|
Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để tăng cường công tác hành chính - tư pháp và
quản lý xã hội bằng pháp luật;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ tư pháp,
Điều 1.- Công chứng là
việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng
và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
và cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức), góp phần
phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được Công chứng
Nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân cấp
có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ,
trừ trường hợp bị Toà án Nhân dân tuyên bố là
vô hiệu.
Điều 2.- Khi thực hiện
công chứng, công chứng viên phải tuân theo các nguyên
tắc, trình tự, thủ tục quy định trong Nghị định
này, các quy định khác của pháp luật và các điều
ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam tham gia hoặc ký kết.
Điều 3.- Tiếng nói, chữ
viết dùng trong công chứng là tiếng Việt, chữ Việt.
Người nước ngoài yêu cầu công chứng mà không
thông thạo tiếng Việt thì phải có người phiên
dịch.
Điều 4.- Công chứng viên,
các nhân viên khác của Phòng Công chứng Nhà nước
khi thực hiện nhiệm vụ của mình phải bảo đảm
công minh, đúng pháp luật; có trách nhiệm giữ bí
mật về người đến yêu cầu công chứng, nội dung
công chứng, những sự việc mà mình được biết
có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của người
đến yêu cầu công chứng, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
Điều 5.- Công dân, tổ
chức có thể yêu cầu công chứng tại bất kỳ Phòng
Công chứng Nhà nước nào, trừ việc công chứng
mà theo quy định của pháp luật phải thực hiện
tại một Phòng Công chứng Nhà nước nhất định.
Việc công chứng được thực hiện tại trụ sở
của Phòng Công chứng Nhà nước, trừ trường hợp
người yêu cầu công chứng không thể đến trụ
sở của Phòng Công chứng Nhà nước vì lý do chính
đáng hoặc do pháp luật quy định.
Điều 6.- Người yêu cầu
công chứng phải là người có năng lực hành vi theo
quy định của pháp luật và phải xuất trình đầy
đủ các giấy tờ, tài liệu hợp pháp cho việc thực
hiện công chứng.
Điều 7.- Nội dung công
chứng phải được thể hiện rõ ràng và theo đúng
mẫu thống nhất do Bộ Tư pháp quy định.
Các văn bản công chứng phải được công chứng
viên ký, đóng dấu và ghi vào sổ công chứng.
Điều 8.- Người yêu cầu
công chứng phải nộp lệ phí công chứng khi việc
công chứng đã được thực hiện.
Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định mức thu lệ
phí đối với từng loại việc công chứng cụ thể
và phương thức quản ký, sử dụng lệ phí công
chứng.
Điều 9.- Chính phủ thống
nhất quản lý Nhà nước về công chứng trong phạm
vi cả nước.
Bộ Tư pháp thực hiện quản lý Nhà nước đối
với công tác công chứng và có những quyền hạn,
nhiệm vụ sau đây: 1. Trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm
quyền các văn bản hướng dẫn về tổ chức và
hoạt động công chứng;
2. Hướng dẫn, chỉ đạo về tổ chức, hoạt động
nhiệp vụ công chứng;
3. Bổ nhiệm công chứng viên theo dề nghị của Giám
đốc sở Tư pháp và cấp thẻ công chứng viên;
4. Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho
công chứng viên;
5. Ban hành các mẫu văn bản công chứng và các mẫu
sổ công chứng. Quy định việc in, phát hành các
mẫu đó;
6. Kiểm tra, thanh tra về tổ chức và hoạt động
công chứng;
7. Hợp tác quốc tế về công chứng;
Điều 10.- Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
có quyền hạn, nhiệm vụ sau đây: 1. Ra quyết định thành lập Phòng Công chứng Nhà
nước thuộc Sở Tư pháp; bổ nhiệm, miễm nhiệm
trưởng phòng công chứng. ở những thành phố trực
thuộc Trung ương và tỉnh lớn có nhiều yêu cầu
công chứng thì có thể thành lập một số Phòng
Công chứng Nhà nước thuộc sở Tư pháp.
2. Định biên chế cho phòng công chứng trong phạm
vi địa phương mình, bảo đảm cơ sở vật chất,
phương tiện cho hoạt động công chứng Nhà nước
.
Điều 11.- Giám đốc Sở
Tư pháp có quyền hạn, nhiệm vụ sau đây: 1. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương về việc thành lập Phòng
Công chứng Nhà nước thuộc Sở Tư pháp, đề nghị
bổ nhiệm, miễm nhiệm Trưởng phòng Công chứng.
2. Bổ nhiệm, miễm nhiệm Phó trưởng Phòng Công
chứng Nhà nước;
3. Quản lý, kiểm tra tổ chức và hoạt động của
Phòng Công chứng Nhà nước;
4. Bảo đảm chế độ, chính sách đối với công
chứng viên và các nhân viên khác của Phòng Công
chứng;
5. Giải quyết khiếu nại của tổ chức, cá nhân
liên quan đến việc thực hiện nghiệp vụ của công
chứng viên;
6. Định kỳ 6 tháng và hàng năm báo cáo về công
tác công chứng với Bộ Tư pháp và Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh.
Điều 12.- Phòng Công chứng
Nhà nước thuộc Sở Tư pháp có tư cách pháp nhân,
có tài khoản riêng và có con dấu riêng theo quy dịnh
của Chính phủ.
Điều 13.- Phòng Công chứng
Nhà nước có Trưởng phòng, Phó trưởng phòng, các
công chứng viên và các nhân viên khác.
Trưởng phòng, Phó trưởng Phòng Công chứng Nhà nước
phải được tuyển chọn và bổ nhiệm trong số các
công chứng viên.
Điều 14.- Trưởng Phòng
Công chứng Nhà nước chịu trách nhiệm điều hành
hoạt động của Phòng, có các nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây: 1. Lập và chỉ đạo thực hiện các kế hoạch công
tác của Phòng;
2. Điều hành công việc hàng ngày của Phòng;
3. Định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo về tổ chức
và hoạt động của Phòng với Giám đốc Sở Tư
pháp.
Khi thực hiện công chứng, trưởng phòng, Phó trưởng
phòng công chứng Nhà nước ký các văn bản công
chứng với tư cách công chứng viên.
Điều 15.- Uỷ ban nhân dân
cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện) thực hiện việc
chứng thực đối với những việc quy định tại
khoản 1 Điều 19 của Nghị định này và các việc
khác do pháp luật quy định.
Điều 16.- Cơ quan đại
diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện các yêu cầu
công chứng của công dân, tổ chức của Việt Nam
ở nước ngoài theo quy dịnh tại Pháp lệnh Lãnh
sự.
Điều 17.- Công dân Việt
Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn
sau đây được xem xét tuyển chọn và bổ nhiệm
làm công chứng viên: 1. Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, công
minh, trung thực, liêm khiết, khách quan.
2. Tốt nghiệp Đại học Luật;
3. Có thời gian công tác pháp luật từ 5 năm trở
lên;
4. Đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng.
Công chứng viên phải hoạt động chuyên trách, không
được kiêm nhiệm công việc khác tại các cơ quan
Nhà nước, tổ chức kinh tế, và không được hành
nghề tự do.
Điều 18.- Phòng Công chứng
Nhà nước thực hiện các việc sau đây: 1. Chứng nhận hợp đồng kinh tế, hợp đồng bán
đấu giá bất động sản, hợp đồng gửi giữ tài
sản, hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài;
chứng nhận biên bản của Hội đồng định giá
tài sản bằng hiện vật đầu tư ban đầu của chủ
doanh nghiệp tư nhân; chứng nhận việc trình kháng
nghị hàng hải; chứng nhận bản dịch đơn yêu cầu,
bản án và quyết định dân sự của Toà án nước
ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài có
liên quan đến công dân hoặc tổ chức Việt Nam để
toà án Việt Nam xem xét, công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam; chứng nhận bản dịch các giấy tờ
bằng tiếng nước ngoài về việc người nước ngoài
kết hôn với công dân Việt Nam, nhận người Việt
Nam là con ngoài giá thú, nhận trẻ em Việt Nam làm
con nuôi, nhận đỡ đầu người Việt Nam, chứng
nhận bản dịch di chúc bằng tiếng nước ngoài ra
tiếng Việt.
2. Chứng nhận các việc theo quy định của pháp luật
phải được công chứng.
3. Chứng nhận theo yêu cầu của đương sự các việc
mà pháp luật giao cho công chứng chứng nhận hoặc
Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực.
Điều 19.- Uỷ ban nhân dân
quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các
việc do pháp luật quy định và chứng thực bản
sao giấy tờ từ bản chính, trừ các việc được
quy định tại khoản 1, 2 Điều 18 của Nghị định
này.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực
việc từ chối nhận di sản, chứng thực di chúc
và các việc khác do pháp luật quy định.
Điều 20.- Cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền cấp bản chính giấy tờ như giấy
khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, văn bằng, chứng
chỉ và các giấy tờ khác cũng có quyền cấp bản
sao các giấy tờ đó cho đương sự.
Điều 21.- Khi thực hiện
công chứng, công chứng viên có nhiệm vụ: 1. Phổ biến trình tự, thủ tục thực hiện công
chứng cho đương sự theo quy định của pháp luật;
2. Tiếp nhận, kiểm tra các giấy tờ, tài liệu do
đương sự xuất trình.
3. Trực tiếp thực hiện công chứng, ký văn bản
công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp
luật về việc công chứng do mình thực hiện;
4. Giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu
rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ,
ý nghĩa pháp lý của việc công chứng.
Điều 22.- Khi thực hiện
công chứng, công chứng viên có quyền: 1. Yêu cầu đương sự xuất trình đầy đủ các
giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện
công chứng.
2. Yêu cầu cơ quan chuyên môn giám định hoặc làm
tư vấn khi thấy cần thiết.
3. Từ chối thực hiện công chứng đối với các
trường hợp quy định tại Điều 23 của Nghị định
này.
Điều 23.- Công chứng viên
không được thực hiện việc chứng nhận trong các
trường hợp sau đây: 1. Việc không thuộc phạm vi hoạt động công chứng;
2. Yêu cầu công chứng trái Pháp luật;
3. Việc liên quan đến bản thân mình, đến những
người trong gia đình mình là: vợ hoặc chồng, anh
chị em ruột (kể cả anh, chị em vợ hoặc chồng,
anh, chị em nuôi), cha, mẹ (kể cả cha, mẹ vợ hoặc
cha, mẹ chồng, cha, mẹ nuôi), ông bà nội, ông bà
ngoại, con (kể cả con nuôi, con dâu, con rể), cháu
(các con của con trai, con gái, con nuôi).
Điều 24.- Phó Chủ tịch
thường trực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện hoặc
Uỷ viên Uỷ ban nhân dân cấp huyện là Chánh Văn
phòng Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc
chứng thực theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của
Nghị định này và đóng dấu Uỷ ban nhân dân cấp
huyện. Phòng Tư pháp cấp huyện giúp Phó Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Chánh Văn phòng Uỷ
ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc chứng thực
này.
Phó Chủ tịch thường trực Uỷ ban nhân dân cấp
huyện hoặc Uỷ viên Uỷ ban nhân dân cấp huyện
là Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực
hiện việc chứng thực phải tuân theo các Điều
21, Điều 22 và 23 của Nghị định này.
Điều 25.- Viên chức được
giao thực hiện các việc chứng nhận của cơ quan
đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của Việt Nam
tại nước ngoài phải tuân theo các Điều 21, 22 và
23 của Nghị định này.
Các văn bản chứng nhận do cơ quan đại diện ngoại
giao hoặc lãnh sự của Việt Nam tại nước ngoài
thực hiện có giá trị như các văn bản công chứng
và chứng thực ở trong nước.
Điều 26.- Công chứng viên
chứng nhận các thoả thuận về những nội dung trong
hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng mua bán bất
động sản bán đấu giá, hợp đồng trao đổi tài
sản, tặng cho bất động sản, hợp đồng thuê nhà
ở, hợp đồng thuê khoán tài sản, hợp đồng gửi
giữ tài sản, hợp đồng uỷ quyền.
Việc chứng nhận hợp đồng chuyển quyền sở hữu
tài sản phải được thực hiện trước khi sang tên
trước bạ tài sản.
Các hợp đồng chuyển quyền sở hữu bất động
sản phải được chứng nhận tại Phòng Công chứng
Nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi có
bất động sản đó.
Khi yêu cầu công chứng chứng nhận hợp đồng có
liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải
đăng ký quyền sở hữu thì đương sự phải xuất
trình giấy chứng minh nhân dân và giấy chứng nhận
quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó.
Điều 27.- Công chứng viên
chứng nhận văn bản thế chấp tài sản, văn bản
cầm cố, bảo lãnh.
Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì
việc chứng nhận văn bản thế chấp, cầm cố, bảo
lãnh được thực hiện tại Phòng Công chứng Nhà
nước nơi đăng ký tài sản đó.
Điều 28.- Công chứng viên
chứng nhận di chúc của công dân do chính họ yêu
cầu, không chứng nhận di chúc thông qua người đại
diện.
Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc
trước công chứng viên. Công chứng viên phải ghi
chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên
bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào
bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được
ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của
mình. Công chứng viên ký vào bản di chúc.
Người lập di chúc có thể yêu cầu Công chứng viên
tới chỗ ở của mình để lập di chúc. Việc Công
chứng viên lập di chúc tại chỗ ở của người
lập di chúc phải có ít nhất hai người làm chứng.
Trong trường hợp người lập di chúc yêu cầu sửa
đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hay toàn
bộ di chúc đã được công chứng, thì thực hiện
công chứng lại.
Điều 29.- Người yêu cầu
công chứng chứng nhận việc từ chối nhận di sản
phải nộp đơn và các giấy tờ cần thiết khác
cho Phòng Công chứng Nhà nước.
Sau khi có quyết định xác định người để lại
di sản đã chết, xác định đương sự là người
thuộc hàng thừa kế nào, Công chứng viên chứng
nhận việc từ chối nhận di sản của đương sự
theo các quy định của pháp luật về thừa kế.
Điều 30.- Người lập di
chúc có thể yêu cầu Phòng Công chứng Nhà nước
giữ bản di chúc của mình. Khi nhận giữ, Công chứng
viên phải lập hai bản có nội dung như nhau, một
bản giao cho người lập di chúc và một bản lưu
tại Phòng Công chứng Nhà nước.
Trong trường hợp bản di chúc được lưu giữ tại
Phòng Công chứng Nhà nước, thì Công chứng viên
là người công bố di chúc. Việc công bố di chúc
phải có biên bản. Sau thời điểm mở thừa kế,
Công chứng viên phải gửi bản sao di chúc tới tất
cả những người có liên quan đến nội dung di chúc.
Bản sao di chúc này phải có chứng nhận của công
chứng viên.
Điều 31.- Công chứng viên
chỉ chứng nhận biên bản của Hội đồng định
giá tài sản bằng hiện vật đầu tư ban đầu của
chủ doanh nghiệp tư nhân khi chủ doanh nghiệp tư
nhân yêu cầu công chứng và có giấy chứng nhận
sở hữu tài sản.
Hội đồng định giá được thành lập theo quyết
định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương bao gồm các thành phần
sau:
- Đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về giá của
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Chủ tịch
Hội đồng.
- Các chuyên gia về từng loại tài sản cần định
giá, là thành viên.
- Đại diện cơ quan đã cấp đăng ký kinh doanh cho
doanh nghiệp tư nhân đó, là thành viên.
Phòng công chứng không tham gia trong thành phần Hội
đồng định giá.
Điều 32.- Việc dịch đơn
yêu cầu và bản án, quyết định dân sự của Toà
án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước
ngoài có liên quan đến công dân hoặc tổ chức Việt
Nam để Toà án Việt Nam xem xét, công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam, việc dịch các giấy tờ từ
tiếng nước ngoài về việc người nước ngoài kết
hôn với công dân Việt Nam, nhận người Việt Nam
làm con ngoài dã thú, nhận trẻ em Việt Nam làm con
nuôi, nhận đỡ đầu người Việt Nam, di chúc và
giấy tờ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc
ngược lại, phải do người có trình độ đại học
ngoại ngữ hoặc đại học Luật mà thông thạo thứ
tiếng đó thực hiện.
Người yêu cầu công chứng có đủ trình độ ngoại
ngữ theo quy định trên đây cũng có thể tự dịch
và đề nghị công chứng chứng nhận bản dịch của
mình.
Danh sách người dịch là cộng tác viên thường xuyên
của Phòng Công chứng do Giám đốc Sở Tư pháp công
nhận theo đề của Trưởng phòng Công chứng.
Người dịch phải ký và chịu trách nhiệm về tính
chính xác của nội dung bản dịch. Công chứng viên
chứng nhận chữ ký của người dịch trên bản dịch
đó.
Điều 33.- Công chứng viên
tiếp nhận bản kháng nghị hàng hải do thuyền trưởng
lập về sự kiện xảy ra trong thời gian tàu đi trên
biển hoặc đỗ ở cảng.
Sau khi xem xét bản kháng nghị hàng hải, những giải
thích thêm của thuyền trưởng có thể hỏi hai nhân
chứng của tàu (một người trong Ban chỉ huy tàu,
một người trong đội thuỷ thủ của tàu), Công
chứng viên chứng nhận việc trình kháng nghị này
.
Theo đề nghị của thuyền trưởng, công chứng viên
có thể yêu cầu cơ quan chuyên môn thực hiện giám
định.
Điều 34.- Uỷ ban nhân dân
cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp phường, xã,
thị trấn, khi chứng thực các việc được quy định
tại Điều 19 của Nghị định này phải tuân theo
trình tự, thủ tục quy định tại chương V Nghị
định này và được thu lệ phí như đối với các
việc chứng nhận của Phòng Công chứng.
Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp các bản
sao giấy tờ cũng được thu lệ phí theo quy định
của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp.
Điều 35.- Công dân, tổ
chức có quyền khiếu nại với Trưởng phòng Công
chứng về việc từ chối thực hiện công chứng
hoặc về nội dung công chứng mà Công chứng viên
đã thực hiện và có quyền tố cáo hành vi công
chứng trái pháp luật.
Khiếu nại, tố cáo việc công chứng được xem xét,
giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu
nại, tố cáo.
Điều 36.- Người nào vi
phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ, về công
chứng thì tuỳ theo mức độ nặng hoặc nhẹ mà
bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình
sự, nếu gây thiệt hại về vật chất thì phải
bồi thường.
Điều 37.- Nghị định này
có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Nghị định
số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 của Hội đồng
Bộ trưởng về tổ chức hoạt động công chứng
Nhà nước.
Điều 38.- Bộ trưởng Bộ
Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị
định này.
Điều 39.- Các Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm
thi hành Nghị định này. |