|
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ
ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình ngày 09 tháng 6
năm 2000;
Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6
năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn
nhân và gia đình;
Để tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình, bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, tiến tới xoá bỏ tình trạng
hôn nhân không đăng ký, khuyến khích xác lập quan
hệ hôn nhân hợp pháp;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
Điều 1.Phạm vi điều chỉnh 1. Nghị định này quy định chi tiết về đăng ký
kết hôn đối với: a) Các trường hợp quan hệ vợ chồng được xác
lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật,
mà chưa đăng ký kết hôn;
b) Các trường hợp nam và nữ chung sống với nhau
như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày
01 tháng 01 năm 2001, ngày Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 có hiệu lực pháp luật, mà chưa đăng ký
kết hôn.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm cả các
trường hợp giữa một bên là công dân Việt Nam
và một bên là công dân của nước láng giềng có
chung đường biên giới với Việt Nam đã sinh sống
ổn định, lâu dài tại Việt Nam; các trường hợp
giữa một bên là công dân Việt Nam và một bên là
người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam
hoặc cả hai bên đều là người không quốc tịch
thường trú tại Việt Nam.
Người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam
nói tại khoản này là người không có quốc tịch
Việt Nam và cũng không được các nước khác thừa
nhận có quốc tịch nước đó, đang làm ăn và sinh
sống ổn định, lâu dài ở Việt Nam.
Điều 2. Khuyến khích đăng
ký kết hôn và nghĩa vụ đăng ký kết hôn 1. Những trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập
trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, mà chưa đăng ký
kết hôn, thì được Nhà nước khuyến khích và tạo
điều kiện thuận tiện cho đăng ký kết hôn. Việc
đăng ký kết hôn đối với những trường hợp này
không bị hạn chế về thời gian.
2. Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ
ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm
2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định
của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa
vụ đăng ký kết hôn. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm
2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật
không công nhận họ là vợ chồng.
Điều 3. Công nhận ngày hôn
nhân có hiệu lực
Quan hệ hôn nhân của những người đăng ký kết
hôn theo quy định tại Nghị định này, được công
nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ vợ chồng
hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực
tế. Ngày công nhận hôn nhân có hiệu lực phải
được ghi rõ trong Sổ đăng ký kết hôn và Giấy
chứng nhận kết hôn theo hướng dẫn của Bộ Tư
pháp.
Điều 4. Miễn lệ phí đăng
ký kết hôn
Việc đăng ký kết hôn đối với các trường hợp
quy định tại Nghị định này được miễn lệ phí.
Điều 5. Thẩm quyền và thủ
tục đăng ký kết hôn 1. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây
gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã), nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú của một trong hai bên, thực hiện
việc đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp cả hai bên không có hộ khẩu thường
trú, nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn theo
quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu,
thì ủy ban nhân dân cấp xã, nơi một trong hai bên
đăng ký tạm trú có thời hạn, thực hiện việc
đăng ký kết hôn.
2. Khi đăng ký kết hôn, các bên chỉ cần làm Tờ
khai đăng ký kết hôn và xuất trình Giấy chứng
minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế.
Trong Tờ khai đăng ký kết hôn, các bên ghi bổ sung
ngày, tháng, năm xác lập quan hệ vợ chồng hoặc
chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế.
Trong trường hợp vợ chồng không cùng xác định
được ngày, tháng xác lập quan hệ vợ chồng hoặc
chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế,
thì cách tính ngày, tháng như sau:
- Nếu xác định được tháng mà không xác định
được ngày, thì lấy ngày 01 của tháng tiếp theo;
- Nếu xác định được năm mà không xác định được
ngày, tháng, thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm tiếp
theo.
Điều 6. Giải quyết việc
đăng ký kết hôn đối với quan hệ vợ chồng xác
lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987
Trong trường hợp hai vợ chồng cùng thường trú
hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết
hôn, thì Uỷ ban nhân dân thực hiện việc đăng ký
kết hôn ngay sau khi nhận Tờ khai đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp một trong hai bên không thường
trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký
kết hôn, nhưng Uỷ ban nhân dân biết rõ về tình
trạng hôn nhân của họ, thì cũng giải quyết đăng
ký kết hôn ngay. Khi có tình tiết chưa rõ các bên
có vi phạm quan hệ hôn nhân một vợ, một chồng
hay không, thì Uỷ ban nhân dân yêu cầu họ làm giấy
cam đoan và có xác nhận của ít nhất hai người
làm chứng về nội dung cam đoan đó. Người làm chứng
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính
chính xác của lời chứng.
Điều 7. Giải quyết việc
đăng ký kết hôn đối với trường hợp nam và nữ
chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng
01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001
Trong trường hợp một trong hai bên kết hôn không
có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời
hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì Tờ khai đăng
ký kết hôn phải được cơ quan, đơn vị nơi đang
công tác (đối với cán bộ, công chức, người đang
phục vụ trong lực lượng vũ trang) hoặc Uỷ ban
nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường
trú hoặc tạm trú có thời hạn xác nhận về tình
trạng hôn nhân của người đó. Nếu cả hai bên
cùng thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại
nơi đăng ký kết hôn, thì không cần sự xác nhận
nói trên.
Sau khi nhận Tờ khai đăng ký kết hôn, Uỷ ban nhân
dân kiểm tra, nếu các bên đã đủ điều kiện kết
hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000, thì đăng ký kết hôn ngay. Khi
có tình tiết chưa rõ là một trong hai bên hoặc cả
hai bên có đủ điều kiện kết hôn hay không, thì
Uỷ ban nhân dân yêu cầu họ làm giấy cam đoan và
có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng về
nội dung cam đoan đó. Người làm chứng phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác
của lời chứng.
Điều 8. Địa điểm đăng
ký kết hôn
Để tạo điều kiện thuận tiện cho các bên kết
hôn, việc đăng ký kết hôn có thể được thực
hiện tại trụ sở Uỷ ban nhân dân hoặc tại thôn,
bản, tổ dân phố theo kế hoạch của Uỷ ban nhân
dân cấp xã.
Điều 9. Công nhận con chung
của vợ chồng
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn của các
trường hợp quy định tại Điều 1 Nghị định này
và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của
vợ chồng.
Nếu trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của
người con vẫn bỏ trống phần ghi về người cha,
thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai
sinh, căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn của
cha mẹ để ghi bổ sung về người cha vào Sổ đăng
ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con, đồng
thời gạch bỏ phần ghi chú "con ngoài giá thú"
trong Sổ đăng ký khai sinh.
Điều 10. Trách nhiệm của
Bộ Tư pháp
Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai thực hiện
Nghị định này.
Điều 11. Trách nhiệm của
Uỷ ban nhân dân các cấp 1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp
huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra,
đôn đốc Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc triển
khai thực hiện Nghị định này.
2. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: a) Tuyên truyền, vận động, rà soát, lập danh sách
các trường hợp cần đăng ký kết hôn theo quy định
tại Nghị định này;
b) Tổ chức đăng ký kết hôn kịp thời, thuận tiện,
chính xác cho những trường hợp quy định tại Nghị
định này;
c) Xác nhận chính xác, kịp thời về tình trạng
hôn nhân của các bên kết hôn, nếu được yêu cầu;
d) Bảo đảm cân đối kinh phí từ ngân sách nhà
nước theo quy định hiện hành cho hoạt động đăng
ký kết hôn nói tại Nghị định này.
Điều 12. Hiệu lực thi hành 1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày,
kể từ ngày ký.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định
này.
|