|
Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để thi hành các hình phạt cấm cư trú và quản
chế quy định tại các Điều 37, 38, 57, 69 của Bộ
Luật Hình sự năm 1999 và các Điều 227, 235, 237,
238 của Bộ Luật Tố tụng hình sự ngày 09 tháng
6 năm 2000;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ
trưởng Bộ Tư pháp,
Điều 1.
Cấm cư trú là
hình phạt bổ sung áp dụng đối với người bị
kết án phạt tù, buộc người đó không được tạm
trú và thường trú từ một năm đến năm năm ở
một số địa phương nhất định, kể từ ngày chấp
hành xong hình phạt tù.
Quản chế là hình phạt bổ sung áp dụng đối với
người bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an
ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong
những trường hợp khác do Bộ Luật Hình sự quy
định, buộc người đó phải cư trú, làm ăn sinh
sống và cải tạo ở một địa phương nhất định
từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành
xong hình phạt tù, có sự kiểm soát, giáo dục của
chính quyền và nhân dân địa phương.
Điều 2.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn (sau đây viết gọn là Uỷ ban nhân dân cấp
xã) thi hành các hình phạt cấm cư trú, quản chế
có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận
cùng cấp quản lý chặt chẽ, giám sát, giáo dục,
tạo điều kiện giúp đỡ người bị kết án làm
ăn, sinh sống, ngăn chặn không để họ tiếp tục
vi phạm pháp luật và thi hành nghiêm chỉnh bản án
của Toà án.
Điều 3.
Việc thi hành hình
phạt cấm cư trú và quản chế phải đúng đối
tượng, đúng quy định của Bộ Luật Hình sự, Bộ
Luật Tố tụng hình sự và Nghị định này.
Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người
bị thi hành các hình phạt cấm cư trú, quản chế
(sau đây viết gọn là người bị cấm cư trú, người
bị quản chế).
Điều 4.
1. Người bị cấm cư trú có nghĩa vụ:
a) Không được cư trú ở những nơi đã bị cấm
theo quyết định của Toà án, mà phải cư trú ở
nơi khác;
b) Trình diện Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi được
đến cư trú, xuất trình giấy chứng nhận đã chấp
hành xong hình phạt tù, bản nhận xét về kết quả
chấp hành án phạt tù của Trại giam;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của
Nhà nước và các quy định của chính quyền địa
phương nơi đến cư trú.
2. Người bị cấm cư trú mà cố ý không chấp hành
các quy định về cấm cư trú mặc dù đã bị áp
dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết thì bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành
án theo Điều 304 của Bộ Luật Hình sự.
Điều 5. Người bị cấm
cư trú có quyền: 1. Khi có lý do chính đáng, có thể được phép đến
địa phương đã bị cấm cư trú nơi có thân nhân,
gia đình đang sinh sống hoặc quê quán nếu được
sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đó;
thời gian lưu trú do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi
đến quyết định, nhưng mỗi lần không được quá
năm ngày.
2. Được tự do lựa chọn nơi cư trú ngoài những
nơi đã bị cấm theo quy định của pháp luật; không
bị hạn chế việc đi lại, hành nghề hoặc làm
công việc nếu không có bản án hoặc quyết định
khác của Toà án cấm hành nghề hoặc làm công việc
đó và không thuộc những ngành, nghề kinh doanh có
điều kiện theo Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày
22 tháng 02 năm 2001 của Chính phủ.
3. Khi thấy đủ điều kiện theo quy định tại Điều
6 của Nghị định này, đề nghị Uỷ ban nhân dân
cấp xã nơi mình đang cư trú làm thủ tục đề nghị
cơ quan có thẩm quyền xem xét miễn chấp hành thời
hạn cấm cư trú còn lại theo quy định của pháp
luật.
Điều 6.
1. Người bị cấm cư trú có đủ các điều kiện
dưới đây thì có thể được xét giảm hoặc miễn
chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại:
a) Đã chấp hành được ít nhất một phần hai thời
hạn cấm cư trú;
b) Tích cực lao động, học tập, nghiêm chỉnh chấp
hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy
định của chính quyền địa phương;
c) Được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi
đang cư trú đề nghị.
2. Việc miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn
lại chỉ được thực hiện sau khi có quyết định
của Toà án nhân dân cấp huyện nơi người đó đến
cư trú.
3. Khi trở về địa phương mà trước đó đã bị
cấm cư trú, người được miễn chấp hành thời
hạn cấm cư trú còn lại phải xuất trình với Uỷ
ban nhân dân cấp xã quyết định của Toà án cho
miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
Điều 7.
Người đã chấp
hành xong hình phạt cấm cư trú kể cả các trường
hợp đã được miễn chấp hành thời hạn cấm cư
trú còn lại có quyền tự do lựa chọn nơi cư trú
theo quy định của pháp luật.
Điều 8.
1. Cơ quan thi hành hình phạt cấm cư trú là chính
quyền cấp xã nơi người bị kết án đến cư trú.
2. Hai tháng trước khi người bị cấm cư trú hết
hạn chấp hành hình phạt tù, giám thị trại giam
thông báo bằng văn bản cho Uỷ ban nhân dân cấp
xã nơi bị cấm cư trú, nơi người bị cấm cư trú
sẽ đến cư trú và Công an cấp huyện về:
- Họ và tên, tuổi, quê quán của người bị cấm
cư trú;
- Ngày, tháng, năm chấp hành xong hình phạt tù;
- Nhận xét về kết quả chấp hành án phạt tù;
- Thời hạn và nơi cấm cư trú;
- Những thông tin cần thiết khác để quản lý, giáo
dục, tạo điều kiện cho người bị cấm cư trú
làm ăn, sinh sống, cải tạo.
Trường hợp chưa rõ nơi người bị cấm cư trú
sẽ về cư trú, giám thị trại giam giao bản nhận
xét kết quả chấp hành án phạt tù cho người đó
và yêu cầu họ xuất trình cho Uỷ ban nhân dân cấp
xã nơi đến cư trú.
3. Hồ sơ thi hành hình phạt cấm cư trú do Uỷ ban
nhân dân cấp xã lập gồm có:
- Trích lục hoặc bản sao bản án của Tòa án;
- Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt
tù;
- Tài liệu về quá trình chấp hành hình phạt cấm
cư trú;
- Các tài liệu khác có liên quan.
Điều 9. Uỷ ban nhân dân
cấp xã nơi người bị cấm cư trú không được
đến cư trú có trách nhiệm: 1. Theo dõi, không để người bị cấm cư trú trở
về thường trú, tạm trú tại địa phương trong
thời gian bị cấm cư trú.
2. Khi thấy người bị cấm cư trú có mặt tại địa
phương, phải kiểm tra, lập biên bản và buộc họ
rời khỏi địa phương (trừ trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này) và thông
báo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đang quản lý
người bị cấm cư trú.
3. Tiếp nhận, tạo điều kiện giúp đỡ người
đã chấp hành xong thời hạn cấm cư trú làm ăn,
sinh sống.
Điều 10. Uỷ ban nhân dân
cấp xã nơi người bị cấm cư trú đến cư trú
có trách nhiệm: 1. Tiếp nhận, quản lý, giáo dục, tạo điều kiện
để họ làm ăn, sinh sống, lao động, học tập bình
thường, giúp họ trở thành người có ích cho xã
hội và báo cho Chánh án Toà án đã ra quyết định
thi hành án.
2. Khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 6
của Nghị định này, làm văn bản đề nghị hoặc
nhận xét kèm theo tài liệu có liên quan nếu có gửi
Công an cấp huyện để làm các thủ tục chuyển
Toà án nhân dân cấp huyện nơi chấp hành án xem
xét, quyết định giảm hoặc miễn chấp hành phần
hình phạt còn lại cho người bị cấm cư trú.
3. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người bị cấm cư
trú đến cư trú cuối cùng có trách nhiệm cấp giấy
chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn cấm cư
trú cho người bị cấm cư trú và gửi bản sao cho
Toà án đã ra quyết định thi hành án, Toà án và
Công an cấp huyện nơi người bị cấm cư trú đến
cư trú.
Điều 11.
1. Người bị quản chế có nghĩa vụ:
a) Trở về địa phương mà bản án chỉ định
là nơi quản chế ngay sau khi chấp hành xong hình
phạt tù và trình diện với Uỷ ban nhân dân cấp
xã, xuất trình giấy chứng nhận đã chấp hành
xong hình phạt tù;
b) Chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính
quyền và nhân dân địa phương; không được tự
ý rời khỏi nơi quản chế;
c) Mỗi tháng một lần vào tuần đầu của tháng,
trình diện và báo cáo với Uỷ ban nhân dân cấp
xã nơi quản chế việc chấp hành quy định về
quản chế;
d) Khi Uỷ ban nhân dân các cấp yêu cầu, phải có
mặt tại địa điểm quy định và trả lời các
vấn đề có liên quan, nếu vắng mặt phải có
lý do chính đáng;
đ) Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật
của Nhà nước và quy định của chính quyền địa
phương; tích cực lao động, học tập, cải tạo
để trở thành người có ích cho xã hội.
2. Người bị quản chế vi phạm quy định về quản
chế thì có thể bị xử lý như sau:
a) Trường hợp sau khi chấp hành xong hình phạt
tù không đến trình diện với Uỷ ban nhân dân
cấp xã đúng thời hạn mà không có lý do chính
đáng, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã triệu tập đến
để lập biên bản và buộc chấp hành các quy định
về quản chế;
b) Trường hợp cố ý không chấp hành quy định
về quản chế mặc dù đã bị áp dụng biện pháp
cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội không chấp hành án theo
Điều 304 của Bộ Luật Hình sự.
Điều 12. Người bị quản
chế có quyền: 1. Sinh sống cùng gia đình tại địa phương nơi
quản chế;
2. Lựa chọn nghề nghiệp, công việc lao động
thích hợp, trừ những nghề hoặc công việc nhất
định đã bị cấm theo quyết định của Toà án
và những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo
Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm
2001 của Chính phủ; được hưởng mọi thành quả
lao động do mình làm ra theo quy định của pháp
luật;
3. Tự do đi lại trong phạm vi xã, phường, thị
trấn nơi quản chế;
4. Được xét miễn chấp hành thời hạn quản chế
còn lại theo quy định tại Điều 14 của Nghị
định này.
Điều 13.
1. Nếu có lý do chính đáng, được Uỷ ban nhân
dân cấp xã nơi thi hành hình phạt quản chế đồng
ý và có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền
quy định tại khoản 3 Điều này, người bị quản
chế được rời khỏi phạm vi xã, phường, thị
trấn nơi quản chế trong thời hạn nhất định
để giải quyết việc cá nhân.
2. Thời hạn người bị quản chế được phép
rời khỏi phạm vi địa phương nơi quản chế do
người có thẩm quyền cấp giấy phép quyết định,
nhưng mỗi lần không được quá năm ngày.
3. Thẩm quyền cấp giấy phép cho người bị quản
chế rời khỏi nơi quản chế quy định như sau:
a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi quản
chế cấp giấy phép đi lại trong phạm vi quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi quản
chế;
b) Trưởng Công an cấp huyện cấp giấy phép đi
lại trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương nơi thi hành hình phạt quản chế hoặc
tuy ra ngoài phạm vi đó nhưng chỉ đến quận, huyện,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh liền kề với quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi quản
chế;
c) Giám đốc Công an cấp tỉnh cấp giấy phép đi
ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương nơi quản chế và không thuộc trường hợp
quy định tại điểm b khoản 3 Điều này.
4. Giấy phép được cấp theo quy định tại khoản
3 Điều này có giá trị một lần. Trường hợp
người bị quản chế hàng ngày phải đến một
nơi nhất định ngoài phạm vi xã, phường, thị
trấn để học tập, lao động, chữa bệnh hoặc
vì lý do chính đáng khác thì có thể được xem
xét cấp giấy phép theo từng tháng.
5. Khi rời khỏi nơi quản chế, người bị quản
chế có trách nhiệm:
a) Thực hiện đúng các quy định ghi trong giấy
phép;
b) Trình diện với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi
mình đến và xuất trình giấy phép làm thủ tục
đăng ký tạm trú theo quy định;
c) Trở về địa phương nơi quản chế đúng thời
hạn ghi trong giấy phép và trình diện với Uỷ
ban nhân dân cấp xã.
6. Người bị quản chế rời khỏi phạm vi xã,
phường, thị trấn nơi quản chế mà không có giấy
phép hoặc vi phạm các quy định ghi trong giấy phép
nếu không có lý do chính đáng thì bị xử lý theo
quy định của pháp luật và thời gian này không
được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt
quản chế.
Điều 14.
1. Người bị quản chế có đủ các điều kiện
dưới đây thì có thể được xét miễn chấp hành
thời hạn quản chế còn lại:
a) Đã chấp hành được ít nhất một phần hai
thời hạn quản chế;
b) Thành khẩn hối lỗi, tích cực lao động, học
tập, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, pháp luật
của Nhà nước, quy định của chính quyền địa
phương và quy định về quản chế;
c) Được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi
quản chế đề nghị.
2. Việc miễn chấp hành thời hạn quản chế còn
lại chỉ được thực hiện sau khi có quyết định
của Toà án nhân dân cấp huyện nơi chấp hành
án.
3. Người đã được miễn chấp hành thời hạn
quản chế còn lại phải xuất trình với Uỷ ban
nhân dân cấp xã nơi mình cư trú quyết định của
Toà án về việc miễn chấp hành phần hình phạt
còn lại.
Điều 15.
1. Cơ quan thi hành hình phạt quản chế là chính quyền
cấp xã nơi quản chế.
2. Hai tháng trước khi người bị kết án quản chế
hết hạn chấp hành hình phạt tù, giám thị trại
giam thông báo bằng văn bản cho Uỷ ban nhân dân cấp
xã nơi quản chế và Trưởng Công an cấp huyện về:
- Họ và tên, tuổi, quê quán của người bị quản
chế;
- Ngày, tháng, năm chấp hành xong hình phạt tù;
- Nhận xét về kết quả chấp hành hình phạt tù;
- Thời hạn quản chế;
- Những thông tin cần thiết khác để quản lý, giáo
dục, tạo điều kiện cho người bị quản chế làm
ăn, sinh sống, cải tạo.
Điều 16. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi quản
chế có trách nhiệm: 1. Tiếp nhận, ghi vào sổ theo dõi việc người bị
quản chế trình diện; lập hồ sơ quản lý, theo
dõi người bị quản chế.
2. Quản lý, giáo dục, tạo điều kiện để người
bị quản chế làm ăn, sinh sống, học tập, cải
tạo để trở thành người có ích cho xã hội và
báo cho Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành
án.
3. Định kỳ ba tháng một lần, nhận xét, đánh giá,
làm báo cáo chung về quá trình chấp hành án của
những người bị quản chế, gửi Trưởng Công an
cấp huyện.
4. Khi xét thấy có đủ điều kiện quy định tại
Điều 14 của Nghị định này, làm văn bản đề
nghị miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại
cho người bị quản chế kèm theo các tài liệu có
liên quan nếu có để gửi Công an cấp huyện làm
thủ tục chuyển Toà án cấp huyện xem xét, quyết
định theo quy định của pháp luật.
5. Cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời
hạn quản chế cho người bị quản chế theo mẫu
thống nhất.
Giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn quản
chế được gửi cho Toà án đã ra quyết định thi
hành án, Toà án và Công an cấp huyện nơi quản chế.
Điều 17. Hồ sơ thi hành hình phạt quản chế
do Uỷ ban nhân dân cấp xã lập, gồm có:
a) Trích lục hoặc bản sao bản án của Toà án;
b) Giấy chứng nhận đã chấp hành hình phạt tù;
c) Tài liệu về quá trình chấp hành hình phạt quản
chế;
d) Các tài liệu khác có liên quan.
Điều 18. Công an các đồn, phường, Công an
xã nơi quản chế có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân
dân cấp xã các việc sau: 1. Nắm tình hình di biến động và quá trình chấp
hành chính sách, pháp luật và các quy định về quản
chế của người bị quản chế; xử lý các vi phạm
về quản chế theo thẩm quyền;
2. Tiếp nhận và xử lý theo thẩm quyền các tin báo,
tố giác hành vi vi phạm pháp luật do người bị
quản chế cung cấp;
3. Lập hồ sơ cá nhân đối với người bị quản
chế;
4. Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể quần
chúng và nhân dân địa phương thu thập thông tin,
tài liệu có liên quan để đề nghị miễn chấp
hành thời hạn quản chế còn lại theo quy định
của pháp luật.
Điều 19.
Người nào vi
phạm các quy định của Nghị định này thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 20.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày,
kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái
với Nghị định này đều bãi bỏ.
2. Bộ Công an chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc
việc thi hành Nghị định này.
Điều 21.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương và các cơ quan có liên quan chịu
trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|