|
Căn cứ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
ngày 8 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng,
chứng thực;
Căn cứ Chỉ thị số 01/2001/CT-TTg ngày 5 tháng 3
năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển
khai thực hiện Nghị định của Chính phủ về
công chứng, chứng thực;
Căn cứ Nghị định số 38/CP ngày 4 tháng 6 năm
1993 của Chính phủ về chức năng nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp;
Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định của
Chính phủ về công chứng, chứng thực như sau:
1. Điều 9 của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày
8 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng,
chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định)
quy định việc công chứng, chứng thực phải được
thực hiện tại trụ sở cơ quan công chứng, chứng
thực, trừ các trường hợp sau đây có thể được
thực hiện ngoài trụ sở: a. Việc công chứng, chứng thực di chúc của người
mà tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật,
tai nạn hoặc người bị bại liệt, người già
yếu không thể đi lại được;
b. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, giao
dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch)
và chữ ký của người đang bị tạm giam hoặc
thi hành án phạt tù, người bị bại liệt, người
già yếu không thể đi lại được hoặc có lý
do chính đáng khác không thể đến trụ sở cơ
quan công chứng, chứng thực.
Đối với mọi trường hợp đều phải ghi địa
điểm công chứng, chứng thực, riêng việc công
chứng, chứng thực được thực hiện ngoài giờ
làm việc, thì phải ghi thêm giờ phút mà người
thực hiện ký vào văn bản công chứng, văn bản
chứng thực.
2. Điều 11 của Nghị định quy định việc ký
của người yêu cầu công chứng, chứng thực phải
được thực hiện trước mặt người thực hiện
công chứng, chứng thực. Trong trường hợp người
có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức
tín dụng, doanh nghiệp đã đăng ký chữ ký mẫu
tại cơ quan công chứng, chứng thực, thì có thể
cho phép người đó ký trước vào hợp đồng; người
thực hiện công chứng, chứng thực phải đối
chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ
ký mẫu, trước khi thực hiện việc công chứng,
chứng thực.
3. Việc điểm chỉ được thay thế cho việc ký
trong các giấy tờ yêu cầu công chứng, chứng thực,
nếu người yêu cầu công chứng, chứng thực không
ký được do khuyết tật hoặc không biết ký.
Việc điểm chỉ cũng có thể được thực hiện
đồng thời với việc ký trong các trường hợp
sau đây: a. Công chứng, chứng thực di chúc;
b. Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng,
chứng thực.
c. Theo yêu cầu của người thực hiện công chứng,
chứng thực khi xem xét các giấy tờ xuất trình,
nếu xét thấy chưa rõ ràng về nhận dạng người
yêu cầu công chứng, chứng thực; người yêu cầu
công chứng, chứng thực ít khi ký hoặc xét thấy
cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người
yêu cầu công chứng, chứng thực.
Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, chứng
thực sử dụng ngón trỏ phải; nếu không thể
điểm chỉ bằng ngón trỏ phải, thì điểm chỉ
bằng ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm
chỉ bằng hai ngón trỏ đó, thì điểm chỉ bằng
ngón khác; sau khi điểm chỉ phải ghi rõ việc điểm
chỉ đó bằng ngón nào, của bàn tay nào.
Hướng dẫn nêu trên cũng được áp dụng đối
với việc điểm chỉ của người làm chứng.
4. Khi từ chối thực hiện công chứng, chứng thực
theo quy định tại khoản 5 Điều 38 của Nghị định,
nếu người yêu cầu công chứng, chứng thực đề
nghị, thì người thực hiện công chứng, chứng
thực phải giải thích rõ lý do từ chối bằng
văn bản.
5. Đối với việc nhận lưu giữ di chúc quy định
tại Điều 51 của Nghị định, công chứng viên
phải niêm phong bản di chúc; người lập di chúc
ký hoặc điểm chỉ, công chứng viên ký và đóng
dấu vào mép dán của phong bì đựng bản di chúc
đó. Khi nhận lưu giữ di chúc, công chứng viên
phải lập Giấy nhận lưu giữ di chúc gồm hai bản,
một bản cấp cho người lập di chúc và một bản
lưu trữ tại Phòng Công chứng.
Giấy nhận lưu giữ di chúc phải ghi rõ: thời gian,
địa điểm nhận lưu giữ di chúc; họ và tên công
chứng viên nhận lưu giữ di chúc; họ và tên, địa
chỉ, giấy tờ tuỳ thân của người lập di chúc;
họ tên, địa chỉ của những người liên quan
đến di chúc để báo tin khi cần thiết.
Khi có đơn yêu cầu của người có liên quan đến
nội dung di chúc hoặc biết được người lập
di chúc đã chết, công chứng viên triệu tập bằng
văn bản tất cả những người. có liên quan để
công bố di chúc đang được nhận lưu giữ tại
Phòng Công chứng.
Biên bản công bố di chúc phải ghi rõ: thời gian,
địa điểm công bố di chúc; họ và tên công chứng
viên công bố di chúc; họ và tên, địa chỉ của
từng người thừa kế và người khác có liên quan
đến nội dung di chúc có mặt cũng như vắng mặt;
những người có mặt đã kiểm tra dấu niêm phong
di chúc; công chứng viên mở và đọc di chúc cho
những người có mặt nghe; nếu có người thừa
kế, người khác có liên quan đến nội dung di chúc
mà vắng mặt, thì phải ghi lý do vắng mặt của
người đó; từng người có mặt và công chứng
viên ký vào biên bản.
6. Người đã yêu cầu công chứng, chứng thực
hợp đồng, giao dịch tại cơ quan công chứng, chứng
thực nào, thì có quyền đề nghị cơ quan đó cấp
bản sao văn bản công chứng, văn bản chứng thực.
Cơ quan công chứng, chứng thực có trách nhiệm
cấp cho họ bản sao từ bản chính đang được
lưu trữ.
7. Việc thoả thuận phân chia di sản, việc khai
nhận di sản theo quy định tại Điều 52 và Điều
53 của Nghị định phải được niêm yết. Việc
niêm yết do cơ quan công chứng, chứng thực thực
hiện tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp
xã), nơi thường trú trước đây của người để
lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường
trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã,
nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Trong
trường hợp di sản gồm cả bất động sản và
động sản hoặc di sản chỉ là bất động sản,
thì việc niêm yết được thực hiện theo hướng
dẫn nêu trên của điểm này; nếu không xác định
được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban
nhân dân cấp xã, nơi có bất dộng sản của người
để lại di sản. Cơ quan công chứng, chứng thực
phải cử người trực tiếp niêm yết, có sự chứng
kiến của đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Trong trường hợp di sản chỉ là động sản, nếu
cơ quan công chứng, chứng thực và nơi thường
trú hoặc tạm trú của người để lại di sản
không ở cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, thì cơ quan công chứng, chứng thực
có thể uỷ thác cho Uỷ ban nhân dân cấp xã thực
hiện việc niêm yết theo hướng dẫn tại đoạn
1 nêu trên của điểm này.
Nội dung niêm yết nêu rõ: họ, tên người để
lại di sản; họ, tên của những người thoả thuận
hoặc người khai nhận và quan hệ với người để
lại di sản; danh mục di sản được thoả thuận
phân chia hoặc được khai nhận; cuối bản niêm
yết phải ghi rõ nếu có khiếu nại, tố cáo về
việc bỏ sót người được hưởng di sản, bỏ
sót di sản, di sản không thuộc quyền sở hữu,
quyền sử dụng của người để lại di sản, thì
khiếu nại, tố cáo dó được gửi cho cơ quan thực
hiện công chứng, chứng thực.
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách
nhiệm bảo quản việc niêm yết, trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày niêm yết.
8. Bản chính quy định tại khoản 2 Điều 57 của
Nghị định là văn bản mà Phòng Công chứng tiếp
nhận từ người yêu cầu công chứng để dịch.
Người dịch phải dịch đầy đủ nội dung của
văn bản đã được Phòng Công chứng giao cho dịch;
nếu là bản sao, bản trích lục, phải dịch là
bản sao, bản trích lục; nếu là bản Fax phải
dịch rõ là bản Fax. Khi tiếp nhận văn bản để
địch, Phòng Công chứng lưu ý các trường hợp
không được công chứng bản dịch quy định tại
khoản 4 Điều 57 của Nghị định.
9. Lỗi kỹ thuật theo quy định tại Điều 45 của
Nghị định là lỗi do sai sót trong khi ghi chép,
đánh máy, in ấn trong văn bản công chứng, văn
bản chứng thực. Để xác định lỗi kỹ thuật,
người thực hiện công chứng, chứng thực có trách
nhiệm đối chiếu từng lỗi cần sửa với các
giấy tờ trong hồ sơ công chứng, hồ sơ chứng
thực.
Khi sửa lỗi kỹ thuật, người thực hiện công
chứng, chứng thực gạch chân chỗ cần sửa, sau
đó ghi chữ, dấu hoặc con số đã được sửa
vào bên lề kèm theo chữ ký của mình và đóng
dấu của cơ quan.
Người thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật trong
văn bản công chứng, văn bản chứng thực phải
là người đã thực hiện việc công chứng, chứng
thực đó.
Trong trường hợp người đã thực hiện việc công
chứng, chứng thực không còn làm công tác đó nữa,
thì người đứng đầu cơ quan có trách nhiệm thực
hiện việc sửa lỗi kỹ thuật đó.
1. Lời chứng là bộ phận cấu thành của văn bản
công chứng, văn bản chứng thực. Nội dung lời
chứng phải rõ ràng, chặt chẽ, thể hiện rõ mức
độ trách nhiệm của người thực hiện công chứng,
chứng thực đối với việc công chứng, chứng
thực; trong trường hợp những việc đã có mẫu
lời chứng do Bộ Tư pháp quy định, thì lời chứng
phải tuân theo mẫu đó.
Lời chứng đối với hợp đồng, giao dịch phải
có đầy đủ nội dung theo quy định lại Điều
43 của Nghị định.
Ban hành kèm theo Thông tư này các mẫu lời chứng
sau đây:
a. Mẫu lời chứng hợp đồng, giao dịch;
b. Mẫu lời chứng bản sao giấy tờ;
c. Mẫu lời chứng bản dịch giấy tờ;
d. Mẫu lời chứng chữ ký.
2. Đối với mỗi trường hợp công chứng, chứng
thực hợp đồng, giao dịch, thì người yêu cầu
công chứng, chứng thực phải ghi một Phiếu yêu
cầu công chứng, chứng thực.
Trong trường hợp yêu cầu công chứng, chứng thực
không thể thực hiện được ngay trong ngày, thì
người thực hiện công chứng, chứng thực phải
ghi Phiếu hẹn cho người yêu cầu công chứng, chứng
thực.
Ban hành kèm theo Thông tư này mẫu Phiếu yêu cầu
công chứng, chứng thực và mẫu Phiếu hẹn.
3. Sổ công chứng, sổ chứng thực được sử dụng
để ghi các việc công chứng, chứng thực đã được
thực hiện tại cơ quan công chứng, chứng thực.
Sổ công chứng, sổ chứng thực là tài liệu lưu
trữ của Nhà nước, phải được làm bằng giấy
có chất lượng tốt và được bảo quản chặt
chẽ, lâu dài tại cơ quan đã thực hiện công chứng,
chứng thực.
Các sổ công chứng, sổ chứng thực phải ghi rõ
ngày mở sổ, ngày khoá sổ.
Đối với các sổ chứng thực của Uỷ ban nhân
dân cấp xã, thì sau khi khoá sổ, Uỷ ban nhân dân
cấp xã phải gửi một bản chụp của các sổ
chứng thực đó cho Uỷ ban nhân dân huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là
Uỷ ban nhân dân cấp huyện) để lưu trữ. Bản
chụp này phải được đóng dấu giáp lai và có
chữ ký của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Ban hành kèm theo Thông tư này mẫu các sổ công
chứng, sổ chứng thực sau đây:
a. Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch; Sổ công
chứng bản sao giấy tờ; Sổ công chứng bản dịch
giấy tờ; Sổ công chứng chữ ký;
b. Sổ chứng thực hợp đồng, giao dịch; Sổ chứng
thực bản sao giấy tờ; Sổ chứng thực chữ ký;
Sổ chứng thực di chúc, từ chối nhận di sản.
Bộ Tư pháp hướng dẫn việc sử đụng thống
nhất và phát hành các sổ công chứng của các
Phòng Công chứng trong phạm vi cả nước.
Theo sự hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau
đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành
các sổ chứng thực cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện,
cấp xã trong địa phương mình.
1. Văn bản đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp
về việc bổ nhiệm công chứng viên theo quy định
tại điểm a khoản 2 Điều 31 của Nghị định
phải ghi rõ: nhu cầu công chứng tại địa phương
và sự cần thiết bổ nhiệm công chứng viên; họ
và tên, ngày tháng năm sinh, nơi công tác, công việc
đang đảm nhiệm của người được đề nghị;
xác nhận thời gian công tác pháp luật và nhận
xét quá trình công tác của người đó.
2. Khoản 2 Điều 22 của Nghị định quy định Trưởng
phòng Tư pháp thực hiện các việc chứng thực
thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện
theo uỷ quyền của Chỉ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
huyện. Khi thực hiện chứng thực, Trưởng phòng
Tư pháp ký văn bản chứng thực với tư cách "thừa
uỷ quyền" và đóng dấu Uỷ ban nhân dân cấp
huyện.
ở những địa bàn có nhiều yêu cầu chứng thực,
Trưởng phòng Tư pháp có thể đề nghị Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp huyện uỷ quyền bằng văn
bản cho cả Phó Trưởng phòng Tư pháp thực hiện
chứng thực. Khi thực hiện chứng thực Phó Trưởng
phòng Tư pháp ký văn bản chứng thực với tư cách
"thừa uỷ quyền", ghi chức vụ của mình
và đóng dấu Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Chỉ sau khi đăng ký chữ ký tại Sở Tư pháp, Trường
phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp mới được thực
hiện chứng thực.
3. Trong trường hợp trực tiếp phụ trách Tư pháp,
thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện
việc chứng thực.
Nếu được phân công phụ trách Tư pháp, thì Phó
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện việc
chứng thực. Khi thực hiện chứng thực, Phó Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ghi chức vụ của
mình vào văn bản chứng thực.
Chỉ sau khi đăng ký chữ ký tại Sở Tư pháp, Chủ
tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
xã phụ trách Tư pháp, mới được thực hiện chứng
thực.
4. Việc công nhận người dịch là cộng tác viên
của Phòng Công chứng được thực hiện như sau:
người dịch có đơn đề nghị làm cộng tác viên,
kèm theo sơ yếu lý lịch có dán ảnh theo mẫu quy
định cho cán bộ, công chức; bản sao bằng tốt
nghiệp Đại học ngoại ngữ hoặc Đại học khác.
Người dịch là cộng tác viên của Phòng Công chứng
theo quy định của Nghị định số 45/HĐBT ngày
27 tháng 2 nărn 1991 của Hội đồng Bộ trưởng
về tổ chức và hoạt động Công chứng nhà nước,
Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động Công chứng
nhà nước tiếp tục được công nhận là cộng
tác viên của Phòng Công chứng theo hướng dẫn
tại Thông tư này.
Người dịch là cộng tác viên của Phòng Công chứng
phải ký hợp đồng dịch thuật với Trưởng phòng
Công chứng, trong đó cam kết thực hiện dịch chính
xác và chấp hành nội quy dịch thuật của Phòng
Công chứng.
5. Các Phòng Công chứng, Uỷ ban nhân dân các cấp
và Bộ Ngoại giao phải thực hiện nghiêm túc chế
độ báo cáo, thống kê số liệu về công chứng,
chứng thực định kỳ sáu tháng và hàng năm được
quy định tại khoản 3 Điều 18, điểm đ khoản
1 Điều 19, điểm d khoản 1 Điều 20 và điểm g
khoản 1 Điều 28 của Nghị định.
Nội dung báo cáo phải thể hiện đầy dủ tình
hình tổ chức, cơ sở vật chất, phương tiện
làm việc và kết quả hoạt động công chứng,
chứng thực tại Phòng Công chứng và tại địa
phương mình, đồng thời nêu rõ những khó khăn,
vướng mắc phát sinh và những kiến nghị (nếu
có).
Kèm theo báo cáo có biểu thống kê số liệu về
công chứng, chứng thực (ban hành kèm theo Thông
tư này). Số liệu thống kê kèm theo báo cáo 6 tháng
được tính từ ngày 1 tháng 1 đến hết ngày 30
tháng 6; số liệu thống kê kèm theo báo cáo hàng
năm được tính từ ngày 1 tháng 1 đến hết ngày
3 tháng 12 của năm đó.
Thời hạn gửi báo cáo được thực hiện như sau:
a. Đối với các Phòng Công chứng, báo cáo 6 tháng
đầu năm được gửi cho Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh và Giám đốc Sở Tư pháp trước
ngày 5 tháng 7; báo cáo hàng năm được gửi trước
ngày 5 tháng 1 của năm sau.
b. Đối với Uỷ ban nhân dân cấp xã, báo cáo 6
tháng đầu năm được gửi cho Uỷ ban nhân dân
cấp huyện (qua Phòng Tư pháp) trước ngày 5 tháng
7 hàng năm; báo cáo hàng năm được gửi trước
ngày 5 tháng 1 của năm sau.
c. Đối với Uỷ ban nhân dân cấp huyện, báo cáo
6 tháng đầu năm được gửi cho Sở Tư pháp trước
ngày 15 tháng 7; báo cáo hàng năm được gửi trước
ngày 15 tháng 1 của nărn sau.
d. Đối với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, báo cáo
6 tháng đầu nărn gửi cho Bộ Tư pháp trước ngày
25 tháng 7; báo cáo hàng năm được gửi trước
ngày 25 tháng 1 của năm sau.
đ. Đối với Bộ Ngoại giao, báo cáo 6 tháng đầu
năm gửi cho Bộ Tư pháp trước ngày 25 tháng 7;
báo cáo hàng năm được gửi trước ngày 25 tháng
1 của năm sau.
6. Chế độ kiểm tra việc chấp hành pháp luật
trong hoạt động công chứng, chứng thực phải
được tiến hành thường xuyên, định kỳ hàng
năm theo khoản 5 Điều 17, điểm c khoản 1 Điều
19 và điểm b khoản 1 Điều 20 của Nghị định.
Người thực hiện việc kiểm tra có trách nhiệm
kiểm tra theo nội dung đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt; sau khi kết thúc kiểm tra, phải
có báo cáo kết quả kiểm tra và chịu trách nhiệm
về báo cáo đó.
Việc kiểm tra, thanh tra được tiến hành khi có
khiếu nại, tố cáo và được giải quyết theo
quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
1 tháng 4 năm 2001.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc
hoặc phát sinh những vấn đề mới, các cơ quan
liên quan, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp,
Phòng Công chứng có công văn gửi Bộ Tư pháp để
có văn bản hướng dẫn.
|