|
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9
năm 1992;
Căn cứ Nghị quyết 45/1998/NQ-UBTVQH10 của ủy ban
Thường vụ Quốc hội ngày 26 tháng 02 năm 1998 về
việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức
- Cán bộ Chính phủ,
Điều 1. Ban hành kèm theo
Nghị định này bản Quy chế thực hiện dân chủ
ở xã.
Điều 2. Quy chế này áp
dụng đối với cả phường và thị trấn. Ban Tổ
chức - Cán bộ Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng
Quy chế này đối với phường và thị trấn.
Điều 3. Nghị định này
có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Những quy
định trước đây trái với Quy chế này đều bãi
bỏ.
Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ
tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định
này.
Thực hiện dân chủ ở xã
(Ban hành kèm theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP
ngày 11 tháng 5 năm 1998 của Chính phủ)
Dân chủ là bản chất của chế độ và Nhà nước
ta. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo ra sức mạnh
to lớn, góp phần quyết định vào sự thành công
của cách mạng.
Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực đã
được ghi trong Hiến pháp, Luật và các văn bản
pháp luật của Nhà nước.
Quy chế này chỉ quy định những việc chính quyền
địa phương phải thông tin và công khai để dân
biết, những việc dân bàn và quyết định trực
tiếp, những việc dân tham gia ý kiến trước khi
cơ quan Nhà nước quyết định, những việc dân giám
sát, kiểm tra và các hình thức thực hiện quy chế
dân chủ.
Điều 1. Quy chế thực hiện
dân chủ ở xã nhằm phát huy quyền làm chủ, sức
sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh
vật chất và tinh thần to lớn của nông dân và nhân
dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị,
xã hội, tăng cường đoàn kết nông thôn, cải thiện
dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ, chính
quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh;
ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan
liêu, tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Điều 2. Phát huy quyền
làm chủ của nhân dân gắn liền với cơ chế "Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ";
phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng
cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, thực hiện tốt
chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân
dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công
việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với lợi
ích của mình.
Điều 3. Dân chủ trong khuôn
khổ của Hiến pháp và pháp luật; quyền đi đôi
với nghĩa vụ; dân chủ đi đôi với trật tự, kỷ
cương; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng
dân chủ vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm
quyền tự do, dân chủ của nhân dân.
Điều 4. Chính quyền địa
phương có trách nhiệm thông tin kịp thời và công
khai để nhân dân biết những công việc chính sau
: 1. Chính sách, pháp luật của Nhà nước.
2. Các quy định của Nhà nước và chính quyền địa
phương về thủ tục hành chính giải quyết các công
việc liên quan đến dân.
3. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn
và hàng năm của xã.
4. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
5. Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, và quyết
định của Uỷ ban nhân dân xã và của cấp trên
liên quan đến địa phương.
6. Dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm.
7. Dự toán và quyết toán thu chi các quỹ, dự án,
các khoản huy động đóng góp xây dựng cơ sở hạ
tầng, các công trình phúc lợi công cộng của xã,
thôn, làng, ấp, bản và kết quả thực hiện.
8. Các chương trình dự án do Nhà nước, các tổ
chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho
xã.
9. Chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản
xuất, xóa đói giảm nghèo.
10. Điều chỉnh địa giới hành chính xã và các
đơn vị hành chính liên quan đến xã.
11. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ
việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ xã, thôn,
làng, ấp, bản.
12. Công tác văn hóa, xã hội, phòng chống tệ nạn
xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội
của xã.
13. Sơ kết, tổng kết hoạt động của Hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân xã.
14. Những việc khác mà chính quyền thấy cần thiết
và nhân dân yêu cầu được thông báo.
Điều 5. Hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm phối hợp
với ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể ở
xã và trưởng thôn, làng, ấp, bản cung cấp các
thông tin ghi ở Điều 4 để nhân dân biết thông
qua các hình thức : 1. Bằng các văn bản.
2. Niêm yết công khai tại trụ sở ủy ban nhân dân
xã và các trung tâm dân cư, văn hóa.
3. Hệ thống truyền thanh xã, thôn, làng, ấp, bản
và các tổ chức văn hóa, thông tin, tuyên truyền
cơ sở.
4. Các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội
đồng nhân dân xã.
5. Các kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã, các
cuộc họp của ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn
thể, các hội, các cuộc họp của thôn, làng, ấp,
bản.
6. Tại cuộc họp sơ kết 6 tháng, tổng kết cuối
năm, kiểm điểm hoạt động của Hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân xã, báo cáo kiểm điểm công
tác và tự phê bình trước dân của Chủ tịch Hội
đồng nhân dân và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã.
Điều 6. Nhân dân ở xã, thôn, làng, ấp, bản
bàn và quyết định trực tiếp những công việc
chủ yếu sau : 1. Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở
hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện,
đường, trường học, trạm xá, nghĩa trang, các công
trình văn hóa, thể thao...).
2. Lập, thu, chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp
luật.
3. Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp
sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ
các hủ tục, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội.
4. Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư
thôn, làng, ấp, bản, phù hợp với pháp luật của
Nhà nước.
5. Thành lập ban giám sát công trình xây dựng do dân
đóng góp.
6. Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh.
Điều 7. Ngoài những khoản
đóng góp ghi ở Điều 6, những khoản dân ủng hộ
với mục đích tương trợ, nhân đạo, từ thiện
do chính quyền, ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn
thể, các Hội và các tổ chức xã hội tuyên truyền,
vận động nhân dân theo nguyên tắc hoàn toàn tự
nguyện, không được áp đặt, phân bổ, bình quân
nhất loạt.
Điều 8. Phương thức thực hiện những việc
nhân dân quyết định trực tiếp:
Cấp ủy Đảng lãnh đạo, ủy ban nhân dân xã xây
dựng phương án, chương trình, kế hoạch. ủy ban
nhân dân xã phối hợp với ủy ban Mặt trận Tổ
quốc chỉ đạo, tổ chức nhân dân bàn, quyết định
bằng một trong các hình thức : 1. Họp nhân dân ở từng thôn, làng, ấp, bản thảo
luận và biểu quyết công khai hoặc phiếu kín, lập
biên bản gửi ủy ban nhân dân xã.
2. Họp chủ hộ bàn, biểu quyết công khai hoặc phiếu
kín, lập biên bản gửi ủy ban nhân dân xã.
Các cuộc họp nói trên được tiến hành khi có ít
nhất hai phần ba số người (hoặc hộ) trong diện
họp tham dự.
3. Nếu không tổ chức họp được thì phát phiếu
lấy ý kiến của hộ gia đình.
Nếu đa số nhân dân hoặc chủ hộ đồng ý thì
ủy ban nhân dân xã tổ chức thực hiện có sự giám
sát, kiểm tra của Ban thanh tra nhân dân xã hoặc ban
giám sát công trình do dân cử. Nhân dân có nghĩa
vụ chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định được
đa số đồng ý. Nếu xét thấy quyết định của
đa số không phù hợp với luật pháp và các quy định
của chính quyền địa phương thì ủy ban nhân dân
xã đề nghị ủy ban nhân dân huyện xem xét, quyết
định.
Điều 9. Những việc chủ yếu đưa ra nhân
dân bàn hoặc tham gia ý kiến trước khi Hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân xã quyết định (hoặc
trình cấp có thẩm quyền quyết định) gồm có: 1. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội dài hạn, hàng năm của xã, phương
án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất
và phương án phát triển ngành nghề, giải quyết
việc làm cho người lao động.
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đai ở địa phương và việc quản lý sử dụng có
hiệu quả quỹ đất công ích ở địa phương.
3. Dự thảo quy hoạch khu dân cư và đề án định
canh, định cư, vùng kinh tế mới. Kế hoạch và dự
án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của
nhân dân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
do xã quản lý.
4. Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa
giới hành chính xã, đề án chia, tách, thành lập
thôn, làng, ấp, bản.
5. Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình
quốc gia về y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường.
6. Chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt
bằng.
7. Giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng
nhân dân xã.
8. Những việc khác Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân
dân thấy cần thiết.
Điều 10. Phương thức thực hiện những việc
nhân dân bàn, tham gia ý kiến, Hội đồng nhân dân,
ủy ban nhân dân quyết định (hoặc trình cấp có
thẩm quyền quyết định).
Căn cứ Nghị quyết của cấp ủy, Nghị quyết của
Hội đồng nhân dân xã, ủy ban nhân dân xã dự thảo
các văn bản, kế hoạch, phương án và phối hợp
với ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, các đoàn thể
nhân dân tổ chức lấy ý kiến công khai dưới các
hình thức: 1. Phát phiếu thăm dò ý kiến từng hộ gia đình.
2. Họp nhân dân hoặc chủ hộ thôn, làng, ấp, bản
thảo luận, lập biên bản gửi ủy ban nhân dân xã.
3. Họp các đoàn thể, các tổ chức kinh tế để
thảo luận, ghi biên bản gửi ủy ban nhân dân xã.
4. Đặt hòm thư góp ý, ủy ban nhân dân xã tổng
hợp ý kiến.
Kết quả hội nghị và thăm dò ý kiến của nhân
dân phải được báo cáo đầy đủ, khách quan để
ủy ban nhân dân xã xem xét, tổng hợp trình Hội
đồng nhân dân xã quyết định theo thẩm quyền hoặc
trình cấp trên xem xét.
Điều 11. Những việc nhân
dân ở xã giám sát, kiểm tra gồm có: 1. Hoạt động của Hội đồng nhân dân và ủy ban
nhân dân xã.
2. Kết quả thực hiện Nghị quyết của Hội đồng
nhân dân và quyết định của ủy ban nhân dân xã.
3. Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân
xã, của cán bộ ủy ban nhân dân và cán bộ, công
chức Nhà nước hoạt động tại địa phương.
4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
5. Dự toán và quyết toán ngân sách xã.
6. Kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do
nhân dân đóng góp xây dựng và các chương trình
dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu
tư tài trợ trực tiếp cho xã.
7. Quản lý và sử dụng đất đai.
8. Thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định
của Nhà nước, các khoản đóng góp của nhân dân.
9. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ
việc tiêu cực, tham nhũng liên quan đến cán bộ
xã.
10. Việc thực hiện chế độ chính sách ưu đãi,
chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình
liệt sỹ, những người và gia đình có công với
nước, chính sách bảo hiểm xã hội, cứu tế xã
hội.
Điều 12. Phương thức thực hiện những việc
dân giám sát, kiểm tra : 1. Nhân dân giám sát hoạt động và tư cách đại
biểu Hội đồng nhân dân, các thành viên ủy ban
nhân dân. Có quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo
các hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân,
vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực của đại
biểu Hội đồng nhân dân và các thành viên ủy ban
nhân dân.
2. Các kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã mời
đại diện các tổ chức đoàn thể tham dự và mời
đại diện nhân dân dự thính.
3. Thông qua các tổ chức : ủy ban Mặt trận Tổ
quốc, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội
Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến
binh, Hội Người cao tuổi.
4. Thông qua ban thanh tra nhân dân được thành lập
và hoạt động theo pháp luật.
5. Uỷ ban nhân dân xã chịu trách nhiệm tổ chức
việc tiếp dân, giải quyết kịp thời các kiến
nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo đúng
quy định của pháp luật.
6. Khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực,
sử dụng sai mục đích, lãng phí trong việc thu, chi
ngân sách, các khoản đóng góp, các loại quỹ và
quản lý đất đai, nhân dân có quyền yêu cầu làm
rõ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, người
quản lý trực tiếp phải cung cấp và giải trình
đầy đủ các việc nói trên mà không có bất cứ
một hạn chế nào.
Điều 13. Thôn, làng, ấp, bản không phải là
một cấp chính quyền, nhưng là nơi sinh sống của
cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một
cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các
công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư, bảo
đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự an toàn xã hội
và vệ sinh môi trường; xây dựng cuộc sống mới;
tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời
sống; giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp
và thuần phong mỹ tục của cộng đồng nhằm thực
hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật
của Nhà nước; thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ
công dân và nhiệm vụ cấp trên giao.
Điều 14. Hội nghị thôn, làng, ấp, bản được
tổ chức sáu tháng một lần hoặc bất thường gồm
toàn thể cử tri hoặc chủ hộ do trưởng thôn, làng,
ấp, bản phối hợp với ban công tác Mặt trận,
các tổ chức đoàn thể triệu tập và chủ trì nhằm
: 1. Thảo luận và quyết định các công việc của
nội bộ cộng đồng dân cư về sản xuất, xây dựng
cơ sở hạ tầng, giải quyết việc làm, xóa đói
giảm nghèo, đoàn kết tương trợ, giúp đỡ nhau
trong sản xuất và đời sống, những vấn đề về
văn hóa, xã hội, vệ sinh môi trường, an ninh, trật
tự an toàn xã hội phù hợp pháp luật Nhà nước.
2. Bàn biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội
đồng nhân dân xã, các quyết định của ủy ban
nhân dân xã, nghĩa vụ công dân và nhiệm vụ cấp
trên giao.
3. Thảo luận, góp ý kiến về báo cáo kết quả
công tác và tự phê bình, kiểm điểm của trưởng
thôn, làng, ấp, bản, của Chủ tịch Hội đồng
nhân dân và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã.
4. Bầu, cho thôi chức trưởng thôn, làng, ấp, bản;
xây dựng hương ước, quy ước; cử các ban, nhóm
tự quản, ủy viên thanh tra nhân dân.
Nghị quyết của hội nghị có giá trị khi có ít
nhất quá nửa số người dự họp tán thành và không
trái với pháp luật.
Điều 15. Trưởng thôn, làng, ấp, bản là đại
diện cho cộng đồng dân cư và ủy ban nhân dân xã,
chịu sự quản lý và chỉ đạo của ủy ban nhân
dân xã. Trưởng thôn, làng, ấp, bản do nhân dân
bầu và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã công nhận.
Trưởng thôn, làng, ấp, bản có nhiệm vụ và quyền
hạn : 1. Hướng dẫn, đôn đốc, tổ chức, vận động
nhân dân thực hiện nghĩa vụ và quyền công dân,
nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các quyết
định của ủy ban nhân dân và các công việc được
ủy ban nhân dân xã ủy nhiệm.
2. Phối hợp với ban công tác Mặt trận thôn, làng,
ấp, bản chủ trì cuộc họp của thôn, làng, ấp,
bản; tổ chức thực hiện các quyết định của
cộng đồng dân cư.
3. Phối hợp với các tổ chức kinh tế, Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể, các hội hướng dẫn nhân
dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, giữ
gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng cơ sở hạ
tầng thôn, làng, ấp, bản.
4. Phối hợp với ban công tác Mặt trận ở thôn,
làng, ấp, bản hướng dẫn hoạt động của các
ban hòa giải, ban an ninh, bảo vệ sản xuất, ban kiến
thiết.
5. Phát hiện và báo cáo kịp thời với ủy ban nhân
dân xã những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm
lợi ích và quyền tự do dân chủ của công dân.
6. Định kỳ sáu tháng báo cáo công tác và tự phê
bình, kiểm điểm trước hội nghị thôn, làng, ấp,
bản.
7. Được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng,
được hưởng phụ cấp theo quy định của tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm
kỳ và phụ cấp của trưởng thôn, làng, ấp, bản.
Điều 16. Thôn, làng, ấp,
bản xây dựng hương ước, quy ước về công việc
thuộc nội bộ cộng đồng dân cư, kế thừa và
phát huy thuần phong mỹ tục của cộng đồng, phù
hợp với quy định của pháp luật nhằm bài trừ
hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, xây
dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh. Hương ước,
quy ước do nhân dân xây dựng, Chủ tịch Hội đồng
nhân dân xã đề nghị và Chủ tịch ủy ban nhân
dân huyện phê duyệt hương ước, quy ước đó.
Điều 17. Thôn, làng, ấp,
bản có thể thành lập các ban hòa giải, ban an ninh,
tổ bảo vệ sản xuất, ban kiến thiết. Các tổ
chức này do dân bầu, trưởng thôn, làng, ấp, bản
phối hợp với ban công tác Mặt trận quản lý và
chỉ đạo.
Điều 18. Các cấp, các
ngành có trách nhiệm xây dựng chính quyền cơ sở
trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Khắc
phục biểu hiện quan liêu, thiếu trách nhiệm, mất
dân chủ trong giải quyết các công việc.
Điều 19. Thường xuyên
quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở. Có
kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo về trình độ văn
hóa, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và
phương pháp công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
trong giai đoạn cách mạng mới.
Điều 20. Cán bộ chính quyền các cấp và nhân
dân có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh những quy
định trong Quy chế này.
Điều 21. Các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, các huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh phải tổ chức chỉ đạo
điểm và triển khai mở rộng một cách vững chắc.
Điều 22. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp
có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện Quy chế này.
Hàng quý, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp dưới báo
cáo kết quả thực hiện với Chủ tịch ủy ban nhân
dân cấp trên, sáu tháng một lần, Chủ tịch ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
báo cáo Chính phủ (thông qua Ban Tổ chức - Cán bộ
Chính phủ) kết quả thực hiện Quy chế.
Điều 23. Ban Tổ chức -
Cán bộ Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo, hướng
dẫn, theo dõi thực hiện Quy chế này. Bộ Tài chính
có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan
chuyên môn cấp dưới kiểm tra tài chính và thu chi
ngân sách của xã, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên
môn cho cán bộ tài chính xã. Thanh tra Nhà nước có
trách nhiệm hướng dẫn công tác thanh tra, kiểm tra
ở xã, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ cho ban
thanh tra nhân dân xã. Bộ Tư pháp và Bộ Văn hóa
- Thông tin có trách nhiệm hướng dẫn xây dựng các
hương ước, quy ước thôn, làng, ấp, bản.
Điều 24. Đề nghị ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chỉ đạo
hướng dẫn, kiểm tra cấp dưới thực hiện tốt
nhiệm vụ được quy định trong Quy chế này.
Điều 25. Trong quá trình thực hiện Quy chế,
các tổ chức, cá nhân có thành tích sẽ được khen
thưởng; các tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xử
lý theo quy định của pháp luật hiện hành.
|