|
Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Xét đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục
Bưu điện,
Điều 1.
1. Nghị định này điều chỉnh việc quản lý, cung
cấp và sử dụng dịch vụ Internet tại Việt Nam.
Mọi tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá
nhân nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực Internet
tại Việt Nam đều phải tuân theo Nghị định này.
2. Trong trường hợp các điều ước quốc tế liên
quan đến Internet mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng
quy định của điều ước quốc tế.
Điều 2.
1. Internet là một hệ thống thông tin được kết
nối với nhau bởi giao thức truyền thông Internet
(IP) và sử dụng một hệ thống địa chỉ thống
nhất trên phạm vi toàn cầu để cung cấp các dịch
vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng.
2. ở Việt Nam, Internet là một bộ phận quan trọng
thuộc cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, được
bảo vệ theo pháp luật Việt Nam, không ai được
xâm phạm. Bảo đảm an toàn, an ninh cho các hệ thống
thiết bị và thông tin trên Internet là trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và cá
nhân.
Điều 3. Việc phát triển Internet ở Việt Nam
được thực hiện theo các nguyên tắc: 1. Năng lực quản lý phải theo kịp với yêu cầu
phát triển, đồng thời phải có biện pháp đồng
bộ để ngăn chặn những hành vi lợi dụng Internet
gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và vi phạm
đạo đức, thuần phong mỹ tục.
2. Phát triển Internet với đầy đủ các dịch vụ
có chất lượng cao và giá cước hợp lý nhằm đáp
ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Điều 4. Ưu tiên bố trí vốn đầu tư và có
cơ chế hỗ trợ tài chính đối với việc cung cấp
và sử dụng dịch vụ Internet cho các cơ quan, tổ
chức nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, y
tế, phát triển công nghiệp phần mềm và các cơ
quan Đảng, Nhà nước.
Điều 5. Có chính sách khuyến khích tăng cường
đưa thông tin tiếng Việt, đặc biệt là thông tin
về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước lên Internet. Tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức, cá nhân thông qua Internet giới
thiệu về sản phẩm, dịch vụ của mình.
Điều 6.
1. Thông tin đưa vào lưu trữ, truyền đi và nhận
đến trên Internet phải tuân thủ các quy định tương
ứng của Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Pháp lệnh
Bảo vệ bí mật nhà nước và các quy định của
pháp luật về sở hữu trí tuệ và quản lý thông
tin trên Internet.
2. Tổ chức, cá nhân cung cấp và sử dụng dịch
vụ Internet phải chịu trách nhiệm về những nội
dung thông tin do mình đưa vào lưu trữ, truyền đi
trên Internet.
Điều 7.
1. Các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị, doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm
tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng
dẫn người sử dụng dịch vụ Internet trong việc
khai thác, sử dụng các thông tin trên Internet theo
đúng pháp luật, đồng thời ngăn chặn các hành
vi bị cấm tại Điều 11 của Nghị định này.
2. Các tổ chức, cá nhân sử dụng Internet có trách
nhiệm tuân thủ pháp luật về Internet để khai thác,
sử dụng Internet một cách có hiệu quả và lành
mạnh.
Điều 8. Bí mật đối với các thông tin riêng
trên Internet của tổ chức, cá nhân được bảo đảm
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Việc
kiểm soát thông tin trên Internet phải do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tiến hành theo quy định của
pháp luật.
Điều 9. Không ai được ngăn cản quyền sử
dụng hợp pháp các dịch vụ Internet. Đơn vị, doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có quyền từ chối
cung cấp dịch vụ, nếu tổ chức, cá nhân sử dụng
dịch vụ vi phạm pháp luật về Internet.
Điều 10. Việc mã hoá và
giải mã thông tin trên Internet phải tuân thủ các
quy định của pháp luật về cơ yếu.
Điều 11. Nghiêm cấm các
hành vi sau đây: 1. Gây rối, phá hoại hệ thống thiết bị và cản
trở việc cung cấp, sử dụng các dịch vụ Internet.
2. Đánh cắp và sử dụng trái phép mật khẩu, khoá
mật mã và thông tin riêng trên Internet của các tổ
chức, cá nhân.
3. Lợi dụng Internet để chống lại nhà nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an
ninh, trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong, mỹ
tục và các vi phạm pháp luật khác.
Điều 12. Dịch vụ Internet bao gồm dịch vụ
truy nhập Internet, dịch vụ kết nối Internet và dịch
vụ ứng dụng Internet.
1. Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp
cho người sử dụng khả năng truy nhập đến Internet.
2. Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp
cho các đơn vị, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet
khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc
tế.
3. Dịch vụ ứng dụng Internet là dịch vụ sử dụng
Internet để cung cấp cho người sử dụng các ứng
dụng hoặc dịch vụ bao gồm: bưu chính, viễn thông,
thông tin, văn hoá, thương mại, ngân hàng, tài chính,
y tế, giáo dục, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và
các dịch vụ khác trên Internet.
Dịch vụ thông tin Internet là một loại hình dịch
vụ ứng dụng Internet bao gồm dịch vụ phát hành
báo chí (báo nói, báo hình, báo điện tử), phát
hành xuất bản phẩm trên Internet và dịch vụ cung
cấp các loại hình tin tức điện tử khác trên Internet.
Điều 13. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet
bao gồm: 1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet
(ISP) là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế,
được Tổng cục Bưu điện cấp giấy phép cung cấp
dịch vụ truy nhập Internet. Doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ truy nhập Internet phải tuân theo các quy
định của Nghị định này và các quy định về
quản lý dịch vụ truy nhập Internet do Tổng cục
Bưu điện ban hành.
2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối Internet
(IXP) là doanh nghiệp nhà nước, hoặc công ty cổ
phần mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối hoặc
cổ phần đặc biệt, được Tổng cục Bưu điện
cấp giấy phép cung cấp dịch vụ kết nối Internet.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối Internet phải
tuân theo các quy định của Nghị định này và các
quy định về quản lý dịch vụ kết nối Internet
do Tổng cục Bưu điện ban hành.
3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet
(OSP) là doanh nghiệp sử dụng Internet để cung cấp
các dịch vụ ứng dụng Internet cho người sử dụng.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet
ngoài việc chấp hành các quy định của Nghị định
này, phải tuân theo các quy định của pháp luật
về quản lý nhà nước chuyên ngành.
Điều 14. Đơn vị cung cấp dịch vụ thông
tin Internet (ICP) là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp giấy phép cung
cấp dịch vụ thông tin Internet. Các đơn vị cung
cấp dịch vụ thông tin Internet phải tuân theo các
quy định của Nghị định này và các quy định về
phát hành báo chí, phát hành xuất bản phẩm trên
Internet, các quy định về việc thiết lập và cung
cấp các loại hình tin tức điện tử trên Internet
do Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành.
Điều 15. Đơn vị cung cấp dịch vụ truy nhập
Internet dùng riêng (ISP dùng riêng) là cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp được Tổng cục Bưu điện cấp
giấy phép cung cấp dịch vụ truy nhập Internet dùng
riêng với các điều kiện sau: 1. Không nhằm mục đích kinh doanh dịch vụ truy nhập
Internet.
2. Đối tượng sử dụng dịch vụ Internet là thành
viên của hai hay nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
có cùng chung tính chất hoạt động hay mục đích
công việc và được liên kết với nhau thông qua
điều lệ hoạt động, hoặc văn bản quy định cơ
cấu tổ chức chung, hoặc hình thức liên kết, hoạt
động chung giữa các thành viên.
3. Tuân thủ các quy định của Nghị định này và
các quy định về quản lý dịch vụ truy nhập và
kết nối Internet do Tổng cục Bưu điện ban hành.
Điều 16. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài muốn cung cấp dịch vụ Internet ở Việt
Nam, ngoài việc chấp hành các quy định tại Nghị
định này, phải tuân theo các quy định của các
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham
gia và các quy định của pháp luật về đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 17. Căn cứ vào chiến
lược, quy hoạch phát triển Internet tại Việt Nam,
Tổng cục Bưu điện quy định thủ tục, điều kiện
cấp phép cung cấp dịch vụ truy nhập và dịch vụ
kết nối Internet; Bộ Văn hoá - Thông tin quy định
thủ tục, điều kiện cấp phép cung cấp dịch vụ
thông tin Internet; các Bộ, ngành theo lĩnh vực quản
lý nhà nước chuyên ngành quy định điều kiện cung
cấp các dịch vụ ứng dụng Internet khác.
Điều 18. Sau khi được
phép cung cấp dịch vụ Internet theo quy định của
pháp luật, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet:
1. Được thiết lập hệ thống thiết bị tại cơ
sở và các điểm phục vụ công cộng của mình để
cung cấp đầy đủ tất cả các dịch vụ Internet
cho người sử dụng dịch vụ ở Việt Nam và ở
nước ngoài theo đúng giấy phép hoặc các điều
kiện kinh doanh, điều kiện hoạt động, trừ các
dịch vụ thuộc danh mục dịch vụ Internet bị cấm
hoặc chưa được phép cung cấp theo quy định của
pháp luật. Việc cung cấp các dịch vụ Internet cho
người sử dụng dịch vụ ở nước ngoài phải tuân
thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước
nơi dịch vụ được cung cấp.
2. Được cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khác
thuê hệ thống thiết bị để cung cấp các dịch
vụ ứng dụng, dịch vụ thông tin Internet và cho người
sử dụng dịch vụ thuê hệ thống thiết bị để
đặt các loại hình tin tức điện tử trên Internet
theo quy định về quản lý dịch vụ và quản lý
thông tin trên Internet.
3. Có trách nhiệm áp dụng và tạo điều kiện cho
các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các biện
pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để bảo đảm an toàn,
an ninh cho hệ thống thiết bị và thông tin trên Internet.
Điều 19.
1. Cơ quan báo chí và nhà xuất bản có giấy phép
hoạt động theo quy định, được thiết lập hệ
thống thiết bị tại cơ sở của mình để trực
tiếp tổ chức phát hành hoặc Uỷ thác cho đơn vị
cung cấp dịch vụ thông tin Internet phát hành báo
và xuất bản phẩm trên Internet.
2. Khi phát hành báo, xuất bản phẩm trên Internet,
ngoài các quy định về quản lý, cung cấp và sử
dụng dịch vụ Internet, cơ quan báo chí, nhà xuất
bản và đơn vị cung cấp dịch vụ thông tin Internet
có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp
luật về quản lý báo chí, xuất bản.
Điều 20.
1. Đại lý Internet là tổ chức, cá nhân tại Việt
Nam nhân danh doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập,
dịch vụ ứng dụng Internet để cung cấp dịch vụ
truy nhập, dịch vụ ứng dụng Internet cho người
sử dụng thông qua hợp đồng đại lý và hưởng
thù lao.
2. Đại lý Internet có trách nhiệm:
a) Cung cấp dịch vụ cho người sử dụng dịch vụ
theo đúng các quy định về loại hình, chất lượng
và giá, cước dịch vụ đã thoả thuận trong hợp
đồng đại lý ký với doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ Internet.
b) Thực hiện các quy định về quản lý dịch vụ
Internet do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành.
Điều 21.
1. Người sử dụng dịch vụ Internet là tổ chức,
cá nhân tại Việt Nam sử dụng dịch vụ Internet
thông qua việc giao kết hợp đồng với đơn vị,
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet.
2. Hình thức của hợp đồng có thể là văn bản,
lời nói hoặc hành vi cụ thể theo quy định của
pháp luật. Đối với các loại hợp đồng cung cấp
và sử dụng dịch vụ Internet mà pháp luật quy định
phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo
các quy định đó. Nội dung của hợp đồng phải
phù hợp với các quy định của pháp luật về hợp
đồng.
Điều 22. Người sử dụng
dịch vụ Internet: 1. Được sử dụng các thiết bị truy nhập Internet
di động hoặc tự lắp đặt hệ thống thiết bị
tại địa điểm mà mình được toàn quyền sử dụng
theo quy định của pháp luật để truy nhập đến
các đơn vị, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy
nhập Internet trong nước bằng phương thức kết nối
trực tiếp qua kênh truyền dẫn hoặc quay số qua
mạng viễn thông, nhưng không được truy nhập đến
các đơn vị, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet
ở nước ngoài bằng cách quay số điện thoại quốc
tế trực tiếp.
2. Được sử dụng tất cả các dịch vụ ứng dụng
Internet của các đơn vị, doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ ứng dụng Internet trong nước và ở nước ngoài,
trừ các dịch vụ bị cấm hoặc chưa được phép
sử dụng.
3. Được thiết lập các loại hình tin tức điện
tử đặt tại hệ thống thiết bị của mình, của
các đơn vị, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet
trong nước và ở nước ngoài để giới thiệu, quảng
cáo về cơ quan, tổ chức, cá nhân và sản phẩm,
dịch vụ của mình theo quy định về quản lý các
loại hình tin tức điện tử trên Internet và tự
chịu trách nhiệm về các thông tin đó trước pháp
luật.
4. Có trách nhiệm bảo vệ mật khẩu, khoá mật mã
và hệ thống thiết bị của mình.
5. Không được kinh doanh lại các dịch vụ Internet.
Điều 23. Tài nguyên Internet
bao gồm hệ thống các tên và số dùng cho Internet,
được ấn định thống nhất trên phạm vi toàn cầu.
ở Việt Nam, tài nguyên Internet là một phần của
tài nguyên thông tin quốc gia cần được quản lý,
quy hoạch và sử dụng có hiệu quả.
Điều 24. Nhà nước có
chính sách quản lý phù hợp nhằm tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập,
dịch vụ kết nối Internet từng bước giảm giá,
cước các dịch vụ truy nhập, dịch vụ kết nối
Internet đến mức bằng hoặc thấp hơn bình quân
của các nước trong khu vực, nhằm phổ cập nhanh
Internet ở Việt Nam và nâng cao năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh
tế quốc tế.
Điều 25. Các tổ chức,
cá nhân sản xuất, nhập khẩu hệ thống thiết bị,
cung cấp các dịch vụ Internet và sử dụng tài nguyên
Internet có trách nhiệm nộp thuế, phí, lệ phí theo
quy định của pháp luật. Việc ưu đãi về thuế
được thực hiện theo các quy định hiện hành của
Nhà nước.
Điều 26. Để bảo đảm
quyền lợi của người sử dụng dịch vụ, các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm: 1. Đăng ký và công bố chỉ tiêu chất lượng dịch
vụ theo các quy định về quản lý chất lượng dịch
vụ của Nhà nước.
2. Bảo đảm cung cấp dịch vụ cho người sử dụng
theo đúng tiêu chuẩn đã đăng ký và công bố.
3. Báo cáo và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các
cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng dịch
vụ theo quy định.
Điều 27. Việc kết nối
Internet được thực hiện theo các nguyên tắc sau
đây: 1. Việc thiết lập và sử dụng các đường truyền
viễn thông kết nối các hệ thống thiết bị của
các đơn vị, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet
với nhau và với mạng viễn thông công cộng phải
tuân theo các quy định về viễn thông.
2. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối Internet
(IXP) được kết nối với nhau và với Internet quốc
tế.
3. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet
(ISP) được kết nối với nhau và với các IXP.
4. Các đơn vị cung cấp dịch vụ truy nhập Internet
dùng riêng (ISP dùng riêng) được kết nối với các
ISP và IXP, nhưng không được kết nối trực tiếp
với nhau.
5. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet
(OSP), các đơn vị cung cấp dịch vụ thông tin Internet
(ICP) được kết nối với các ISP và IXP.
6. Các đại lý Internet được kết nối đến các
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet ký hợp đồng
đại lý với mình.
Điều 28. Nội dung quản lý nhà nước về Internet
bao gồm: 1. Xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát
triển Internet.
2. Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật về quản lý, thiết lập hệ thống thiết bị,
cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet.
3. Quản lý việc cấp phép trong hoạt động Internet.
4. Quản lý tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng
dịch vụ Internet.
5. Quản lý giá, cước dịch vụ Internet.
6. Quản lý khoa học, công nghệ trong hoạt động
Internet.
7. Quản lý thông tin trên Internet.
8. Quản lý an toàn, an ninh trong hoạt động Internet.
9. Quản lý việc mã hoá và giải mã thông tin trên
Internet.
10. Quản lý tài nguyên Internet.
11. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp và xử
lý vi phạm trong hoạt động Internet.
12. Hợp tác quốc tế trong hoạt động Internet.
Điều 29.
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về
Internet trong phạm vi cả nước. Các Bộ, Cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về Internet theo
phân công của Chính phủ quy định tại Nghị định
này.
2. Chính phủ giao Tổng cục Bưu điện chức năng
điều hòa, phối hợp công tác quản lý nhà nước
về Internet của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và làm đầu mối trong
các hoạt động quốc tế về Internet.
Điều 30. Tổng cục Bưu điện thực hiện quản
lý nhà nước đối với việc thiết lập hệ thống
thiết bị, cung cấp và sử dụng dịch vụ truy nhập,
dịch vụ kết nối Internet, bao gồm: 1. Xây dựng chính sách, chiến lược và quy hoạch
phát triển Internet.
2. Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định
về cấp phép và quản lý dịch vụ truy nhập, dịch
vụ kết nối Internet.
3. Quy hoạch, quản lý và phân bổ tài nguyên Internet.
4. Chủ trì, phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ
quản lý hệ thống chứng thực trên Internet.
Điều 31. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
thực hiện quản lý nhà nước việc nghiên cứu ứng
dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến trong
các hoạt động Internet.
Điều 32. Bộ Văn hóa -
Thông tin thực hiện quản lý nhà nước đối với
thông tin trên Internet, bao gồm: 1. Ban hành và hướng dẫn thực hiện các qui định
về quản lý thông tin trên Internet.
2. Ban hành và hướng dẫn thực hiện các qui định
về cấp phép và quản lý đối với việc phát hành
báo chí, xuất bản phẩm trên Internet; các quy định
về quản lý việc thiết lập và cung cấp các loại
hình tin tức điện tử trên Internet.
Điều 33. Bộ Công an thực
hiện quản lý nhà nước đối với việc bảo đảm
an ninh trong hoạt động Internet, bao gồm: 1. Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ đảm bảo
an ninh quốc gia đối với hoạt động Internet.
2. Xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp
kỹ thuật để quản lý an ninh thông tin trên Internet
theo quy định của pháp luật, trên cơ sở bảo đảm
chất lượng dịch vụ Internet.
Điều 34. Bộ Tài chính
có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính
phủ quyết định cơ chế hỗ trợ tài chính đối
với việc cung cấp và sử dụng dịch vụ truy nhập,
dịch vụ kết nối Internet cho các đối tượng ưu
tiên quy định tại Điều 4 Nghị định này.
Điều 35. Ban Cơ yếu Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với việc
mã hoá và giải mã thông tin trên Internet, bao gồm: 1. Tổ chức nghiên cứu xây dựng chính sách, tiêu
chuẩn mật mã quốc gia sử dụng trên Internet.
2. Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định
về cung cấp và sử dụng mã hóa và giải mã thông
tin trên Internet.
Điều 36. Các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện quản
lý nhà nước đối với các dịch vụ ứng dụng
Internet thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của
mình, bao gồm: 1. Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định
quản lý đối với việc cung cấp và sử dụng các
dịch vụ ứng dụng Internet.
2. Ban hành và công bố danh mục các dịch vụ ứng
dụng Internet bị cấm hoặc chưa được phép cung
cấp và sử dụng trên Internet.
Điều 37. Uỷ ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối
hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ thực hiện việc quản lý hoạt động
Internet trên địa bàn tỉnh, thành phố theo các quy
định của Nghị định này.
Điều 38. Việc khiếu nại
đối với quyết định hành chính và hành vi hành
chính về các hoạt động Internet; việc tố cáo với
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các hành
vi vi phạm liên quan đến hoạt động Internet được
thực hiện theo quy định của Luật Khiếu nại, tố
cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998.
Điều 39. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu
nại nghiệp vụ đối với việc cung cấp và sử
dụng dịch vụ Internet được thực hiện theo quy
định của các cơ quan quản lý nhà nước về Internet
nêu ở Chương III của Nghị định này.
Điều 40.
1. Căn cứ vào nội dung quản lý nhà nước đã được
quy định tại Chương III Nghị định này, các cơ
quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tổ chức,
chỉ đạo hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm chấn
chỉnh, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm
trong hoạt động Internet.
2. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, các
đơn vị cung cấp dịch vụ truy nhập Internet dùng
riêng, các đơn vị cung cấp dịch vụ thông tin Internet,
đại lý và người sử dụng dịch vụ Internet chịu
sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Điều 41. Các hành vi vi phạm, hình thức và
mức xử phạt vi phạm hành chính về Internet được
quy định như sau: 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng
đến 200.000 đồng đối với hành vi không khai báo
làm thủ tục cấp lại khi giấy phép cung cấp dịch
vụ Internet bị mất, hoặc bị hư hỏng.
2. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng
đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Sử dụng mật khẩu, khoá mật mã, thông tin riêng
của người khác để truy nhập, sử dụng dịch vụ
Internet trái phép.
b) Sử dụng các công cụ phần mềm để truy nhập,
sử dụng dịch vụ Internet trái phép.
3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng
đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Vi phạm các quy định của Nhà nước về tiêu
chuẩn, chất lượng trong việc sử dụng dịch vụ
Internet.
b) Vi phạm các quy định của Nhà nước về giá,
cước trong việc sử dụng dịch vụ Internet.
c) Vi phạm các quy định của Nhà nước về quản
lý tài nguyên Internet trong việc sử dụng dịch vụ
Internet.
d) Vi phạm các quy định của Nhà nước về quản
lý truy nhập, kết nối Internet trong việc sử dụng
dịch vụ Internet.
đ) Vi phạm các quy định của Nhà nước về mã hoá
và giải mã thông tin trên Internet trong việc sử dụng
dịch vụ Internet.
e) Vi phạm các quy định của Nhà nước về an toàn,
an ninh thông tin trên Internet trong việc sử dụng dịch
vụ Internet.
4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng
đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Ngừng hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ Internet
mà không thông báo cho người sử dụng dịch vụ
Internet biết trước, trừ trường hợp bất khả
kháng.
b) Sửa chữa, tẩy xóa làm thay đổi nội dung giấy
phép cung cấp dịch vụ Internet.
c) Sử dụng quá hạn giấy phép cung cấp dịch vụ
Internet.
5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng
đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Vi phạm các quy định của Nhà nước về tiêu
chuẩn, chất lượng dịch vụ Internet trong việc cung
cấp dịch vụ Internet.
b) Vi phạm các quy định của Nhà nước về giá,
cước dịch vụ Internet trong việc cung cấp dịch
vụ Internet.
c) Vi phạm các quy định của Nhà nước về quản
lý tài nguyên Internet trong việc cung cấp dịch vụ
Internet.
d) Vi phạm các quy định của Nhà nước về quản
lý truy nhập, kết nối Internet trong việc cung cấp
dịch vụ Internet.
đ) Vi phạm các quy định của Nhà nước về mã hoá
và giải mã thông tin trên Internet trong việc cung cấp
dịch vụ Internet.
e) Vi phạm các quy định của Nhà nước về an toàn,
an ninh thông tin trên Internet trong việc cung cấp dịch
vụ Internet.
g) Sử dụng Internet để nhằm mục đích đe dọa,
quấy rối, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm người
khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự.
h) Đưa vào Internet hoặc lợi dụng Internet để truyền
bá các thông tin, hình ảnh đồi trụy, hoặc những
thông tin khác trái với quy định của pháp luật
về nội dung thông tin trên Internet, mà chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
i) Đánh cắp mật khẩu, khoá mật mã, thông tin riêng
của tổ chức, cá nhân và phổ biến cho người khác
sử dụng.
k) Vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và
sử dụng máy tính gây rối loạn hoạt động, phong
toả hoặc làm biến dạng, làm hUỷ hoại các dữ
liệu trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự.
6. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Thiết lập hệ thống thiết bị và cung cấp dịch
vụ Internet không đúng với các quy định ghi trong
giấy phép.
b) Tạo ra và cố ý lan truyền, phát tán các chương
trình vi rút trên Internet mà chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự.
7. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng
đối với hành vi thiết lập hệ thống thiết bị
và cung cấp dịch vụ Internet khi không có giấy phép.
8. Ngoài các hình thức xử phạt chính, tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà tổ chức, cá nhân còn
có thể bị áp dụng một hay nhiều hình thức xử
phạt bổ sung hoặc biện pháp khắc phục hậu quả
sau đây:
a) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc cung cấp
và sử dụng dịch vụ Internet đối với các hành
vi vi phạm tại điểm a khoản 2, điểm b khoản 2,
các điểm tại khoản 3, các điểm tại khoản 5 và
điểm b khoản 6 Điều 41.
b) Tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn
hoặc không thời hạn đối với hành vi vi phạm quy
định tại điểm b khoản 4 và điểm a khoản 6 Điều
41.
c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
để vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm
quy định tại điểm b khoản 4, điểm a khoản 6 và
khoản 7 Điều 41.
d) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị
thay đổi do vi phạm hành chính gây ra đối với hành
vi vi phạm quy định tại điểm k khoản 5, điểm
b khoản 6 Điều 41.
Điều 42. Thanh tra chuyên ngành và Uỷ ban nhân
dân các cấp xử phạt vi phạm hành chính đối với
các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động Internet
theo chức năng quản lý nhà nước và thẩm quyền
xử phạt quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính.
Điều 43. Nguyên tắc xử phạt, thời hạn xử
phạt, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, tình
tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, thời hiệu
xử phạt và thời hạn được coi là chưa bị xử
phạt các vi phạm hành chính về Internet được thực
hiện theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính.
Điều 44. Tổ chức, cá nhân gây thiệt hại
cho tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động cung cấp,
sử dụng dịch vụ Internet phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
Điều 45. Hành vi lợi dụng
Internet để chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và gây rối an ninh, trật tự;
các hành vi vi phạm nghiêm trọng khác có dấu hiệu
tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật.
Điều 46. Nghị định này
có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký
và thay thế Nghị định số 21/CP ngày 05 tháng 3 năm
1997 của Chính phủ ban hành Quy chế tạm thời về
quản lý, thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt
nam. Bãi bỏ điểm c khoản 3 và điểm c khoản 4 Điều
11 Nghị định số 79/CP ngày 19 tháng 6 năm 1997 của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý nhà nước về bưu chính,
viễn thông và tần số vô tuyến điện.
Điều 47. Tổng cục Bưu
điện chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn
và kiểm tra việc thi hành Nghị định này.
Điều 48. Các Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách
nhiệm thi hành Nghị định này. |