|
Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Pháp lệnh Luật sư ngày 25 tháng 7 năm 2001;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh
Luật sư về điều kiện hành nghề luật sư, tổ
chức hành nghề luật sư, thù lao luật sư, Đoàn
luật sư, quản lý hành nghề luật sư, xử lý vi
phạm về hành nghề luật sư và việc chuyển tiếp
đối với luật sư, Đoàn luật sư.
Điều 2. Quyền hành nghề
của luật sư
Người có đủ điều kiện theo quy định của Pháp
lệnh Luật sư được hành nghề luật sư theo các
hình thức và phạm vi hành nghề quy định tại Pháp
lệnh Luật sư, Nghị định này và các quy định
khác có liên quan của pháp luật.
Điều 3. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
đối với luật sư và hành nghề luật sư 1. Nhà nước khuyến khích phát triển nghề luật
sư và thực hiện các biện pháp hỗ trợ luật sư,
tổ chức hành nghề luật sư trong hoạt động nghề
nghiệp.
2. Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của
cơ quan nhà nước phải tôn trọng quyền của luật
sư trong hành nghề, không được có hành vi cản trở
luật sư thực hiện các quyền, nghĩa vụ của họ
đã được pháp luật quy định.
3. Cơ quan quản lý nhà nước về tổ chức luật
sư và hành nghề luật sư có trách nhiệm hướng
dẫn, tạo điều kiện, kiểm tra, thanh tra về tổ
chức luật sư và hành nghề luật sư nhằm bảo đảm
sự tuân thủ pháp luật của luật sư và tổ chức
luật sư trong hoạt động nghề nghiệp.
4. Người có hành vi vi phạm pháp luật về tổ chức
luật sư và hành nghề luật sư thì bị xử lý nghiêm
minh theo quy định của pháp luật.
Điều 4. Gia nhập Đoàn luật sư 1. Người muốn hành nghề luật sư phải gia nhập
Đoàn luật sư của địa phương nơi mình cư trú.
Nơi cư trú của một người được xác định theo
quy định tại Điều 48 của Bộ luật Dân sự.
2. Người muốn gia nhập Đoàn luật sư phải có đủ
các điều kiện quy định tại Điều 8 của Pháp
lệnh Luật sư.
Người có trình độ đại học luật quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 8 của Pháp lệnh Luật sư
là người có bằng cử nhân luật hoặc bằng tốt
nghiệp đại học chuyên ngành luật do cơ sở giáo
dục đại học của Việt Nam cấp, hoặc có bằng
tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật do cơ sở
giáo dục đại học của nước ngoài cấp và được
công nhận tại Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo và Điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham
gia.
Người tốt nghiệp khoá đào tạo nghề luật sư
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 của Pháp
lệnh Luật sư là người có giấy chứng nhận tốt
nghiệp khoá đào tạo nghề luật sư do cơ sở đào
tạo nghề luật sư ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài
cấp. Thời gian đào tạo tại cơ sở đào tạo nghề
luật sư ở Việt Nam là 6 tháng. Bộ Tư pháp quy định
nội dung, hình thức, quy hoạch đào tạo nghề luật
sư ở Việt Nam và công nhận giấy chứng nhận tốt
nghiệp khoá đào tạo nghề luật sư do cơ sở đào
tạo nghề luật sư ở nước ngoài cấp.
Điều 5. Chế độ tập sự hành nghề luật
sư 1. Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư giới thiệu luật
sư tập sự với tổ chức hành nghề luật sư để
luật sư tập sự có điều kiện rèn luyện đầy
đủ các kỹ năng hành nghề luật sư và đạo đức
nghề nghiệp luật sư. Tổ chức hành nghề luật
sư có nghĩa vụ nhận luật sư tập sự và cử luật
sư hướng dẫn luật sư tập sự.
Trong trường hợp luật sư tập sự đã thoả thuận
được với một tổ chức hành nghề luật sư về
việc nhận luật sư tập sự đó thì Ban Chủ nhiệm
Đoàn luật sư giới thiệu luật sư tập sự với
tổ chức hành nghề luật sư đó.
Tổ chức hành nghề luật sư phải tạo điều kiện
cho luật sư tập sự thực hành các kỹ năng hành
nghề luật sư. Luật sư tập sự phải chấp hành
nội quy của tổ chức hành nghề luật sư, thực
hiện những nhiệm vụ do tổ chức hành nghề luật
sư giao.
Căn cứ quy định của Pháp lệnh Luật sư và Nghị
định này, Đoàn luật sư quy định cụ thể việc
giới thiệu, nhận và việc tập sự của luật sư
tập sự tại tổ chức hành nghề luật sư.
2. Luật sư tập sự được tham gia tố tụng trong
các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án
nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực theo
sự phân công của luật sư hướng dẫn và khi được
khách hàng đồng ý. Khi tham gia tố tụng, luật sư
tập sự có các quyền và nghĩa vụ của luật sư
theo quy định của pháp luật tố tụng và Pháp lệnh
Luật sư. Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền
của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự
quân khu và tương đương, luật sư tập sự được
cùng với luật sư hướng dẫn nghiên cứu hồ sơ,
gặp bị can, bị cáo và đương sự khác, khi được
họ đồng ý.
Luật sư tập sự được thực hiện tư vấn pháp
luật và các dịch vụ pháp lý khác cho khách hàng
theo sự phân công của luật sư hướng dẫn khi được
khách hàng đồng ý, nhưng không được ký văn bản
tư vấn pháp luật và phải chịu trách nhiệm về
chất lượng công việc mà mình thực hiện trước
luật sư hướng dẫn và tổ chức hành nghề luật
sư nơi mình tập sự.
Điều 6. Thể thức kiểm
tra hết tập sự 1. Bộ Tư pháp tổ chức kiểm tra hết tập sự hành
nghề luật sư cho các luật sư tập sự.
Việc kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư được
tổ chức theo khu vực theo quy định của Bộ Tư pháp.
Thành phần Hội đồng kiểm tra bao gồm các luật
sư có trình độ và uy tín nghề nghiệp, đại diện
Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức hữu quan là các
chuyên gia pháp lý am hiểu nghề luật sư.
Bộ Tư pháp ban hành Quy chế kiểm tra hết tập sự
hành nghề luật sư.
2. Luật sư tập sự đạt yêu cầu kiểm tra hết
tập sự được Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư đề
nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Người
không đạt yêu cầu kiểm tra thì được gia hạn
tập sự tối đa là 2 lần, mỗi lần gia hạn từ
6 tháng đến 12 tháng. Sau lần gia hạn thứ hai mà
luật sư tập sự vẫn không đạt yêu cầu kiểm
tra thì bị xoá tên khỏi danh sách luật sư tập sự
của Đoàn luật sư.
Điều 7. Sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật
sư
Người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và là thành
viên Đoàn luật sư mới được sử dụng Chứng chỉ
hành nghề luật sư để hành nghề luật sư.
Điều 8. Hình thức tổ chức hành nghề luật
sư 1. Hình thức tổ chức hành nghề luật sư là Văn
phòng luật sư và Công ty luật hợp danh được quy
định tại các điều 17, 18 và 19 của Pháp lệnh
Luật sư.
2. Luật sư hành nghề với tư cách là thành viên
của Văn phòng luật sư hoặc của Công ty luật hợp
danh hoặc là người làm việc theo hợp đồng cho
Văn phòng luật sư hoặc cho Công ty luật hợp danh.
3. Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham
gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư.
Điều 9. Điều lệ Công ty luật hợp danh, Hợp
đồng thành lập Văn phòng luật sư 1. Điều lệ Công ty luật hợp danh gồm có những
nội dung chính sau đây:
a) Tên, địa chỉ trụ sở;
b) Lĩnh vực hành nghề;
c) Họ, tên, địa chỉ thường trú của các luật
sư thành viên;
d) Quyền và nghĩa vụ của các luật sư thành viên;
đ) Phần đóng góp của mỗi luật sư thành viên;
e) Điều kiện và thủ tục tham gia hoặc rút tên
khỏi danh sách luật sư thành viên;
g) Cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành;
h) Thể thức thông qua quyết định, nghị quyết;
nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ;
i) Nguyên tắc phân chia lợi nhuận và trách nhiệm
của các luật sư thành viên đối với nghĩa vụ
của Công ty;
k) Các trường hợp tạm ngừng, chấm dứt hoạt động
và thủ tục thanh lý tài sản;
l) Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công ty
luật hợp danh.
Điều lệ Công ty luật hợp danh phải có chữ ký
của tất cả luật sư thành viên.
2. Hợp đồng thành lập Văn phòng luật sư do một
số luật sư thành lập có những nội dung chính như
đối với Điều lệ Công ty luật hợp danh quy định
tại khoản 1 Điều này và phải có chữ ký của
tất cả luật sư thành viên của Văn phòng luật
sư.
Điều 10. Thành lập và
đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh 1. Luật sư thành lập tổ chức hành nghề luật sư
tại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà mình là
thành viên. Trong trường hợp luật sư của các Đoàn
luật sư khác nhau muốn cùng thành lập một tổ chức
hành nghề luật sư, thì có thể lựa chọn thành
lập và đăng ký hoạt động của tổ chức hành
nghề luật sư đó tại một trong các địa phương
nơi có Đoàn luật sư mà họ là thành viên.
2. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đăng
ký hoạt động tại Sở Tư pháp của địa phương
nơi đặt trụ sở của Văn phòng luật sư, Công ty
luật hợp danh. Thủ tục đăng ký hoạt động của
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh được
thực hiện theo quy định tại Điều 20 của Pháp
lệnh Luật sư.
3. Đơn đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh có nội dung chính sau đây:
a) Tên Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh;
b) Địa chỉ trụ sở;
c) Họ, tên, địa chỉ thường trú của các luật
sư sáng lập viên;
d) Họ, tên, địa chỉ thường trú của người đại
diện theo pháp luật;
đ) Lĩnh vực hành nghề.
4. Trong trường hợp hồ sơ có nội dung chưa đúng
hoặc chưa đầy đủ, Sở Tư pháp phải thông báo
bằng văn bản cho người làm đơn trong thời hạn
07 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ. Thông báo phải
nêu rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung và cách
thức sửa đổi, bổ sung.
5. Sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ đầy đủ
và đúng quy định mà không nhận được Giấy đăng
ký hoạt động, thì người làm đơn có quyền gửi
khiếu nại đến Sở Tư pháp nơi tiếp nhận hồ
sơ đăng ký hoạt động. Thủ tục giải quyết khiếu
nại theo quy định tại khoản 1 Điều 41 của Pháp
lệnh Luật sư.
6. Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh được làm thành 2 bản.
Một bản cấp cho Văn phòng luật sư hoặc Công ty
luật hợp danh, một bản lưu tại Sở Tư pháp.
7. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày cấp Giấy
đăng ký hoạt động cho Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh, Sở Tư pháp gửi bản sao Giấy
đăng ký hoạt động cho Cục Thuế của địa phương
và Bộ Tư pháp.
8. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh phải
nộp lệ phí đăng ký hoạt động theo mức lệ phí
đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Chế độ quản
lý và sử dụng lệ phí đăng ký hoạt động của
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh được
thực hiện theo chế độ quản lý và sử dụng lệ
phí đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.
9. Sau khi được cấp Giấy đăng ký hoạt động,
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh được
khắc và sử dụng con dấu của mình theo quy định
của pháp luật về con dấu.
10. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh phải
gửi thông báo về việc đăng ký hoạt động cho
Đoàn luật sư của địa phương nơi đăng ký hoạt
động.
11. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh báo
cáo Sở Tư pháp định kỳ 6 tháng và hàng năm về
tình hình tổ chức, hoạt động của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh theo hướng dẫn của Bộ
Tư pháp.
Điều 11. Nội dung Giấy
đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh
Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh có nội dung chính sau đây: 1. Tên, địa chỉ trụ sở.
2. Lĩnh vực hành nghề.
3. Họ, tên người đại diện theo pháp luật.
4. Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú của luật sư thành
viên.
Bộ Tư pháp quy định mẫu Giấy đăng ký hoạt động
của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh.
Điều 12. Thủ tục thay đổi nội dung Giấy
đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh.
1. Khi thay đổi tên, địa chỉ trụ sở, lĩnh vực
hành nghề, danh sách thành viên, người đại diện
theo pháp luật thì Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư
pháp của địa phương nơi đăng ký hoạt động chậm
nhất là 10 ngày trước khi thực hiện việc thay đổi.
Thông báo có các nội dung chính sau đây:
a) Tên của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh;
b) Địa chỉ trụ sở;
c) Số Giấy đăng ký hoạt động, ngày tháng năm
cấp;
d) Lĩnh vực hành nghề;
đ) Nội dung thay đổi;
e) Chữ ký của người đại diện theo pháp luật.
Trong trường hợp bổ sung thành viên thì kèm theo
thông báo phải có bản sao Chứng chỉ hành nghề
luật sư của thành viên mới.
2. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận thông
báo, Sở Tư pháp ghi nội dung thay đổi vào Giấy
đăng ký hoạt động; trong trường hợp nội dung
thay đổi không phù hợp với quy định của pháp
luật thì Sở Tư pháp từ chối việc thay đổi nội
dung Giấy đăng ký hoạt động và thông báo bằng
văn bản cho Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh.
3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ghi nội dung
thay đổi vào Giấy đăng ký hoạt động, Sở Tư
pháp thông báo cho Cục Thuế của địa phương và
báo cáo Bộ Tư pháp về nội dung thay đổi.
4. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày được thay
đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động, Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh phải thông báo cho
Đoàn luật sư nơi đặt trụ sở của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh.
Điều 13. Đăng ký hoạt động của chi nhánh
Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật hợp danh 1. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh có thể
lập chi nhánh ở trong hoặc ngoài tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở của Văn
phòng luật sư, Công ty luật hợp danh.
Trưởng chi nhánh của Văn phòng luật sư, Trưởng
chi nhánh của Công ty luật hợp danh phải là luật
sư và làm việc thường xuyên tại chi nhánh.
2. Thủ tục đăng ký hoạt động của chi nhánh Văn
phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật hợp danh được
thực hiện theo quy định tại Điều 24 của Pháp
lệnh Luật sư. Trong trường hợp Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh lập chi nhánh ngoài tỉnh,
thành phố nơi đặt trụ sở thì trong thời hạn
07 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt
động của chi nhánh, Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh phải gửi thông báo bằng văn bản cho Sở
Tư pháp nơi Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh đặt trụ sở và Đoàn luật sư nơi đặt trụ
sở của chi nhánh.
3. Khi đăng ký hoạt động của chi nhánh, Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh phải nộp lệ phí
đăng ký theo mức lệ phí đăng ký lập chi nhánh
của doanh nghiệp. Chế độ quản lý và sử dụng
lệ phí đăng ký lập chi nhánh Văn phòng luật sư,
chi nhánh Công ty luật hợp danh được thực hiện
theo chế độ quản lý và sử dụng lệ phí đăng
ký lập chi nhánh của doanh nghiệp.
4. Sau khi được cấp Giấy đăng ký hoạt động,
chi nhánh Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật
hợp danh được khắc và sử dụng con dấu của mình
theo quy định của pháp luật về con dấu.
Điều 14. Hợp đồng dịch
vụ pháp lý
Việc giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý được
thực hiện theo quy định tại Điều 25 của Pháp
lệnh Luật sư. Đối với các vụ việc đơn giản
có thể thực hiện ngay thì Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh có thể thoả thuận miệng với
khách hàng, nhưng phải tuân theo quy định về chế
độ lập chứng từ, kế toán.
Điều 15. Thuê luật sư
nước ngoài làm việc cho Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh 1. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh có thể
thuê luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép
hành nghề tại Việt Nam để làm việc cho Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh. Thủ tục cấp Giấy
phép hành nghề tại Việt Nam cho luật sư nước ngoài
được thực hiện theo quy định của pháp luật về
hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam.
Quyền và nghĩa vụ của luật sư nước ngoài làm
thuê cho Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh
được thoả thuận trong hợp đồng lao động phù
hợp với Pháp lệnh Luật sư, Nghị định này, pháp
luật về lao động và pháp luật về hành nghề của
luật sư nước ngoài tại Việt Nam.
2. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng
thuê luật sư nước ngoài, Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh phải có văn bản thông báo cho Sở
Tư pháp của địa phương nơi Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh đặt trụ sở kèm theo hợp
đồng thuê luật sư nước ngoài.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp
đồng thuê luật sư nước ngoài, Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh phải thông báo bằng văn
bản cho Sở Tư pháp của địa phương nơi Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh đặt trụ sở.
Điều 16. Thu hồi Giấy
đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh, chi nhánh Văn phòng luật sư, chi
nhánh Công ty luật hợp danh 1. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh bị thu
hồi Giấy đăng ký hoạt động trong các trường
hợp sau đây:
a) Không hoạt động trong một năm liên tục, kể
từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động hoặc
ngừng hoạt động trong một năm liên tục mà không
làm thủ tục tạm ngừng hoạt động theo quy định
tại Điều 17 của Nghị định này;
b) Không báo cáo định kỳ trong 2 năm liên tiếp.
2. Chi nhánh Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật
hợp danh bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động trong
các trường hợp sau đây:
a) Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đã lập
chi nhánh đó bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động;
b) Không hoạt động trong một năm liên tục, kể
từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động;
c) Không báo cáo định kỳ trong 2 năm liên tiếp.
Điều 17. Tạm ngừng hoạt
động của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh 1. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh có thể
tạm ngừng hoạt động.
Chậm nhất là 15 ngày trước ngày dự kiến tạm
ngừng hoạt động, Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư
pháp nơi Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh
đăng ký hoạt động. Văn phòng luật sư, Công ty
luật hợp danh được tạm ngừng hoạt động kể
từ ngày có văn bản chấp thuận của Sở Tư pháp.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định
chấp thuận việc tạm ngừng hoạt động, Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh phải thông báo với
Đoàn luật sư và Cục Thuế của địa phương nơi
đăng ký hoạt động. Thời gian tạm ngừng hoạt
động không quá 02 năm.
Thông báo về việc tạm ngừng hoạt động có nội
dung chính sau đây:
a) Tên của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh;
b) Số, ngày cấp Giấy đăng ký hoạt động;
c) Địa chỉ trụ sở chính;
d) Thời gian tạm ngừng hoạt động, ngày bắt đầu
và ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng hoạt động;
đ) Lý do tạm ngừng hoạt động;
e) Báo cáo về việc thanh toán nợ, giải quyết các
hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết với khách
hàng và hợp đồng lao động đã ký với luật sư,
nhân viên của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh.
2. Trước khi tạm ngừng hoạt động, Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh phải nộp đủ số thuế
còn nợ; chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ
đã đến hạn, thoả thuận với luật sư, nhân viên
của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh về
những vấn đề liên quan đến hợp đồng lao động
đã ký với họ.
Đối với các hợp đồng dịch vụ pháp lý mà Văn
phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đã ký với
khách hàng nhưng chưa thực hiện xong, thì phải thoả
thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng
dịch vụ pháp lý đó; nếu được khách hàng đồng
ý thì bàn giao hợp đồng dịch vụ pháp lý cho Văn
phòng luật sư, Công ty luật hợp danh khác.
3. Trong trường hợp Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh tạm ngừng hoạt động thì các chi nhánh
của Văn phòng luật sư, các chi nhánh của Công ty
luật hợp danh đó đương nhiên cũng phải tạm ngừng
hoạt động.
4. Chậm nhất là 15 ngày, trước ngày dự kiến hoạt
động trở lại, Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh gửi thông báo bằng văn bản cho Đoàn luật
sư và Sở Tư pháp, Cục Thuế của địa phương nơi
đăng ký hoạt động về việc hoạt động trở lại.
Điều 18. Chấm dứt hoạt động của Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh 1. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh chấm
dứt hoạt động trong các trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều 26 của Pháp lệnh Luật sư.
2. Trong trường hợp tự chấm dứt hoạt động thì
chậm nhất là 30 ngày, trước thời điểm dự kiến
chấm dứt hoạt động, Văn phòng luật sư, Công ty
luật hợp danh phải thông báo bằng văn bản cho Sở
Tư pháp, Đoàn luật sư của địa phương nơi đăng
ký hoạt động; phải đăng báo hàng ngày của Trung
ương hoặc địa phương hoặc báo chuyên ngành luật
trong 3 số liên tiếp về việc chấm dứt hoạt động.
Trước thời điểm chấm dứt hoạt động, Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh phải nộp đủ số
thuế còn nợ; thanh toán xong các khoản nợ khác;
làm xong thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động
đã ký với luật sư, nhân viên của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh; thực hiện xong các hợp
đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng. Trong
trường hợp không thể thực hiện xong hợp đồng
dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng, thì phải
thoả thuận với khách hàng về việc thực hiện
hợp đồng dịch vụ pháp lý đó; nếu được khách
hàng đồng ý thì bàn giao hợp đồng dịch vụ pháp
lý cho Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh khác.
3. Trong trường hợp thu hồi Giấy đăng ký hoạt
động của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Nghị
định này thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày
thu hồi Giấy đăng ký hoạt động, Sở Tư pháp có
trách nhiệm thông báo với Đoàn luật sư và Cục
Thuế của địa phương nơi Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh đăng ký hoạt động về việc thu
hồi Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh đó. Trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt
động, Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh
phải đăng báo hàng ngày của Trung ương hoặc địa
phương hoặc báo chuyên ngành luật trong 3 số liên
tiếp về việc chấm dứt hoạt động của Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh.
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày bị thu hồi
Giấy đăng ký hoạt động, Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh phải nộp đủ số thuế còn nợ;
thanh toán xong các khoản nợ khác; làm xong thủ tục
chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với luật
sư, nhân viên của Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh; thực hiện xong các hợp đồng dịch vụ
pháp lý đã ký với khách hàng. Trong trường hợp
không thể thực hiện xong hợp đồng dịch vụ pháp
lý đã ký với khách hàng, thì phải thoả thuận
với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý đó; nếu được khách hàng đồng ý
thì bàn giao hợp đồng dịch vụ pháp lý cho Văn
phòng luật sư, Công ty luật hợp danh khác.
Điều 19. Chấm dứt hoạt động của chi nhánh
Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật hợp danh
Chi nhánh Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật
hợp danh chấm dứt hoạt động trong các trường
hợp sau đây: 1. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đã lập
chi nhánh chấm dứt hoạt động theo quy định tại
Điều 18 của Nghị định này.
2. Theo quyết định của Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh đã lập chi nhánh.
3. Bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động theo quy
định tại khoản 2 Điều 16 và Điều 37 của Nghị
định này.
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh phải chịu
trách nhiệm giải quyết mọi vấn đề có liên quan
đến việc chấm dứt hoạt động của chi nhánh do
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh lập ra.
Điều 20. Đặt cơ sở hành nghề ở nước
ngoài 1. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh có đủ
các điều kiện sau đây thì được đặt cơ sở
hành nghề ở nước ngoài:
a) Đã thành lập từ 3 năm trở lên;
b) Hoạt động có hiệu quả trong 2 năm gần nhất,
trước ngày dự kiến đặt cơ sở hành nghề ở
nước ngoài;
c) Không bị xử phạt hành chính trong 3 năm gần nhất,
trước ngày dự kiến đặt cơ sở hành nghề ở
nước ngoài.
2. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh muốn
đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài phải có văn
bản đề nghị Bộ Tư pháp. Kèm theo văn bản đề
nghị phải có các giấy tờ sau đây:
a) Bản sao Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh;
b) Báo cáo về tình hình hoạt động, tình hình tài
chính của Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hợp
danh trong 2 năm gần nhất.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
văn bản đề nghị, Bộ Tư pháp có văn bản chấp
thuận việc đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài
của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh; trong
trường hợp từ chối phải thông báo rõ lý do bằng
văn bản cho người đề nghị. Người bị từ chối
có quyền khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều
41 của Pháp lệnh Luật sư.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài cho phép đặt cơ
sở hành nghề ở nước ngoài, Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh phải thông báo bằng văn bản
cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Cục Thuế và Đoàn
luật sư của địa phương nơi có trụ sở của Văn
phòng luật sư, Công ty luật hợp danh.
Cơ sở hành nghề ở nước ngoài của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh phải tuân thủ pháp luật
của nước nơi đặt cơ sở hành nghề, hoạt động
trong phạm vi các lĩnh vực được ghi trong Giấy đăng
ký hoạt động của Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh tại Việt Nam và được cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài cho phép.
3. Khi chấm dứt hoạt động của cơ sở hành nghề
ở nước ngoài thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ
ngày chấm dứt hoạt động, Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh phải thông báo bằng văn bản cho
Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Cục Thuế và Đoàn luật
sư của địa phương nơi có trụ sở của Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh.
Điều 21. Cử luật sư thực
hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh được
cử luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước
ngoài theo yêu cầu của khách hàng. Việc ra nước
ngoài của luật sư phải tuân theo quy định của
pháp luật về xuất nhập cảnh.
Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài
phải tuân theo quy định của Pháp lệnh Luật sư,
Nghị định này và các quy định khác của pháp luật
có liên quan. Khoản thù lao mà khách hàng trả cho
luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài
được thực hiện theo hợp đồng dịch vụ pháp
lý do khách hàng thoả thuận với Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh. Thù lao được thanh toán
cho luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước
ngoài phải được thể hiện trong sổ sách, chứng
từ kế toán của Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh theo đúng quy định của chế độ tài chính
- kế toán hiện hành của Việt Nam.
Điều 22. Hợp nhất Văn phòng luật sư, hợp
nhất Công ty luật hợp danh 1. Hai hoặc một số Văn phòng luật sư có thể thoả
thuận hợp nhất thành một Văn phòng luật sư mới.
Thủ tục hợp nhất được quy định như sau:
a) Các Văn phòng luật sư chuẩn bị hợp đồng hợp
nhất và hợp đồng thành lập Văn phòng luật sư
mới.
Trong hợp đồng hợp nhất phải có quy định về
thủ tục và điều kiện hợp nhất; phương án sử
dụng lao động; thời hạn, thủ tục và điều kiện
chuyển đổi tài sản; thời hạn thực hiện hợp
nhất. Hợp đồng hợp nhất phải được gửi cho
tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao
động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
được thông qua.
Hợp đồng thành lập Văn phòng luật sư mới phải
có chữ ký của tất cả thành viên của Văn phòng
luật sư mới và có nội dung của hợp đồng thành
lập Văn phòng luật sư quy định tại Điều 9 của
Nghị định này.
b) Thủ tục đăng ký hoạt động, đăng báo về việc
thành lập Văn phòng luật sư mới được thực hiện
theo quy định tại Điều 20, Điều 21 của Pháp lệnh
Luật sư và Điều 10 của Nghị định này. Ngoài
các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 20 của
Pháp lệnh Luật sư, trong hồ sơ đăng ký hoạt động
của Văn phòng luật sư mới phải có hợp đồng
hợp nhất.
Sau khi Văn phòng luật sư mới được cấp Giấy đăng
ký hoạt động, các Văn phòng luật sư cũ chấm dứt
tồn tại, Văn phòng luật sư mới được hưởng
các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm
về các khoản nợ chưa thanh toán, các hợp đồng
dịch vụ pháp lý đang thực hiện, hợp đồng lao
động đã ký với luật sư, nhân viên của Văn phòng
và các nghĩa vụ tài sản khác của các Văn phòng
luật sư cũ.
2. Hai hoặc một số Công ty luật hợp danh có thể
thoả thuận hợp nhất thành một Công ty luật hợp
danh mới. Thủ tục hợp nhất Công ty luật hợp danh
được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều
này.
Điều 23. Sáp nhập Văn
phòng luật sư, Công ty luật hợp danh
Một hoặc một số Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh có thể sáp nhập vào một Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh khác.
Thủ tục sáp nhập Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh được quy định như sau: 1. Các Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh liên
quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập. Trong hợp đồng
sáp nhập phải có quy định về phương án sử dụng
lao động; thời hạn, thủ tục và điều kiện chuyển
đổi tài sản; thủ tục và thời hạn thực hiện
sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có chữ ký
của tất cả thành viên của các Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh có liên quan.
2. Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh nhận
sáp nhập không phải đăng ký hoạt động mà chỉ
làm thủ tục thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt
động theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Pháp
lệnh Luật sư và Điều 12 của Nghị định này.
Trong hồ sơ đăng ký thay đổi phải có hợp đồng
sáp nhập.
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh nhận sáp
nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp,
chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán,
các hợp đồng dịch vụ pháp lý đang thực hiện,
hợp đồng lao động đã ký với luật sư, nhân viên
của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh và
các nghĩa vụ tài sản khác của các Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh bị sáp nhập.
Điều 24. Luật sư làm việc
theo hợp đồng cho Văn phòng luật sư, Công ty luật
hợp danh 1. Luật sư làm việc theo hợp đồng cho Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh thực hiện hoạt
động nghề nghiệp theo sự phân công của Văn phòng
luật sư, Công ty luật hợp danh. Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh phải chịu trách nhiệm về
hoạt động nghề nghiệp của luật sư làm việc
theo hợp đồng. Quyền, nghĩa vụ cụ thể của luật
sư làm việc theo hợp đồng và của Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh được thoả thuận trong
hợp đồng lao động phù hợp với Pháp lệnh Luật
sư, Nghị định này và pháp luật về lao động.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng
lao động với luật sư, Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh phải thông báo cho Sở Tư pháp nơi
đăng ký hoạt động và Đoàn luật sư nơi luật
sư là thành viên.
Điều 25. Quy định về
thù lao đối với vụ án hình sự
Mức thù lao đối với vụ án hình sự do khách hàng
và Văn phòng luật sư thoả thuận trong hợp đồng
dịch vụ pháp lý dựa trên các căn cứ quy định
tại khoản 1 Điều 28 của Pháp lệnh Luật sư và
được tính theo giờ hoặc tính trọn gói theo vụ
việc, nhưng mức cao nhất quy ra giờ không được
vượt quá 50.000đồng/1 giờ làm việc của luật
sư.
Điều 26. Thù lao và chi phí cho luật sư trong
trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu
của cơ quan tiến hành tố tụng 1. Đối với những vụ án do cơ quan tiến hành tố
tụng yêu cầu luật sư thì mức thù lao được trả
cho luật sư là 70.000 đồng/1ngày làm việc của luật
sư.
2. Luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ
quan tiến hành tố tụng được thanh toán tiền công
tác phí như cán bộ, công chức đi công tác.
3. Cơ quan tiến hành tố tụng đã yêu cầu luật
sư tham gia tố tụng có trách nhiệm thanh toán theo
đúng quy định của Nhà nước về thù lao và các
khoản chi phí nêu tại khoản 1, 2 Điều này. Nguồn
kinh phí chi trả được dự toán trong ngân sách hàng
năm của cơ quan tiến hành tố tụng.
4. Ngoài khoản thù lao và chi phí do cơ quan tiến hành
tố tụng thanh toán, luật sư không được đòi thêm
bất cứ khoản tiền nào từ bị can, bị cáo hoặc
thân nhân của họ.
5. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp hướng
dẫn các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các
quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều
này.
Điều 27. Điều chỉnh mức
thù lao
Khi giá cả trên thị trường biến động từ 10%
trở lên, Bộ Tư pháp cùng Bộ Tài chính trình Thủ
tướng Chính phủ quyết định việc điều chỉnh
mức thù lao quy định tại Điều 25 và Điều 26 của
Nghị định này.
Điều 28. Điều lệ Đoàn
luật sư 1. Căn cứ quy định của Pháp lệnh Luật sư, Nghị
định này và các quy định khác của pháp luật về
tổ chức xã hội - nghề nghiệp, Đoàn luật sư ban
hành Điều lệ để điều chỉnh quan hệ nội bộ
của Đoàn.
2. Điều lệ Đoàn luật sư gồm những nội dung chính
sau đây:
a) Tôn chỉ mục đích của Đoàn luật sư;
b) Thủ tục gia nhập Đoàn luật sư; thủ tục xin
ra khỏi Đoàn luật sư;
c) Quy định về tập sự hành nghề luật sư;
d) Quyền, nghĩa vụ của thành viên Đoàn luật sư;
đ) Nguyên tắc tổ chức, hoạt động và nhiệm vụ,
quyền hạn của Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư;
e) Tổ chức, nguyên tắc hoạt động và nhiệm vụ,
quyền hạn của Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư;
g) Tổ chức, nguyên tắc hoạt động và nhiệm vụ,
quyền hạn của Hội đồng khen thưởng, kỷ luật;
h) Các hình thức khen thưởng, kỷ luật đối với
luật sư, luật sư tập sự;
i) Phí thành viên;
k) Tài chính của Đoàn;
l) Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ
của Đoàn;
m) Quan hệ với tổ chức hành nghề luật sư;
n) Quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác.
3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Điều lệ
Đoàn luật sư được thông qua, Ban Chủ nhiệm Đoàn
luật sư gửi Điều lệ cho Bộ Tư pháp. Trong thời
hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Điều lệ
Đoàn luật sư, Bộ Tư pháp phê duyệt Điều lệ.
Điều lệ Đoàn luật sư có hiệu lực kể từ ngày
được Bộ Tư pháp phê duyệt. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày Điều lệ Đoàn luật sư có hiệu
lực, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư gửi 1 bản Điều
lệ cho Sở Tư pháp.
Điều 29. Thành viên Đoàn
luật sư 1. Thành viên của Đoàn luật sư là các luật sư.
Luật sư tập sự chưa phải là thành viên chính thức
của Đoàn luật sư, có các quyền, nghĩa vụ như
thành viên Đoàn luật sư, trừ quyền bầu và được
bầu vào Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng,
kỷ luật và quyền biểu quyết về các công việc
của Đoàn luật sư.
2. Thành viên Đoàn luật sư có các quyền sau đây:
a) Bầu và được bầu vào Ban Chủ nhiệm, Hội đồng
khen thưởng, kỷ luật;
b) Tham gia thảo luận, biểu quyết về các công việc
của Đoàn luật sư, kiến nghị với Hội nghị toàn
thể, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư những vấn đề
liên quan đến tổ chức và hoạt động của Đoàn;
c) Được Đoàn luật sư bồi dưỡng về nghiệp vụ
chuyên môn;
d) Các quyền khác do Điều lệ của Đoàn luật sư
quy định.
3. Thành viên Đoàn luật sư có các nghĩa vụ sau đây:
a) Báo cáo Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư về việc
thành lập tổ chức hành nghề hoặc nơi làm việc
theo hợp đồng và hoạt động nghề nghiệp của
mình;
b) Tham gia đầy đủ các khoá học cập nhật kiến
thức pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên
môn do Đoàn luật sư hoặc Bộ Tư pháp tổ chức;
c) Nộp phí thành viên;
d) Các nghĩa vụ khác do Điều lệ của Đoàn luật
sư quy định.
4. Thành viên Đoàn luật sư được Ban Chủ nhiệm
Đoàn luật sư cấp Thẻ luật sư theo mẫu thống
nhất do Bộ Tư pháp phát hành.
Điều 30. Hội nghị toàn
thể luật sư 1. Hội nghị toàn thể luật sư là cơ quan cao nhất
của Đoàn luật sư, họp thường kỳ mỗi năm ít
nhất một lần và có thể họp bất thường theo
đề nghị của Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư hoặc
của ít nhất là một nửa số luật sư của Đoàn.
Hội nghị toàn thể luật sư được coi là hợp lệ,
nếu có ít nhất hai phần ba số thành viên của Đoàn
luật sư tham gia.
Trong trường hợp Đoàn luật sư có từ 100 thành
viên trở lên thì có thể tổ chức Hội nghị đại
biểu luật sư theo quy định của Điều lệ Đoàn
luật sư. Hội nghị đại biểu có nhiệm vụ, quyền
hạn của Hội nghị toàn thể luật sư.
2. Hội nghị toàn thể luật sư có các nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Bầu và bãi miễn Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư;
Chủ nhiệm Đoàn luật sư; Hội đồng khen thưởng,
kỷ luật của Đoàn luật sư;
b) Thông qua Điều lệ và Quy tắc đạo đức nghề
nghiệp luật sư;
c) Thông qua mức phí thành viên, các khoản đóng góp
khác của luật sư và chế độ thu chi tài chính;
d) Nhiệm vụ, quyền hạn khác do Điều lệ của Đoàn
luật sư quy định.
Nghị quyết của Hội nghị toàn thể luật sư được
thông qua khi được quá nửa số thành viên của Đoàn
tán thành.
Điều 31. Ban Chủ nhiệm
Đoàn luật sư 1. Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư là cơ quan chấp hành
của Hội nghị toàn thể luật sư, do Hội nghị toàn
thể luật sư bầu ra, có nhiệm kỳ là 3 năm.
Danh sách Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư được gửi
cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp.
Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư có Chủ nhiệm, Phó
Chủ nhiệm và có thể có một số ủy viên. Số
lượng Phó Chủ nhiệm và ủy viên Ban Chủ nhiệm
Đoàn luật sư do Hội nghị toàn thể luật sư quyết
định căn cứ vào Điều lệ của Đoàn luật sư.
Quyết định của Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư được
thông qua khi được quá nửa số thành viên của Ban
Chủ nhiệm tán thành.
2. Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư có các nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Quyết định chấp nhận hoặc từ chối việc xin
gia nhập Đoàn luật sư; chấp nhận việc xin ra khỏi
Đoàn luật sư;
b) Giám sát và đánh giá kết quả tập sự của luật
sư tập sự và đề nghị Bộ Tư pháp cấp Chứng
chỉ hành nghề luật sư;
c) Giám sát việc tuân theo Quy tắc đạo đức nghề
nghiệp của luật sư;
d) Đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi Chứng chỉ hành
nghề luật sư trong trường hợp luật sư bị xử
lý kỷ luật bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách
luật sư;
đ) Giám sát hoạt động của Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh; yêu cầu Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh chấm dứt hành vi vi phạm pháp
luật và khi cần thiết đề nghị cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý;
e) Hoà giải tranh chấp có liên quan đến hành nghề
giữa luật sư, luật sư tập sự với Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh; giữa Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh với nhau; giữa khách hàng với
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh;
g) Tổ chức tổng kết, trao đổi kinh nghiệm, bồi
dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và thực hiện các biện
pháp khác nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên
môn cho luật sư;
h) Tổ chức lấy ý kiến và tập hợp ý kiến đóng
góp, kiến nghị của luật sư trong việc xây dựng
chính sách, pháp luật của Nhà nước;
i) Tổ chức để luật sư tham gia phổ biến, giáo
dục pháp luật;
k) Thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về
luật sư;
l) Báo cáo Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp về tổ chức,
hoạt động của Đoàn luật sư và danh sách luật
sư của Đoàn theo định kỳ 6 tháng và hàng năm;
m) Nhiệm vụ, quyền hạn khác do Điều lệ của Đoàn
luật sư quy định.
3. Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư có trách nhiệm gửi
cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp những quy định, quyết
định, nghị quyết của Đoàn.
Điều 32. Hội đồng khen
thưởng, kỷ luật 1. Hội đồng khen thưởng, kỷ luật gồm các thành
viên của Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư và một số
luật sư của Đoàn do Hội nghị toàn thể luật sư
bầu ra theo nhiệm kỳ của Ban Chủ nhiệm. Số lượng
thành viên của Hội đồng khen thưởng, kỷ luật
do Hội nghị toàn thể luật sư quyết định căn
cứ Điều lệ của Đoàn luật sư. Chủ nhiệm Đoàn
luật sư đồng thời là Chủ tịch Hội đồng khen
thưởng, kỷ luật.
2. Hội đồng khen thưởng, kỷ luật quyết định
các hình thức khen thưởng của Đoàn luật sư đối
với luật sư, luật sư tập sự và báo cáo Hội
nghị toàn thể luật sư quyết định về việc đề
nghị các hình thức khen thưởng của Nhà nước đối
với luật sư, Đoàn luật sư, Văn phòng luật sư,
Công ty luật hợp danh.
3. Hội đồng khen thưởng, kỷ luật xem xét và quyết
định áp dụng một trong các hình thức kỷ luật
sau đây đối với luật sư, luật sư tập sự:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Xóa tên khỏi danh sách luật sư, luật sư tập
sự của Đoàn luật sư.
4. Hội đồng khen thưởng, kỷ luật làm việc theo
nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số.
Điều 33. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư
pháp trong việc quản lý nhà nước về tổ chức
luật sư và hành nghề luật sư
Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nước về tổ chức luật sư và hành nghề luật
sư trong phạm vi cả nước, có nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây: 1. Xây dựng và trình Chính phủ quyết định chiến
lược và chính sách phát triển nghề luật sư.
2. Soạn thảo trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành hoặc tự ban hành văn bản quy phạm pháp
luật về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư;
hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật
đó.
3. Tổ chức đào tạo nghề luật sư; bồi dưỡng
nghiệp vụ cho luật sư.
4. Cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư; thu hồi Chứng
chỉ hành nghề luật sư trong các trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này.
5. Phê duyệt Điều lệ Đoàn luật sư.
6. Ban hành Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp
luật sư.
7. Phát hành niên giám, bản tin về tổ chức luật
sư và hành nghề luật sư và thực hiện các biện
pháp khác nhằm hỗ trợ phát triển nghề luật sư.
8. Tổng kết, định kỳ báo cáo Chính phủ về tình
hình tổ chức luật sư và hành nghề luật sư.
9. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư
theo thẩm quyền.
10. Thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt
động hợp tác quốc tế về luật sư.
11. Đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những
quy định, quyết định và nghị quyết của Đoàn
luật sư trái với quy định của Pháp lệnh Luật
sư, Nghị định này và các quy định khác của pháp
luật.
Điều 34. Nhiệm vụ, quyền
hạn của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trong việc quản lý nhà nước về
tổ chức luật sư và hành nghề luật sư 1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức
luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương
mình, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Cho phép thành lập Đoàn luật sư; quyết định
việc giải thể Đoàn luật sư;
b) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư,
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh theo thẩm
quyền;
c) Định kỳ báo cáo Bộ Tư pháp về tình hình tổ
chức luật sư và hành nghề luật sư;
d) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
pháp luật.
2. Sở Tư pháp giúp ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương thực hiện nội dung quản
lý nhà nước được quy định tại khoản 1 Điều
này và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Cấp Giấy đăng ký hoạt động cho Văn phòng luật
sư, Công ty luật hợp danh, chi nhánh Văn phòng luật
sư, chi nhánh Công ty luật hợp danh; thu hồi Giấy
đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư, Công
ty luật hợp danh, chi nhánh Văn phòng luật sư, chi
nhánh Công ty luật hợp danh trong các trường hợp
quy định tại Điều 16 của Nghị định này;
b) Cung cấp thông tin về việc đăng ký hoạt động
của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh cho
cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có yêu cầu
theo quy định của pháp luật;
c) Yêu cầu Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh báo cáo về tình hình hoạt động khi cần thiết.
Điều 35. Xử lý vi phạm đối với cá nhân,
tổ chức hành nghề luật sư bất hợp pháp
Cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề
luật sư theo quy định của Pháp lệnh Luật sư, Nghị
định này mà hành nghề luật sư dưới bất kỳ
hình thức nào thì bị buộc phải chấm dứt hành
vi vi phạm, bị phạt tiền với mức tối đa là 50.000.000
đồng. Các khoản lợi nhuận thu được từ việc
hành nghề bất hợp pháp bị tịch thu, sung công quỹ
nhà nước.
Điều 36. Xử lý vi phạm
đối với luật sư
Luật sư có các hành vi vi phạm sau đây thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật
theo Điều lệ Đoàn luật sư, bị xử phạt vi phạm
hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền
theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính: 1. Hành nghề không theo đúng các hình thức tổ chức
hành nghề quy định tại Pháp lệnh Luật sư và Nghị
định này.
2. Cho người khác sử dụng Chứng chỉ hành nghề
luật sư của mình.
3. Vi phạm các quy định khác của Pháp lệnh Luật
sư, Nghị định này.
Trong trường hợp vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc tái phạm thì ngoài việc bị xử lý bằng hình
thức cảnh cáo hoặc phạt tiền, còn có thể bị
thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư.
Điều 37. Xử lý vi phạm
đối với Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh,
chi nhánh Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật
hợp danh
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh, chi nhánh
Văn phòng luật sư, chi nhánh Công ty luật hợp danh
có hành vi vi phạm sau đây thì tùy theo tính chất,
mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính
bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền theo quy
định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính: 1. Hoạt động ngoài các lĩnh vực hành nghề ghi trong
Giấy đăng ký hoạt động.
2. Cho người không phải là luật sư hành nghề dưới
danh nghĩa của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp
danh của mình.
3. Thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động mà
không thông báo cho Sở Tư pháp.
4. Tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động mà không
tuân theo các quy định của Nghị định này về tạm
ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động.
5. Vi phạm các quy định của Pháp lệnh Luật sư,
Nghị định này về thù lao.
6. Không chấp hành chế độ báo cáo.
7. Không chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khi tiến hành kiểm tra, thanh tra.
8. Vi phạm các quy định khác của Pháp lệnh Luật
sư, Nghị định này.
Trong trường hợp vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc tái phạm thì ngoài việc bị xử lý bằng hình
thức cảnh cáo hoặc phạt tiền còn có thể bị
thu hồi Giấy đăng ký hoạt động.
Điều 38. Xử lý vi phạm đối với các hành
vi xâm phạm quyền của luật sư
Người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi xâm
phạm hoặc cản trở luật sư, tổ chức luật sư
thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Điều 39. Thẩm quyền, thủ
tục xử lý vi phạm hành chính
Thẩm quyền và thủ tục xử lý vi phạm hành chính
đối với các hành vi quy định tại các Điều 35,
36 và 37 của Nghị định này được thực hiện theo
quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính.
Điều 40. Quy định chuyển
tiếp đối với Đoàn luật sư
Đoàn luật sư được thành lập theo quy định của
Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 không phải
làm thủ tục xin phép thành lập lại. Trong thời
hạn 01 năm, kể từ ngày Pháp lệnh Luật sư năm
2001 có hiệu lực, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư dự
thảo Điều lệ Đoàn luật sư, tổ chức Hội nghị
toàn thể luật sư để thông qua Điều lệ, bầu
Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng,
kỷ luật của Đoàn theo quy định của Pháp lệnh
Luật sư năm 2001 và Nghị định này.
Trong thời gian từ ngày 01 tháng 10 năm 2001 đến khi
Đoàn luật sư đã chuyển đổi theo quy định của
Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Đoàn luật sư vẫn tổ
chức việc hành nghề cho các luật sư, luật sư tập
sự của Đoàn.
Sau khi Đoàn luật sư chuyển đổi theo quy định của
Pháp lệnh Luật sư năm 2001, các chi nhánh của Đoàn
luật sư đương nhiên chấm dứt hoạt động.
Điều 41. Quy định chuyển
tiếp đối với luật sư, luật sư tập sự 1. Người được công nhận là luật sư theo quy định
của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 trước
ngày 01 tháng 10 năm 2001 thì được cấp Chứng chỉ
hành nghề luật sư để hành nghề luật sư theo quy
định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001.
2. Người thuộc đối tượng quy định tại khoản
1 Điều này mà đang là cán bộ, công chức thì được
cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để hành nghề
luật sư cho đến ngày 30 tháng 9 năm 2004.
3. Người đang là luật sư tập sự vào thời điểm
Pháp lệnh Luật sư có hiệu lực thì được tiếp
tục tập sự hành nghề luật sư theo quy định của
Pháp lệnh Luật sư; thời gian đã tập sự hành nghề
luật sư được tính vào thời gian tập sự theo quy
định của Pháp lệnh Luật sư.
Người có thời gian tập sự hành nghề luật sư
tại chi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài ở Việt
Nam trước thời điểm Pháp lệnh Luật sư có hiệu
lực thì thời gian đã tập sự hành nghề luật sư
tại chi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài được
tính vào thời gian tập sự theo quy định của Pháp
lệnh Luật sư.
4. Người đang là luật sư, luật sư tập sự của
Đoàn luật sư theo quy định của Pháp lệnh tổ chức
luật sư năm 1987 thì đương nhiên trở thành luật
sư hoặc luật sư tập sự của Đoàn luật sư đó
sau khi Đoàn luật sư chuyển đổi theo quy định của
Pháp lệnh Luật sư năm 2001.
Đối với những người cư trú tại một địa phương,
nhưng đang là luật sư hoặc luật sư tập sự của
Đoàn luật sư của địa phương khác, nếu có nguyện
vọng chuyển về Đoàn luật sư của địa phương
nơi mình cư trú thì được chuyển về Đoàn luật
sư đó. Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư của địa phương
nơi luật sư cư trú có trách nhiệm tiếp nhận luật
sư đó.
5. Sau khi Đoàn luật sư đã được chuyển đổi về
tổ chức và hoạt động theo quy định của Pháp
lệnh Luật sư năm 2001 thì Thẻ luật sư được cấp
theo quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm
1987 của các thành viên Đoàn luật sư đó không còn
giá trị.
Điều 42. Quy định chuyển tiếp đối với
các luật sư hoạt động dưới hình thức Công ty
trách nhiệm hữu hạn hoặc các hình thức khác
Các luật sư hoạt động trong lĩnh vực tố tụng,
tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý khác dưới
hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các
hình thức khác đều phải chuyển sang hành nghề
theo hình thức Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật
hợp danh được quy định tại Pháp lệnh Luật sư
và Nghị định này.
Điều 43. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ
ngày ký.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm hướng
dẫn thi hành Nghị định này. |