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về lao động theo sự
phân cấp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
3- Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và công đoàn các
cấp tham gia giám sát việc quản lý nhà nước về lao động theo quy định cuả pháp
luật.
4- Đại diện của người sử dụng lao động, người sử dụng
lao động tham gia ý kiến với các cơ quan nhà nước về chính sách, pháp luật và
các vấn đề có liên quan tới quan hệ lao động theo quy định của Chính phủ."
49. Điều 182 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 182
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày doanh nghiệp bắt
đầu hoạt động, người sử dụng lao động phải khai trình việc sử dụng lao động và
trong quá trình hoạt động phải báo cáo tình hình thay đổi về nhân công với cơ
quan quản lý nhà nước về lao động địa phương theo quy định của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày doanh nghiệp chấm dứt
hoạt động, người sử dụng lao động phải báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước về
lao động địa phương về việc chấm dứt sử dụng lao động.
Người sử dụng lao động phải lập sổ lao động, sổ lương,
sổ bảo hiểm xã hội."
50. Điều 183 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 183
Người lao động được cấp sổ lao động, sổ bảo hiểm xã
hội theo quy định của pháp luật."
51. Điều 184 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 184
1- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thống nhất quản
lý nhà nước về xuất khẩu lao động.
2- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương thực hiện quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trong phạm vi địa phương.
3- Cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài vào Việt
Nam làm việc, theo quy định tại khoản 1 Điều 133 của Bộ luật này."
52. Điều 185 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 185
Thanh tra nhà nước về lao động có chức năng thanh tra
chính sách lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và cơ quan quản lý
nhà nước về lao động địa phương thực hiện thanh tra nhà nước về lao động."
53. Điều 186 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 186
Thanh tra nhà nước về lao động có các nhiệm vụ chủ yếu
sau:
1- Thanh tra việc chấp hành các quy định về lao động,
an toàn lao động và vệ sinh lao động;
2- Điều tra tai nạn lao động và những vi phạm tiêu
chuẩn vệ sinh lao động;
3- Tham gia xây dựng và hướng dẫn áp dụng hệ thống
tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động;
4- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy
định của pháp luật;
5- Xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị các cơ quan có
thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật lao động."
54. Khoản 2 Điều 191 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"2- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách
nhiệm lập hệ thống tổ chức thanh tra nhà nước về lao động; quy định tiêu chuẩn
tuyển chọn, bổ nhiệm, thuyên chuyển, miễn nhiệm, cách chức thanh tra viên; cấp
thẻ thanh tra viên; quy định chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất và các chế độ,
thủ tục cần thiết khác."
55. Bổ sung Mục Va trong Chương XI:
"Lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài"
gồm các điều 134, 134a, 135, 135a, 135b và 135c.
56. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều như
sau:
a) Cụm từ "dịch vụ việc làm" trong các điều
10, 15 và 16 được sửa thành "giới thiệu việc làm".
b) Cụm từ "một năm trở lên" trong Điều 17 và
Điều 42 được sửa thành "đủ 12 tháng trở lên";
c) Cụm từ "phí dạy nghề" trong khoản 3 Điều
24 được sửa thành "chi phí dạy nghề";
d) Đổi tên Mục V Chương XI thành "Lao động cho
các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài lao động tại
Việt Nam";
đ) Cụm từ "khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều
này" trong khoản 4 Điều 145 được sửa thành "khoản 1, khoản 1a, khoản
2, khoản 3 Điều này";
e) Cụm từ "cơ quan lao động địa phương" và
cụm từ "cơ quan lao động cấp tỉnh" trong các điều 17, 82, 162 và 169
được sửa thành "cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương" và
"cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương".
Điều 2
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2003.
Điều 3
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật này.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X,
kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002.