|
- Căn cứ Nghị định số
38/CP ngày 4/6/1993 của Chính phủ về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư
pháp;
- Căn cứ Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12 tháng
12 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh luật sư (sau đây gọi tắt là Nghị
định);
1. Về đào tạo nghề luật sư 1.1 Chương trình đào tạo nghề luật sư bao gồm
những nội dung sau đây:
a) Pháp luật về hành nghề luật sư;
b) Kỹ năng tranh tụng;
c) Kỹ năng tư vấn pháp luật;
d) Quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp
luật sư.
Chương trình chuẩn về đào tạo nghề luật sư
do Bộ Tư pháp ban hành.
1.2 Việc đào tạo nghề luật sư được thực hiện
bằng hình thức đào tạo tập trung theo quy hoạch,
kế hoạch và chương trình chuẩn về đào tạo
nghề luật sư của Bộ Tư pháp.
Trường Đào tạo các chức danh tư pháp của Bộ
Tư pháp có nhiệm vụ thực hiện việc đào tạo
nghề luật sư ở Việt Nam. Tổ chức xã hội- nghề
nghiệp của luật sư có thể tham gia đào tạo nghề
luật sư khi có đủ điều kiện được Bộ Tư
pháp chấp thuận.
1.3 Vụ Quản lý luật sư, tư vấn pháp luật chủ
trì phối hợp với Trường Đào tạo các chức
danh tư pháp xây dựng và trình Bộ trưởng quyết
định quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm
về đào tạo nghề luật sư.
1.4 Người tốt nghiệp khoá đào tạo nghề luật
sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp
Chứng chỉ tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư
theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định.
1.5 Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề
luật sư ở nước ngoài được công nhận ở Việt
Nam, nếu khoá đào tạo nghề luật sư ở nước
ngoài có các nội dung quy định tại điểm 1.1 của
Thông tư này và có thời gian đào tạo ít nhất
là 6 tháng.
Khi người xin gia nhập Đoàn luật sư có giấy chứng
nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư ở nước
ngoài thì Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư có văn bản
đề nghị Bộ Tư pháp công nhận giấy chứng nhận
đó. Kèm theo văn bản đề nghị phải có bản sao
giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật
sư ở nước ngoài và các giấy tờ chứng minh về
nội dung, thời gian đào tạo. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị
của Đoàn luật sư, Vụ quản lý luật sư, tư vấn
pháp luật của Bộ Tư pháp có văn bản trả lời
về việc công nhận giấy chứng nhận tốt nghiệp
đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài.
2. Về quy chế kiểm tra hết tập sự hành nghề
luật sư
2.1 Nội dung kiểm tra hết tập sự hành nghề luật
sư bao gồm:
a) Kỹ năng tư vấn pháp luật;
b) Kỹ năng tranh tụng;
c) Quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp
luật sư.
2.2 Hình thức kiểm tra hết tập sự hành nghề
luật sư bao gồm:
a) Kiểm tra viết;
b) Kiểm tra thực hành.
2.3 Việc tổ chức kiểm tra hết tập sự hành nghề
luật sư được thực hiện định kỳ mỗi quý
1 lần.
Chậm nhất là ngày 15 của tháng cuối quý, Ban chủ
nhiệm Đoàn luật sư lập danh sách luật sư tập
sự hết thời hạn tập sự vào quý tiếp theo gửi
Bộ Tư pháp.
Căn cứ vào số lượng luật sư tập sự do các
Đoàn luật sư đề nghị, Bộ Tư pháp quyết định
tổ chức kiểm tra hết tập sự theo khu vực và
thông báo danh sách luật sư tập sự được tham
dự kiểm tra, thời gian, địa điểm kiểm tra cho
các Đoàn luật sư trong khu vực.
Luật sư tập sự của Đoàn luật sư ngoài khu vực
kiểm tra đã hoàn thành thời gian tập sự, nếu
có nguyện vọng và được Đoàn luật sư đó giới
thiệu cũng có thể được tham dự kiểm tra.
2.4 Hội đồng kiểm tra được thành lập theo quyết
định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Thành phần
Hội đồng kiểm tra gồm có:
a) Đại diện của Bộ Tư pháp làm Chủ tịch Hội
đồng kiểm tra;
b) Các luật sư có trình độ và uy tín nghề nghiệp
do Bộ Tư pháp chỉ định theo sự giới thiệu của
các Đoàn luật sư trong khu vực;
c) Đại diện Sở Tư pháp của địa phương nơi
tổ chức kiểm tra là chuyên gia pháp lý am hiểu
nghề luật sư;
d) Đại diện Hội luật gia của một trong các địa
phương trong khu vực là chuyên gia pháp lý am hiểu
nghề luật sư;
đ) Đại diện Trường Đào tạo các chức danh tư
pháp.
Giúp việc cho Hội đồng kiểm tra có Tổ thư ký
do Chủ tịch Hội đồng kiểm tra quyết định.
2.5. Hội đồng kiểm tra có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Hướng dẫn thể lệ, quy chế kiểm tra;
b) Hướng dẫn nội dung kiểm tra và tài liệu tham
khảo;
c) Tổ chức, tiến hành kiểm tra và cho điểm kiểm
tra;
d) Công bố điểm kiểm tra và thông báo kết quả
kiểm tra cho các Đoàn luật sư có luật sư tập
sự tham dự kỳ kiểm tra.
2.6. Chủ tịch Hội đồng kiểm tra điều hành việc
kiểm tra, chọn và niêm phong đề kiểm tra, cử
thành viên của Hội đồng tiến hành kiểm tra và
cho điểm.
2.7 Điểm bài kiểm tra viết và bài kiểm tra thực
hành được tính theo thang điểm 10. Luật sư tập
sự đạt yêu cầu kiểm tra hết tập sự phải
có số điểm mỗi bài kiểm tra đạt từ 5 điểm
trở lên.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày công bố kết
quả kiểm tra, luật sư tập sự có thể khiếu
nại về kết quả kiểm tra. Chủ tịch Hội đồng
kiểm tra giải quyết khiếu nại về kết quả kiểm
tra trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được
đơn khiếu nại và trả lời bằng văn bản cho
người khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Hội
đồng kiểm tra, người khiếu nại có quyền khiếu
nại tiếp lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Quyết định
giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp là quyết định cuối cùng.
3. Về việc sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật
sư, Thẻ luật sư
3.1 Chứng chỉ hành nghề luật sư là giấy chứng
nhận của Nhà nước về quyền hành nghề luật
sư của người được cấp Chứng chỉ. Người
là thành viên chính thức của Đoàn luật sư mới
được sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư
để hành nghề luật sư. Số của Chứng chỉ hành
nghề luật sư được ghi trong Thẻ luật sư.
3.2 Người có Chứng chỉ hành nghề luật sư không
được sử dụng Chứng chỉ để hành nghề luật
sư trong các trường hợp sau đây:
a. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
đã bị kết án mà chưa được xoá án tích;
b. Đang bị quản chế hành chính;
c. Bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân
sự;
d. Không còn là thành viên Đoàn luật sư do được
bầu hoặc được tuyển dụng làm cán bộ, công
chức, do xin ra khỏi Đoàn luật sư hoặc bị xoá
tên khỏi Danh sách luật sư của Đoàn luật sư.
3.3 Thẻ luật sư là giấy chứng nhận tư cách thành
viên Đoàn luật sư của người được cấp Thẻ.
Thẻ luật sư được cấp cho thành viên chính thức
của Đoàn luật sư để sử dụng khi hành nghề.
Luật sư tập sự được cấp Thẻ luật sư tập
sự.
Thẻ luật sư và Thẻ luật sư tập sự do Bộ Tư
pháp thống nhất phát hành.
Thủ tục cấp, sử dụng Thẻ luật sư và Thẻ
luật sư tập sự do Điều lệ Đoàn luật sư quy
định.
3.4 Khi thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu
của khách hàng, luật sư phải có Giấy giới thiệu
của tổ chức hành nghề luật sư. Trong trường
hợp cá nhân, tổ chức yêu cầu thì luật sư xuất
trình Thẻ luật sư.
4. Về tổ chức hành nghề luật sư
4.1 Trong việc thực hiện đăng ký hoạt động cho
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh, chi nhánh
Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật hợp danh,
Sở Tư pháp có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ đăng ký hoạt
động của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh, chi nhánh Văn phòng luật sư, chi nhánh Công
ty luật hợp danh. Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký
hoạt động, Sở Tư pháp trao giấy biên nhận cho
người nộp hồ sơ.
b) Ghi vào Sổ đăng ký hoạt động và cấp Giấy
đăng ký hoạt động cho Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh, chi nhánh Văn phòng luật sư, chi
nhánh Công ty luật hợp danh.
Giấy đăng ký hoạt động được đánh số như
sau:
Hai chữ số đầu là mã tỉnh (Phụ lục 1 ban hành
kèm theo Thông tư này); hai chữ số tiếp theo là
mã của loại hình tổ chức hành nghề luật sư
(Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này); bốn
chữ số tiếp theo là số thứ tự đăng ký của
tổ chức hành nghề luật sư, kể cả chi nhánh;
c) Nhận thông báo của Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh về việc thay đổi nội dung Giấy
đăng ký hoạt động, lập chi nhánh, tạm ngừng
hoạt động, chấm dứt hoạt động của Văn phòng,
Công ty, chi nhánh Văn phòng, Công ty. Khi tiếp nhận
thông báo, Sở Tư pháp ghi nội dung thông báo vào
Sổ đăng ký hoạt động và Giấy đăng ký hoạt
động của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh, chi nhánh Văn phòng luật sư, chi nhánh Công
ty luật hợp danh.
d) Cung cấp thông tin về nội dung đăng ký hoạt
động của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh, chi nhánh Văn phòng luật sư, chi nhánh Công
ty luật hợp danh trong phạm vi địa phương cho cá
nhân, tổ chức có yêu cầu theo quy định của pháp
luật.
đ) Bảo quản và lưu trữ hồ sơ, giấy tờ về
đăng ký hoạt động, sổ đăng ký hoạt động.
e) Kiểm tra hoạt động của Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh, chi nhánh Văn phòng luật
sư, chi nhánh Công ty luật hợp danh theo nội dung
ghi trong Giấy đăng ký hoạt động. Để tiến hành
kiểm tra, Sở Tư pháp thông báo cho Văn phòng, Công
ty, chi nhánh trước 7 ngày, trừ trường hợp kiểm
tra đột xuất theo quyết định của Giám đốc
Sở Tư pháp.
g) Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ
Tư pháp và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về các biện pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn
trong hoạt động của Văn phòng luật sư, Công ty
luật hợp danh và các biện pháp khác hỗ trợ cho
các Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh hoạt
động.
4.2 Việc đặt tên gọi cho tổ chức hành nghề
luật sư phải tuân theo khoản 3 Điều 18 và khoản
3 Điều 19 của Pháp lệnh luật sư. Tổ chức hành
nghề luật sư có thể có tên giao dịch. Tổ chức
hành nghề luật sư có thể có biểu tượng, nhưng
không được sử dụng Quốc kỳ, Đảng kỳ, Quốc
huy, hình ảnh lãnh tụ, hình ảnh đồng tiền Việt
Nam hoặc cán cân công lý làm biểu tượng của
mình. Tên, tên giao dịch, biểu tượng của tổ
chức hành nghề luật sư không được trùng với
tên, tên giao dịch, biểu tượng của tổ chức
hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt
động trước đó trong phạm vi cả nước.
4.3 Hình thức hợp đồng dịch vụ pháp lý phải
tuân theo quy định tại Điều 25 của Pháp lệnh
luật sư và Điều 14 của Nghị định. Việc giao
kết hợp đồng qua điện báo, telex, fax, thư điện
tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng
được coi là hình thức hợp đồng bằng văn bản.
4.4 Mức trần thù lao đối với vụ án hình sự
được áp dụng theo quy định tại Điều 25 của
Nghị định. Trong trường hợp luật sư bào chữa
cho bị can, bị cáo hoặc bảo vệ cho người bị
hại, các đương sự khác là người nước ngoài
trong vụ án hình sự, Văn phòng luật sư có thể
áp dụng mức thù lao vượt quá mức trần quy định
nếu được khách hàng đồng ý.
4.5 Thời gian làm việc của luật sư để tính thù
lao theo quy định tại Điều 25 của Nghị định
là thời gian luật sư thực tế đã phải bỏ ra
để thực hiện dịch vụ pháp lý đã cam kết với
khách hàng, bao gồm: thời gian tư vấn, nghiên cứu
hồ sơ, chuẩn bị tài liệu, văn bản, thu thập
chứng cứ, gặp gỡ bị can, bị cáo, tham gia phiên
tòa và thời gian thực tế hợp lý khác được
khách hàng chấp nhận.
4.6 Tổ chức hành nghề luật sư có đủ điều
kiện quy định tại khoản 1 Điều 20 của Nghị
định thì được đặt cơ sở hành nghề ở nước
ngoài. Thời hạn thành lập quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 20 của Nghị định được tính
từ ngày cấp Giấy đăng ký hoạt động; đối
với tổ chức hành nghề luật sư phải chuyển
đổi theo quy định tại khoản 2 Điều 43 của Pháp
lệnh luật sư và Điều 42 của Nghị định thì
thời hạn này được tính từ ngày thành lập trước
khi chuyển đổi.
5. Về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật
sư
5.1 Căn cứ khoản 2 Điều 28 của Nghị định, Điều
lệ Đoàn luật sư quy định chi tiết về những
vấn đề có liên quan đến tổ chức, hoạt động
luật sư.
5.2 Đoàn luật sư được hợp tác với tổ chức
luật sư nước ngoài bằng các hình thức: tổ chức
hội thảo, toạ đàm để trao đổi kinh nghiệm
hành nghề; trao đổi thông tin về pháp luật và
các thông tin có liên quan đến nghề luật sư; hợp
tác trong việc bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn
cho các luật sư và các hình thức hợp tác khác
để hỗ trợ lẫn nhau trong việc quản lý và hành
nghề luật sư.
Việc thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế
về luật sư phải tuân theo quy định của Nghị
định số 103/1998/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 1998
của Chính phủ về quản lý hoạt động hợp tác
quốc tế về tư pháp và pháp luật.
6. Chế độ báo cáo
6.1 Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh báo
cáo Sở Tư pháp và Đoàn luật sư của địa phương
nơi đặt trụ sở về tình hình tổ chức, hoạt
động của Văn phòng, Công ty. Báo cáo 6 tháng (từ
ngày 1/10 năm trước đến 31/3 năm sau) được gửi
trước ngày 1/5 và báo cáo 6 tháng tiếp theo (từ
ngày 1/4 đến 30/9) được gửi trước ngày 1/11.
6.2 Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư báo cáo Bộ Tư
pháp và Sở Tư pháp về tổ chức, hoạt động
của Đoàn luật sư và danh sách luật sư của Đoàn.
Báo cáo 6 tháng (từ ngày 1/10 năm trước đến 31/3
năm sau) được gửi trước ngày 10/5 và báo cáo
6 tháng tiếp theo (từ ngày 1/4 đến 30/9) được
gửi trước ngày 10/11.
6.3 Sở Tư pháp báo cáo Bộ Tư pháp về tình hình
tổ chức luật sư và hành nghề luật sư tại địa
phương. Báo cáo 6 tháng (từ ngày 1/10 năm trước
đến 31/3 năm sau) được gửi trước ngày 15/5 và
báo cáo 6 tháng tiếp theo (từ ngày 1/4 đến 30/9)
được gửi trước ngày 15/11.
6.4 Ngoài việc báo cáo theo quy định tại các điểm
4.1, 4.2, 4.3 của Thông tư này, Sở Tư pháp, Đoàn
luật sư, tổ chức hành nghề luật sư báo cáo
theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương hoặc Bộ Tư pháp.
7. Quy định chuyển tiếp
7.1 Người được công nhận là luật sư theo quy
định của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987
trước ngày 01 tháng 10 năm 2001 thì được cấp
Chứng chỉ hành nghề luật sư để hành nghề luật
sư theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001.
Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư có văn bản đề nghị
Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư
cho những người thuộc đối tượng này. Kèm theo
văn bản đề nghị có danh sách các luật sư theo
mẫu TP-LS-5A; bản sao Thẻ luật sư có chứng nhận
sao y bản chính của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư;
2 ảnh màu 4x6cm. Đối với các luật sư đang bị
khiếu nại, tố cáo, đang bị xem xét kỷ luật
hoặc đang bị kỷ luật bằng hình thức tạm đình
chỉ hành nghề thì Đoàn luật sư chưa đề nghị
cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư cho đến thời
điểm giải quyết xong khiếu nại, tố cáo hoặc
chấp hành xong kỷ luật.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ đề nghị của Ban chủ nhiệm Đoàn luật
sư, Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật
sư cho những người được đề nghị; trong trường
hợp từ chối phải thông báo lý do bằng văn bản
cho Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư.
7.2 Đối với những người được kết nạp vào
Đoàn luật sư theo quy định của Pháp lệnh tổ
chức luật sư năm 1987 mà đang là luật sư tập
sự vào thời điểm Pháp lệnh luật sư năm 2001
có hiệu lực, thì thời gian tập sự được áp
dụng theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm
2001; thời gian đã tập sự được tính vào thời
gian tập sự theo quy định của Pháp lệnh luật
sư năm 2001.
Việc kiểm tra hết tập sự đối với luật sư
tập sự hết hạn tập sự trước ngày 01 tháng
10 năm 2002 do Vụ quản lý luật sư, tư vấn pháp
luật chủ trì phối hợp với các Đoàn luật sư,
Sở Tư pháp thực hiện.
7.3 Sau khi được cấp Chứng chỉ hành nghề luật
sư, luật sư cư trú tại một địa phương nhưng
là thành viên của Đoàn luật sư ở địa phương
khác, nếu có nguyện vọng thì được chuyển về
Đoàn luật sư của địa phương nơi mình cư trú,
không phụ thuộc vào việc các Đoàn luật sư đã
chuyển đổi hay chưa chuyển đổi theo quy định
của Pháp lệnh luật sư. Đoàn luật sư nơi luật
sư chuyển đi có trách nhiệm giới thiệu cho Đoàn
luật sư nơi luật sư chuyển đến, kèm theo giấy
giới thiệu có hồ sơ gốc của luật sư đó. Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được giấy
giới thiệu kèm theo hồ sơ của luật sư, Ban chủ
nhiệm Đoàn luật sư nơi luật sư chuyển đến
có trách nhiệm tiếp nhận và ghi tên luật sư đó
vào danh sách luật sư của Đoàn.
Luật sự tập sự cư trú tại một địa phương
nhưng đang tập sự ở Đoàn luật sư của địa
phương khác, nếu có nguyện vọng, thì cũng được
chuyển về Đoàn luật sư nơi mình cư trú. Thủ
tục chuyển Đoàn luật sư đối với luật sư tập
sự được áp dụng như đối với luật sư chính
thức. Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư nơi luật sư
tập sự chuyển đến có trách nhiệm giới thiệu
luật sư tập sự với tổ chức hành nghề luật
sư để được tập sự tiếp. Thời gian đã tập
sự ở Đoàn luật sư cũ được tính liên tục
vào thời gian tập sự ở Đoàn luật sư mới.
7.4 Người được công nhận là luật sư theo quy
định của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987
mà đang là cán bộ, công chức thì cũng được
cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để tiếp tục
hành nghề luật sư cho đến hết ngày 30 tháng 9
năm 2004. Sau thời hạn này, nếu những người thuộc
đối tượng kể trên tiếp tục làm cán bộ, công
chức thì phải ra khỏi Đoàn luật sư và chấm
dứt việc hành nghề luật sư. Trước khi chấm
dứt hành nghề, những người này phải giải quyết
xong vụ việc đã đảm nhận; trong trường hợp
không thể giải quyết xong vụ việc thì phải thông
báo cho khách hàng và bàn giao vụ việc đó cho tổ
chức hành nghề luật sư để tổ chức hành nghề
luật sư thoả thuận với khách hàng về việc tiếp
tục thực hiện vụ việc đó.
7.5 Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư có trách nhiệm
xây dựng Đề án chuyển đổi Đoàn luật sư theo
quy định tại khoản 3 Điều 42 của Pháp lệnh
luật sư và Điều 40 của Nghị định. Sở Tư pháp
có ý kiến về Đề án chuyển đổi và trình Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Sau khi Đề án
được phê duyệt, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư
tổ chức Hội nghị toàn thể luật sư để thông
qua Điều lệ, bầu Ban chủ nhiệm, Chủ nhiệm,
Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn. Sau
khi thông qua Điều lệ và bầu ra Ban chủ nhiệm,
Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật,
Đoàn luật sư bắt đầu hoạt động theo quy định
của Pháp lệnh luật sư năm 2001.
Đối với các Đoàn luật sư có khó khăn về trụ
sở và phương tiện làm việc, căn cứ vào khoản
1 và khoản 3 Điều 3 của Nghị định, Ban chủ
nhiệm Đoàn luật sư phối hợp với Sở Tư pháp,
các cơ quan chức năng của địa phương đề xuất
với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hỗ trợ ban đầu.
8. Ban hành kèm theo Thông tư này các mẫu giấy tờ
sau đây:
8.1 Về Chứng chỉ hành nghề luật sư:
a) Đơn xin cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư (mẫu
TP-LS-1A);
b) Lý lịch luật sư (mẫu TP-LS-1B);
c) Danh sách trích ngang của luật sư (mẫu TP-LS-1C).
8.2 Về đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh, Chi nhánh của Văn phòng
luật sư, chi nhánh của Công ty luật hợp danh:
a) Đơn đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư do một luật sư thành lập (mẫu TP-LS-2A);
b) Đơn đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư do một số luật sư thành lập (mẫu TP-LS-2B);
c) Đơn đăng ký hoạt động của Công ty luật hợp
danh (mẫu TP-LS-2C);
d) Đơn đăng ký lập Chi nhánh (mẫu TP-LS-2D);
đ) Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư do một luật sư thành lập (mẫu TP-LS-2Đ);
e) Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư do một số luật sư thành lập (mẫu TP-LS-2E);
g) Giấy đăng ký hoạt động của Công ty luật
hợp danh (mẫu TP-LS-2G);
h) Giấy đăng ký hoạt động của chi nhánh tổ
chức hành nghề luật sư (mẫu TP-LS-2H);
i) Sổ đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh (mẫu TP-LS-2I);
k) Sổ đăng ký lập Chi nhánh (mẫu TP-LS-2K).
8.3 Về việc thông báo:
a) Thông báo thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt
động của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh (mẫu TP-LS-3A);
b) Thông báo thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt
động của chi nhánh Văn phòng luật sư, chi nhánh
Công ty luật hợp danh (mẫu TP-LS-3B);
c) Thông báo tạm ngừng hoạt động của Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh (mẫu TP-LS-3C);
d) Thông báo chấm dứt hoạt động của Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh (mẫu TP-LS-3D);
đ) Thông báo chấm dứt hoạt động của Chi nhánh
Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật hợp danh
(mẫu TP-LS-3Đ).
8.4 Về báo cáo:
a) Báo cáo của Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh về tình hình tổ chức và hoạt động
của Văn phòng, Công ty (mẫu TP-LS-4A);
b) Báo cáo của Đoàn luật sư về tình hình tổ
chức và hoạt động của Đoàn (mẫu TP-LS-4B);
c) Báo cáo của Sở Tư pháp về tình hình tổ chức
và hoạt động của Văn phòng, Công ty tại địa
phương (mẫu TP-LS-4C).
8.5 Về chuyển tiếp
Danh sách luật sư (mẫu TP-LS-5A).
9. Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc,
các Sở Tư pháp, Ban chủ nhiệm các Đoàn luật
sư và các luật sư phản ánh về Bộ Tư pháp để
kịp thời giải quyết.
|