|
Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Nghị quyết số 60/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20 tháng
8 năm 1998 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về
việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh
nghiệp nhà nước;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức
- Cán bộ Chính phủ, Trưởng Ban Đổi mới quản
lý doanh nghiệp Trung ương,
Điều 1. Ban hành kèm theo
Nghị định này Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh
nghiệp nhà nước.
Quy chế này được thực hiện trong doanh nghiệp nhà
nước theo Điều 1, Điều 2 của Luật Doanh nghiệp
nhà nước.
Điều 2. Nghị định này
có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành.
Những quy định trước đây trái với Quy chế ban
hành kèm theo Nghị định này đều bãi bỏ.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách
nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành Nghị định
này.
Hội đồng quản trị, Giám đốc các doanh nghiệp
nhà nước có trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Điều 1. Thực hiện dân
chủ ở doanh nghiệp nhà nước nhằm mục đích: 1. Cụ thể hóa phương châm ''dân biết, dân
làm, dân kiểm tra'', phát huy quyền dân chủ
thông qua tổ chức công đoàn và dân chủ trực tiếp
của người lao động, phát huy sáng tạo của tập
thể và cá nhân để nâng cao hiệu quả hoạt động,
bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống
vi phạm dân chủ, vi phạm kỷ luật, gây rối nội
bộ, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Tạo động lực mạnh mẽ để phát triển doanh
nghiệp nhà nước bền vững trên cơ sở gắn bó
chặt chẽ trách nhiệm giữa Giám đốc và công nhân,
viên chức trong chăm lo đẩy mạnh sản xuất, kinh
doanh có hiệu quả, tăng thu cho ngân sách nhà nước,
cải thiện đời sống, tạo thêm việc làm cho người
lao động; phân định rõ ràng về quyền hạn, trách
nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của Giám đốc và
công nhân, viên chức đối với kết quả hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; tạo môi trường
thuận lợi để tăng cường đoàn kết, thực hiện
tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát lẫn
nhau giữa Giám đốc và công nhân, viên chức cũng
như trong nội bộ công nhân, viên chức, giữa cán
bộ lãnh đạo quản lý với nhau; bảo đảm hài hòa
lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp, của Giám
đốc và của người lao động tương ứng với kết
quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Điều 2. Thực hiện dân
chủ ở doanh nghiệp phải đi đôi với nâng cao hiệu
lực quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý
nhà nước và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp,
thực hiện phân công, phân cấp cụ thể trong doanh
nghiệp, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi
cho hoạt động quản lý của Giám đốc được chủ
động, sáng tạo phù hợp với yêu cầu của cơ chế
thị trường; nâng cao trình độ hiểu biết luật
pháp, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm trước pháp luật
và nghiêm chỉnh chấp hành các nội quy, quy chế của
công nhân, viên chức và của cán bộ quản lý doanh
nghiệp; thực hiện đúng đắn quyền hạn, nghĩa
vụ và trách nhiệm của người lao động trong việc
thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước, đồng
thời gìn giữ bí mật sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp phù hợp với các quy định của pháp luật.
Điều 3. Người sử dụng
lao động và người lao động trong doanh nghiệp nhà
nước có nghĩa vụ phải thực hiện tốt nhiệm vụ
được giao, thực hiện đúng hợp đồng lao động,
thỏa ước lao động đã ký kết, chấp hành đúng
các nội quy, quy chế của doanh nghiệp; thực hiện
đầy đủ quyền dân chủ, giữ gìn kỷ luật, đấu
tranh chống các biểu hiện tham nhũng, lợi dụng dân
chủ gây mất đoàn kết nội bộ; nỗ lực vì sự
phát triển của doanh nghiệp khi thuận lợi cũng như
lúc gặp khó khăn trong kinh doanh.
Điều 4. Tăng cường sự
lãnh đạo của tổ chức Đảng ở doanh nghiệp nhà
nước đối với toàn thể người lao động, đối
với Hội đồng quản trị (ở những doanh nghiệp
nhà nước có Hội đồng quản trị), Giám đốc,
tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh trong thực hiện đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm phát
triển doanh nghiệp hoạt động ngày càng có hiệu
quả và xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.
Điều 5. Những việc Hội đồng quản trị,
Giám đốc phải công khai ở doanh nghiệp nhà nước
bao gồm:
1. Phương hướng, nhiệm vụ chung về đầu tư, phát
triển sản xuất, kinh doanh dài hạn, trung hạn và
từng năm của doanh nghiệp, những thuận lợi, khó
khăn, yếu kém; đặc biệt là nhiệm vụ, kế hoạch
sản xuất, công tác của phân xưởng, tổ (đội)
sản xuất, phòng ban trực thuộc doanh nghiệp; những
chủ trương lớn về thay đổi phương thức quản
lý doanh nghiệp và chuyển đổi doanh nghiệp.
2. Những chế độ, chính sách chủ yếu của nhà
nước và những quy định vận dụng của doanh nghiệp
có liên quan trực tiếp đối với người lao động
ở doanh nghiệp về sắp xếp lại lao động, tuyển
dụng, cho thôi việc, đào tạo và đào tạo lại;
tiền lương và thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, nhà ở; phân phối lợi nhuận và trích
lập các quỹ của doanh nghiệp; kế hoạch và thực
hiện tuyển dụng, sắp xếp lại lao động; đào
tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cho người lao
động.
3. Nội quy của doanh nghiệp, các quy chế của doanh
nghiệp về tuyển dụng, cho thôi việc; về thời
gian làm việc, làm thêm giờ, nghỉ ngơi được hưởng
lương, không được hưởng lương; về các định
mức chi phí; về trả lương, trả thưởng, hiếu
hỷ; về đề bạt cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ cán bộ; khen thưởng, kỷ luật
và trách nhiệm vật chất; về bảo vệ tài sản,
bảo vệ bí mật sản xuất, kinh doanh và uy tín của
doanh nghiệp phù hợp với quy định pháp luật; về
quy trình vận hành máy móc, thiết bị tại nơi làm
việc; về sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu;
về thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường,
giữ gìn vệ sinh nơi làm việc; về phòng hỏa; phòng
chống các vi phạm pháp luật.
4. Công khai tài chính về:
- Kết quả kiểm toán và báo cáo tài chính hàng năm
của doanh nghiệp.
- Tình hình vốn và hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp, tình hình công nợ tới hạn và quá
hạn và nguyên nhân; những khó khăn và biện pháp
huy động vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Các khoản thu của doanh nghiệp từ hoạt động
kinh doanh và từ các hoạt động khác như: các khoản
thu từ hoạt động đầu tư ra ngoài doanh nghiệp;
thu từ hoạt động mua bán tín phiếu, trái phiếu,
cổ phiếu; thu từ cho thuê, khoán tài sản; thu chênh
lệch giá trị bán tài sản thanh lý; thu từ phần
trợ giá của nhà nước; thu từ hoạt động liên
doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, thu lãi tiền
gửi, tiền cho vay.
- Đầu tư phát triển, chi cho đào tạo, bồi dưỡng
và nâng cao trình độ người lao động.
- Quy định và thực hiện các khoản chi của doanh
nghiệp cho hoạt động quản lý, tiếp khách, hội
họp, giao dịch và chi hoa hồng môi giới; các khoản
phạt doanh nghiệp phải nộp.
- Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, các khoản trích
nộp theo quy định của nhà nước: bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.
- Lỗ, lãi và nguyên nhân khách quan, chủ quan; biện
pháp để tăng lãi, giảm lỗ.
- Các khoản thu nhập và thu nhập bình quân của người
lao động.
- Trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
từ lợi nhuận sau thuế: quỹ đầu tư phát triển,
quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp
mất việc làm, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng.
Chi cho mục đích nhân đạo, xã hội.
- Các khoản thu chi khác.
5. Tiêu chuẩn cán bộ, quy trình và phân cấp đề
bạt cán bộ từ tổ, đội sản xuất trở lên.
6. Kế hoạch hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân
và kết quả giải quyết các đơn thư khiếu nại,
tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại,
tố cáo.
7, Nghị quyết Đại hội của tổ chức cơ sở Đảng
và cấp ủy có liên quan đến sản xuất, kinh doanh
theo quyết định của cấp ủy Đảng doanh nghiệp;
Nghị quyết của tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong doanh nghiệp.
Điều 6. Căn cứ đặc điểm
ngành nghề kinh doanh, Hội đồng quản trị, Giám
đốc thỏa thuận với Ban Chấp hành Công đoàn quy
định và công bố rõ trong toàn doanh nghiệp những
nội dung nào trong Điều 5 cần định kỳ thông báo
cho hội nghị cán bộ chủ chốt (Thường vụ Đảng
ủy, Chủ tịch và Phó Chủ tịch công đoàn, Bí thư
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trưởng, Phó
phòng (ban), phân xưởng); những nội dung nào cần
thông báo đến các phòng (ban); đến phân xưởng,
tổ (đội) sản xuất và đến mọi người lao động.
Bên cạnh quy định quyền nhận thông tin đối với
từng đối tượng trong doanh nghiệp, phải quy định
rõ trách nhiệm bảo vệ bí mật sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp, nhất là về công nghệ sản xuất,
giá thành sản phẩm phù hợp với các quy định của
pháp luật. Đối với những vấn đề thuộc bí mật
nhà nước, bí mật quốc phòng - an ninh, việc phổ
biến phải theo đúng pháp luật về bảo vệ bí mật
nhà nước.
Các đối tượng được tiếp nhận thông tin có quyền
chất vấn Hội đồng quản trị, Giám đốc về các
nội dung đã công khai quy định tại Điều 5 Quy chế
này; Hội đồng quản trị, Giám đốc có trách nhiệm
giải thích và làm sáng tỏ những thắc mắc, chất
vấn của các tổ chức và người lao động trong
doanh nghiệp và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước pháp luật về tính trung thực của các thông
tin đã công khai; có trách nhiệm thông báo về việc
tiếp thu ý kiến đóng góp xây dựng của các tổ
chức và người lao động về những việc phải công
khai ở doanh nghiệp.
Điều 7. Hội đồng quản
trị, Giám đốc phối hợp chặt chẽ với tổ chức
Công đoàn, bảo đảm thông tin thiết thực, kịp
thời, đúng đối tượng những nội dung phải công
khai ở doanh nghiệp bằng nhiều hình thức phù hợp.
1. Đại hội công nhân, viên chức (toàn thể hoặc
đại biểu) tiến hành từ tổ (đội) sản xuất,
phòng (ban), đến toàn doanh nghiệp.
2. Thông báo trong các cuộc họp định kỳ cán bộ
chủ chốt của doanh nghiệp.
3. Phổ biến trong các cuộc họp doanh nghiệp, hoặc
ở phân xưởng, tổ (đội) sản xuất, phòng (ban)
do chuyên môn tổ chức.
4. Thông báo tại các cuộc họp của Tổ chức Công
đoàn và các tổ chức chính trị xã hội khác trong
doanh nghiệp.
5. Thông báo bằng văn bản hoặc các ấn phẩm sách,
báo gửi đến từng tổ (đội) sản xuất, từng
phân xưởng, phòng (ban), hoặc niêm yết công khai
tại địa điểm thuận lợi trong doanh nghiệp.
6. Thông báo qua hệ thống tuyền thanh trong doanh nghiệp.
Điều 8. Những việc người
lao động tham gia ý kiến trước khi Hội đồng quản
trị, Giám đốc doanh nghiệp quyết định bao gồm: 1. Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch sản xuất,
kinh doanh trung, dài hạn và hàng năm của doanh nghiệp,
nhất là nhiệm vụ, kế hoạch sản xuất, công tác
của phòng (ban), phân xưởng, tổ (đội) sản xuất;
đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp
và của phòng (ban), phân xưởng, tổ (đội) sản
xuất.
2. Các biện pháp phát triển sản xuất, kinh doanh,
cải tiến cơ cấu sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh, sắp xếp lại sản xuất, thực hiện cổ phần
hóa.
3. Xây dựng và tổ chức thực hiện các nội quy,
quy chế theo quy định ở khoản 3, Điều 5 Quy chế
này.
4. Các biện pháp về: đổi mới công nghệ, thiết
bị, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành sản phẩm, bảo vệ môi trường;
cải tiến tổ chức lao động, bảo hộ lao động,
cải thiện điều kiện làm việc, sắp xếp lại
lao động và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ của người lao động; chú ý những biện pháp
có liên quan trực tiếp đến phân xưởng, tổ (đội),
phòng (ban) nơi người lao động làm việc.
5. Nội dung chủ yếu của thỏa ước lao động tập
thể để ký kết giữa Giám đốc và Chủ tịch công
đoàn hoặc đại diện công đoàn, gồm: những cam
kết về việc làm và bảo đảm việc làm, thời
gian nghỉ ngơi, tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp
lương, định mức kinh tế - kỹ thuật, an toàn lao
động, vệ sinh lao động và môi trường bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi xã hội.
6. Nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động để
ký kết giữa người lao động với Giám đốc hoặc
đại diện của Giám đốc doanh nghiệp gồm: công
việc phải làm, thời gian làm việc, thời gian nghỉ
ngơi, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng,
tiền lương, điều kiện về an toàn lao động, vệ
sinh lao động và môi trường, bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế đối với người lao động.
7. Chủ trương chung về huy động và sử dụng các
nguồn vốn, thực hiện nghĩa vụ với địa phương,
trích lập và sử dụng các quỹ từ lợi nhuận sau
thuế, quy chế tiếp khách, hội họp, giao dịch, hoa
hồng môi giới; nội dung chương trình hoạt động
hỗ trợ địa phương và từ thiện nhân đạo.
Điều 9. Những việc người
lao động tham gia ý kiến để các cơ quan quản lý
cấp trên, tổ chức Đảng, đoàn thể ở doanh nghiệp
tham khảo trước khi quyết định, hoặc xem xét, xử
lý bao gồm: 1. Giới thiệu những người có đủ tiêu chuẩn tín
nhiệm là Giám đốc, Phó Giám đốc, kế toán trưởng;
bỏ phiếu thăm dò tín nhiệm về các mặt điều
hành, khả năng tập hợp, phát huy dân chủ, công
tâm, phẩm chất đạo đức của các chức danh Chủ
tịch Hội đồng quản trị (đối với doanh nghiệp
nhà nước Hội đồng quản trị), Giám đốc và Phó
Giám đốc, kế toán trưởng của doanh nghiệp. Giới
thiệu đại biểu của tổ chức công đoàn đủ tiêu
chuẩn và tín nhiệm tham gia Hội đồng quản trị
và Ban Kiểm soát (ở những nơi có Hội đồng quản
trị) để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem
xét, bổ nhiệm.
2. Xây dựng chương trình hoạt động và đánh giá
kết quả hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân.
3. Tổ chức và nội dung của Đại hội công nhân,
viên chức doanh nghiệp từ tổ (đội) sản xuất
theo Luật Doanh nghiệp nhà nước và hướng dẫn của
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
4. Xây dựng Nghị quyết của Đại hội Đảng cơ
sở và cấp ủy về những vấn đề có liên quan
đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
5. Nội dung hoạt động của tổ chức cơ sở Công
đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Điều 10. Căn cứ vào đặc
điểm ngành nghề kinh doanh và tổ chức sản xuất
của doanh nghiệp, Hội đồng quản trị, Giám đốc
thỏa thuận với Ban Chấp hành Công đoàn công bố
rõ trong toàn doanh nghiệp những vấn đề nào cần
có sự tham gia ý kiến của toàn thể công nhân, viên
chức, của phòng (ban), của phân xưởng, tổ (đội)
sản xuất, hoặc của một số chuyên gia trong và
ngoài doanh nghiệp.
Hội đồng quản trị, Giám đốc, tổ chức Đảng,
đoàn thể ở doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo
tiếp thu ý kiến tham gia của người lao động. Những
nội dung người lao động tham gia quy định ở Điều
8 và Điều 9 mà không được chấp nhận, thì người
lao động vẫn phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết
định của Giám đốc (đối với những nội dung
quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 7 của Điều 8)
và của cơ quan quản lý cấp trên, tổ chức Đảng,
đoàn thể trong doanh nghiệp (đối với những nội
dung quy định tại Điều 9).
Điều 11. Những hình thức
chủ yếu để người lao động tham gia ý kiến bao
gồm: 1. Đại hội công nhân, viên chức của doanh nghiệp,
phòng (ban), tổ (đội) sản xuất.
2. Hội nghị chuyên môn do Giám đốc doanh nghiệp,
trưởng các phòng (ban), phân xưởng, tổ (đội) sản
xuất triệu tập.
3. Thông qua tổ chức thảo luận, thương lượng về
nội dung thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng
lao động.
4. Thông qua việc tiếp công dân theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
5. Cấp ủy Đảng cơ sở, Ban Chấp hành Công đoàn
cơ sở tổ chức lấy ý kiến của công nhân, viên
chức.
6. Tiếp xúc trực tiếp giữa Chủ tịch Hội đồng
quản trị hoặc Giám đốc và công nhân, viên chức
theo lịch hoặc yêu cầu đột xuất.
7. Đặt hòm thư góp ý kiến ở những địa điểm
thuận lợi trong doanh nghiệp.
Điều 12. Những việc người
lao động quyết định bao gồm: 1. Biểu quyết thông qua thỏa ước lao động tập
thể, hoặc bổ sung, sửa đổi để Chủ tịch Công
đoàn hoặc người đại diện công đoàn và Giám
đốc ký kết.
2. Ký kết hợp đồng lao động với Giám đốc hoặc
đại diện Giám đốc; đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động theo quy định của Bộ Luật lao động.
3. Thảo luận và biểu quyết Đại hội công nhân,
viên chức thông qua các Quy chế và các chỉ tiêu
kế hoạch của doanh nghiệp có liên quan trực tiếp
đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
phù hợp với hướng dẫn của nhà nước và tình
hình thực tế của doanh nghiệp; chú trọng quy chế
trích lập và sử dụng quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng,
quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm.
4. Bầu Ban Thanh tra nhân dân tại Đại hội công nhân,
viên chức.
Điều 13. Người lao động
quyết định những việc quy định tại Điều 12
Quy chế này thông qua: 1. Đại hội công nhân, viên chức (toàn thể hoặc
đại biểu).
2. Hội nghị toàn doanh nghiệp hoặc phòng (ban), phân
xưởng, tổ (đội) sản xuất.
3. Tổ chức công đoàn của doanh nghiệp.
Điều 14. Người lao động
có quyền giám sát, kiểm tra về tất cả những nội
dung đã được công khai ở doanh nghiệp theo quy định
tại Điều 5 Quy chế này và tự giám sát, kiểm tra,
giáo dục lẫn nhau trong thực hiện quyền hạn, nghĩa
vụ của người lao động; trong đó đặc biệt chú
ý thực hiện quyền giám sát, kiểm tra về:
1. Thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội công nhân,
viên chức.
3. Thực hiện các nội quy, quy chế của doanh nghiệp.
4. Thực hiện thỏa ước lao động tập thể.
5. Thực hiện hợp đồng lao động.
6. Thực hiện các chính sách, chế độ của nhà nước,
nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ của doanh
nghiệp đối với nhà nước và xã hội. Đặc biệt
việc sử dụng các loại quỹ sau thuế nhất là quỹ
phúc lợi của doanh nghiệp.
7. Kết quả việc giải quyết các tranh chấp lao động.
8. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân.
Điều 15. Việc thực hiện
quyền giám sát, kiểm tra của người lao động ở
doanh nghiệp thông qua các phương thức và tổ chức
chủ yếu là:
1. Thông qua Đại hội công nhân, viên chức của doanh
nghiệp, các cuộc họp của các phòng (ban), phân xưởng,
tổ (đội) sản xuất.
2. Thông qua sự lãnh đạo, kiểm tra, giám sát của
tổ chức Đảng và sự tham gia quản lý của tổ
chức Công đoàn doanh nghiệp.
3. Thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân.
4. Thông qua hoạt động kiểm toán theo quy định của
nhà nước.
5. Thông qua thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị phản ánh theo quy định của pháp luật
khiếu nại, tố cáo.
Điều 16. Các Tổng công
ty nhà nước vận dụng Quy chế này để xây dựng
quy chế cụ thể phù hợp với Tổng công ty.
Các doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào Quy chế này,
xây dựng các nội quy, Quy chế của doanh nghiệp,
cụ thể đến từng phòng (ban), phân xưởng, tổ
(đội) sản xuất.
Điều 17. Hội đồng quản
trị, Giám đốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh trong doanh nghiệp có trách nhiệm
bảo vệ và động viên, khen thưởng kịp thời những
người đấu tranh chống tiêu cực; ngăn chặn, xử
lý những biểu hiện trù dập, ngăn cản đấu tranh
chống tiêu cực và những hành động lợi dụng dân
chủ, gây mất đoàn kết, làm rối nội bộ, ảnh
hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Người nào vi phạm quy định của Quy chế này thì
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật.
Điều 18. Dưới sự lãnh
đạo của cấp ủy Đảng, Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Giám đốc doanh nghiệp có trách nhiệm
tổ chức thực hiện và phối hợp với tổ chức
công đoàn trong doanh nghiệp thực hiện Quy chế này.
Điều 19. Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm chỉ
đạo triển khai và định kỳ 6 tháng báo cáo Chính
phủ về tình hình thực hiện Quy chế này.
Điều 20. Trưởng Ban Đổi
mới quản lý doanh nghiệp Trung ương có trách nhiệm
theo dõi, tổng hợp và định kỳ báo cáo Thủ tướng
Chính phủ về tình hình thực hiện Quy chế này. |