|
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng
9 năm 1992;
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và
ủy ban nhân dân ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Căn cứ Nghị quyết số 08/2001/NQ-CP ngày 02 tháng
8 năm 2001 của Chính phủ về nội dung phiên họp
Chính phủ thường kỳ tháng 7 năm 2001;
Theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh tại tờ trình số 3113/UB-TT ngày
07 tháng 9 năm 2001,
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Nghị định này quy định về nội dung phân cấp
quản lý nhà nước cho Hội đồng nhân dân, ủy ban
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trên một số lĩnh
vực sau đây:
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư và phát
triển kinh tế, xã hội;
- Quản lý nhà, đất và hạ tầng kỹ thuật đô
thị;
- Quản lý ngân sách nhà nước;
- Tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ, công chức.
Điều 2. Mục tiêu phân cấp Tăng cường phân cấp quản lý cho thành phố Hồ
Chí Minh (sau đây gọi tắt là Thành phố) nhằm đề
cao trách nhiệm và tạo điều kiện phát huy tính
chủ động, sáng tạo để giải quyết kịp thời
các vấn đề đặt ra thuộc thẩm quyền giải quyết
của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân Thành phố,
khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh
của Thành phố trong phát triển kinh tế - xã hội,
tương xứng với vị trí, vai trò của Thành phố
đối với cả nước và khu vực.
Điều 3. Nguyên tắc phân cấp Việc phân cấp quản lý cho Thành phố được thực
hiện theo những nguyên tắc sau đây: 1. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành
tập trung thống nhất và thông suốt của Chính phủ;
đồng thời phát huy trách nhiệm quyền tự chủ,
tính năng động, sáng tạo của Thành phố trong việc
thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội trên địa bàn.
2. Phân cấp quản lý gắn liền với việc tăng cường
trách nhiệm kiểm tra của các Bộ, ngành đối với
hoạt động của chính quyền Thành phố.
3. Phân cấp quản lý đi đôi với việc thực hiện
chương trình cải cách hành chính ở các cấp chính
quyền nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ
máy quản lý nhà nước ở địa phương; tạo thuận
lợi cho hoạt động của doanh nghiệp và đời sống
của nhân dân.
4. Phù hợp với pháp luật hiện hành về thẩm quyền
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
5. Phân cấp quản lý đi đôi với tăng cường trách
nhiệm của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân
Thành phố và mở rộng dân chủ, thực hiện công
khai cho cấp dưới tham gia bàn bạc và giám sát thực
hiện.
Điều 4. Quản lý quy hoạch, kế
hoạch 1. Trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn,
Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân Thành phố
có trách nhiệm: a) Xây dựng, phê duyệt quy hoạch chi tiết và điều
chỉnh cục bộ quy hoạch để bảo đảm tính đồng
bộ, hài hoà và phù hợp với từng giai đoạn phát
triển, nhưng không làm thay đổi quan điểm và định
hướng của quy hoạch tổng thể đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt;
b) Làm đầu mối trong việc phối hợp với các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các
đơn vị của Trung ương đóng trên địa bàn để
xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch ngành
trên địa bàn;
c) Phối hợp và hợp tác, hỗ trợ với các địa
phương trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong
việc xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của cả Vùng.
2. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
có trách nhiệm: a) Xây dựng chiến lược và phát triển quy hoạch
ngành, quy hoạch Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
làm căn cứ để Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân thành phố xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành trên địa
bàn;
b) Hướng dẫn và phối hợp với ủy ban nhân dân
Thành phố trong việc xây dựng và triển khai thực
hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội trên địa bàn thành phố;
c) Giải quyết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị Thủ
tướng Chính phủ giải quyết kịp thời những vướng
mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện
quy hoạch, kế hoạch của Thành phố.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
kiến nghị của ủy ban nhân dân Thành phố; các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên
quan phải trả lời bằng văn bản về kiến nghị
đó. Quá thời hạn trên, nếu không có ý kiến trả
lời, thì coi như đồng ý với kiến nghị của ủy
ban nhân dân Thành phố và các cơ quan liên quan phải
chịu trách nhiệm về các nội dung thuộc thẩm quyền
của mình. ủy ban nhân dân Thành phố được quyền
quyết định và báo cáo với Thủ tướng Chính phủ.
3. Các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam:
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong Vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam có trách nhiệm phối hợp
với ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong
việc thực hiện quy hoạch tổng thể và quy hoạch
chuyên ngành trong Vùng, bảo đảm tính đồng bộ,
thống nhất về các vấn đề phát triển kinh tế
- xã hội trong phạm vi toàn Vùng.
Điều 5. Quản lý đầu tư 1. Đối với một số dự án đầu tư sử dụng vốn
trong nước (trừ các dự án thuộc lĩnh vực bảo
vệ an ninh quốc phòng có tính bảo mật quốc gia,
thành lập và xây dựng khu công nghiệp mới, sản
xuất chất độc hại, chất nổ không phụ thuộc
vào quy mô) do Uỷ ban nhân dân thành phố quản lý,
nhưng thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng
Chính phủ, nay Thủ tướng Chính phủ phê duyệt báo
cáo nghiên cứu khả thi của dự án và ủy quyền
cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố quyết định
đầu tư và triển khai các bước tiếp theo của quá
trình thực hiện dự án.
2. Căn cứ Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng
7 năm 1999 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế
quản lý đầu tư và xây dựng, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP
ngày 05 tháng 5 năm 2000 của Chính phủ về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản
lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định
số 52/1999/NĐ-CP, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành
phố được quyền quyết định các dự án đầu
tư sử dụng nguồn vốn trong nước, phù hợp với
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn do Thành phố quản lý, trừ những
dự án có nguồn vốn ODA, vốn tín dụng nước ngoài
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính
bảo lãnh.
3. Đối với các dự án nêu tại khoản 2 Điều này
mà Thủ tướng Chính phủ phân cấp cho Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định đầu tư,
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố được ủy
quyền cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện
và Giám đốc các Sở, Ban, ngành triển khai thực
hiện đầu tư. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố
chịu trách nhiệm về sự ủy quyền này trước Thủ
tướng Chính phủ.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố chịu trách
nhiệm trong việc quyết định và chỉ đạo triển
khai thực hiện các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền
phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn thành phố và tuân thủ
các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, môi trường theo
quy định về quản lý ngành đối với từng dự
án.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
liên quan có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc,
kiểm tra việc thực hiện các dự án đầu tư tại
Thành phố theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 6. Thẩm quyền trong công tác
đấu thầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố được phê
duyệt kế hoạch đấu thầu, tiêu chuẩn xét thầu,
kết quả đấu thầu, chỉ định các gói thầu đối
với các dự án thuộc thẩm quyền quản lý của
Thành phố, trên cơ sở tuân thủ các điều kiện
cụ thể của Quy chế đấu thầu ban hành tại Nghị
định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 và
Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2000
của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo
Nghị định số 88/1999/NĐ-CP.
Điều 7. Sắp xếp và tổ chức
lại doanh nghiệp nhà nước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố được quyền
quyết định việc cổ phần hoá, giao, bán, khoán
kinh doanh, cho thuê và sắp xếp đối với doanh nghiệp
nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của ủy ban
nhân dân Thành phố. Việc thực hiện các nội dung
tại Điều này phải tuân thủ các quy định khác
của pháp luật có liên quan và các văn bản hướng
dẫn thi hành.
Điều 8. Ban hành các quy định nhằm
khuyến khích xã hội hoá các dịch vụ công ích
và hạ tầng xã hộ
i 1. Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện
hành, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Thành
phố ban hành các chế độ ưu đãi, cơ chế quản
lý cụ thể nhằm khuyến khích các thành phần kinh
tế tham gia rộng rãi các dịch vụ công ích đô thị
trên địa bàn dưới các hình thức khoán, đấu thầu,
trợ giá dịch vụ công ích do các chủ đầu tư cung
cấp hoặc ký hợp đồng mua các loại dịch vụ công
ích đô thị.
2. Trên cơ sở Nghị quyết số 90/NQ-CP ngày 21 tháng
8 năm 1997 và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19
tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về chính sách khuyến
khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong
lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể
dục, thể thao, sau khi thống nhất ý kiến với các
Bộ, ngành liên quan, Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định các chủ trương, biện pháp nhằm khuyến
khích, thúc đẩy, mở rộng các hình thức xã hội
hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực khoa
học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế, văn
hoá, thể dục, thể thao trên địa bàn.
3. Trên cơ sở quy hoạch của Thành phố trong các
lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể
dục, thể thao, Uỷ ban nhân dân Thành phố có quyền
hạn sau đây: a) Quyết định thành lập cơ sở giáo dục phổ thông,
bán công, tư thục; thành lập hoặc chuyển sang hình
thức bán công đối với các trường trung học chuyên
nghiệp, cơ sở dạy nghề, cơ sở y tế, cơ sở văn
hoá, cơ sở thể dục, thể thao trực thuộc Thành
phố;
b) Quyết định thành lập các loại hình bệnh viện
trên địa bàn theo quy định của Bộ Y tế về những
điều kiện, tiêu chuẩn của ngành.
Điều 9. Quản lý dân cư và các
vấn đề xã hội Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, ủy
ban nhân dân Thành phố ban hành: 1. Các quy định về quản lý di dân, quy định các
biện pháp kiểm soát và hạn chế nhập cư tự phát,
trái pháp luật; điều chỉnh dân cư theo quy hoạch,
trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người dân;
2. Các quy định ưu đãi, tạo điều kiện thuận
lợi cho những người có trình độ cao, chuyên gia
giỏi cư trú, làm việc trên địa bàn;
3. Các quy định về quản lý lao động, các biện
pháp tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Điều 10. Quản lý nhà, đất đối
với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước Căn cứ Luật Đất đai hiện hành và các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, ủy ban nhân
dân Thành phố ban hành các quy định về: 1. Trình tự, thủ tục hành chính về chuyển mục
đích sử dụng đất từ các loại đất khác sang
đất làm nhà ở đối với khu vực đã có quy hoạch
chi tiết được xét duyệt;
2. Trình tự, thủ tục hành chính về cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân;
3. Trình tự, thủ tục hành chính về chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất nuôi trồng
thủy sản, đất làm muối tại các huyện và quận;
4. Trình tự, thủ tục hành chính về giao đất hoặc
cho thuê đất đối với các chủ dự án đầu tư;
5. Thủ tục cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền
sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá
trị quyền sử dụng đất trên địa bàn Thành phố.
Điều 11. Quản lý về nhà, đất
đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài Uỷ ban nhân dân Thành phố được ủy quyền quy định
thủ tục mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng
đất ở đối với người Việt Nam định cư ở
nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại Điều
80 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Đất đai năm 2001 và hướng dẫn thi hành Luật Đất
đai, đầu tư trên địa bàn Thành phố.
Điều 12. Thẩm quyền xác định
giá đất, đền bù thiệt hại và thu hồi đất Uỷ ban nhân dân Thành phố: 1. Căn cứ quy định của Chính phủ về khung giá
và nguyên tắc, phương pháp xác định giá các loại
đất được ủy quyền, quy định giá các loại đất
trên địa bàn phù hợp với mục tiêu quy hoạch phát
triển đô thị và tình hình thực tế của thị trường
bất động sản tại địa phương.
2. Thành lập các công ty tư vấn định giá đất
và các công trình kiến trúc gắn liền với đất,
đáp ứng yêu cầu xác định giá trị bồi thường
hoặc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; kê biên
phát mãi nhà, xưởng gắn liền với quyền sử dụng
đất và các trường hợp có yêu cầu khác.
3. Chịu trách nhiệm tổ chức đền bù, giải tỏa
theo cơ chế định giá được quy định tại khoản
1 và 2 Điều này và trực tiếp thu hồi toàn bộ
đất khu vực quy hoạch xây dựng dự án, không phân
biệt mục đích của dự án, sau đó giao hoặc cho
thuê đất cho chủ đầu tư thực hiện dự án.
Điều 13. Quản lý kiến trúc và
quy hoạch xây dựng Uỷ ban nhân dân Thành phố có quyền hạn và trách
nhiệm: 1. Căn cứ Quy hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ý kiến
thống nhất bằng văn bản của Bộ Xây dựng, tổ
chức lập, xét duyệt các đồ án quy hoạch chi tiết;
cân đối, sử dụng hợp lý vốn ngân sách theo kế
hoạch hàng năm; có chính sách tạo vốn lập các
dự án điều tra, khảo sát và thiết kế quy hoạch
xây dựng.
2. Ban hành Quy chế quản lý kiến trúc và quy hoạch
xây dựng trên địa bàn Thành phố nhằm cụ thể
hóa các quy chuẩn, tiêu chuẩn nhà nước về quy hoạch,
kiến trúc và xây dựng phù hợp với điều kiện
thực tế của Thành phố.
3. Xây dựng, ban hành các quy định về kiến trúc
cảnh quan phù hợp với quy định hiện hành, bảo
đảm giữ gìn các di sản văn hoá, kiến trúc truyền
thống và phát triển kiến trúc mới của Thành phố
hiện đại, giàu bản sắc dân tộc.
4. Tổ chức công bố công khai các dự án quy hoạch
xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
giới thiệu địa điểm và cấp chứng chỉ quy hoạch
cho các tổ chức, cá nhân biết để thực hiện và
kiểm tra việc xây dựng theo quy hoạch.
Điều 14. Quản lý đầu tư và xây
dựng Uỷ ban nhân dân Thành phố được ủy quyền ban hành: 1. Các quy trình quản lý đầu tư và xây dựng đối
với các loại dự án và công trình xây dựng trên
địa bàn Thành phố, bảo đảm tuân thủ mục đích,
yêu cầu và nguyên tắc cơ bản của quản lý đầu
tư và xây dựng theo quy định của Chính phủ và
phù hợp với điều kiện thực tế của Thành phố.
2. Các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình và đơn giá
xây dựng đặc thù phù hợp với điều kiện thực
tế của Thành phố sau khi có ý kiến thống nhất
bằng văn bản của Bộ Xây dựng.
Điều 15. Quản lý cơ sở hạ tầng
kỹ thuật 1. Sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của các
Bộ, ngành có liên quan, căn cứ Nghị quyết của
Hội đồng nhân dân Thành phố, ủy ban nhân dân Thành
phố ban hành Quy chế phối hợp với các cơ quan,
đơn vị chuyên ngành của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ trong việc quản lý thống nhất
các hoạt động đầu tư và xây dựng, khai thác,
sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật trên
địa bàn Thành phố.
2. Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân,
ủy ban nhân dân Thành phố ban hành: a) Các quy định về khuyến khích phát triển cơ sở
hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn các huyện và
quận mới của Thành phố;
b) Các quy định về khuyến khích phát triển các
loại hình vận tải hành khách công cộng.
Điều 16. Quản lý và bảo vệ môi
trường Thành phố 1. Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành các quy định
về: a) Khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi
trường và phát triển công viên cây xanh trên địa
bàn Thành phố;
b) Hỗ trợ về vốn, đất đai, công nghệ và các
biện pháp hỗ trợ khác đối với việc di dời hoặc
cải tạo các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các
nguồn gây ô nhiễm hiện có khác trong khu vực nội
thành.
2. Căn cứ pháp luật về bảo vệ môi trường, Pháp
lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng
dẫn thi hành có liên quan, Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân thành phố được quy định cụ thể mức và
phương thức đóng góp tài chính đối với các tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh gây tổn hại
môi trường trên địa bàn thành phố.
Điều 17. Quản lý nguồn thu ngân
sách nhà nước trên địa bàn Thành phố 1. Chính phủ giao chỉ tiêu tổng thu ngân sách nhà
nước hàng năm trên địa bàn Thành phố, bao gồm
khoản thu cho ngân sách Trung ương và khoản thu cho
ngân sách địa phương. Theo hướng dẫn của Bộ
Tài chính, Uỷ ban nhân dân Thành phố có trách nhiệm
chỉ đạo, đôn đốc việc tiến hành thu bảo đảm
theo kế hoạch được giao.
2. Nguồn thu của ngân sách Thành phố gồm: a) Các khoản thu Thành phố được giữ lại 100% theo
quy định của Luật Ngân sách nhà nước;
b) Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần
trăm (%) giữa ngân sách Trung ương và ngân sách Thành
phố theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
Chính phủ quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân
chia cụ thể các khoản thu được giữa Nhà nước
với ngân sách thành phố ổn định trong 5 năm;
c) Các khoản bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung
ương để thực hiện các nhiệm vụ đột xuất do
Chính phủ giao;
d) Các khoản thu khác do Hội đồng nhân dân Thành
phố quyết định thuộc thẩm quyền theo quy định
của pháp luật hiện hành và theo quy định tại Nghị
định này.
3. Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản
hướng dẫn thi hành, Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định phân bổ hợp lý các khoản thu thuộc
ngân sách địa phương cho ngân sách quận, huyện,
phường, xã, thị trấn.
Điều 18. Thẩm quyền huy động
các nguồn vốn đầu tư 1. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố
được huy động các nguồn vốn trong nước thông
qua hình thức vay, phát hành trái phiếu công trình,
trái phiếu đô thị theo cơ chế tự vay, tự trả
bằng nguồn thu của ngân sách thành phố.
2. Uỷ ban nhân dân Thành phố được vay từ Quỹ
hỗ trợ phát triển và các nguồn tài chính khác
để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
- xã hội ngoài các hình thức vay quy định tại khoản
1 Điều này.
3. Tổng dư nợ các nguồn vốn vay đầu tư hàng năm
tại khoản 1, 2 Điều này, không vượt quá tổng
mức vốn đầu tư hàng năm của ngân sách Thành phố.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố được quyền quyết
định các khoản phụ thu, phí, lệ phí và các khoản
thu khác theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước;
Pháp lệnh phí và lệ phí và các văn bản hướng
dẫn thi hành, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của Thành phố và phải phù hợp
với mức sống của dân cư trên địa bàn Thành phố.
5. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố sau khi được
Thủ tướng Chính phủ ủy quyền quyết định tiếp
nhận các khoản viện trợ không hoàn lại cho Thành
phố, (không phụ thuộc vào mức viện trợ) trừ
các lĩnh vực tôn giáo, quốc phòng, an ninh, chịu
trách nhiệm chỉ đạo việc tiếp nhận, quản lý,
sử dụng có hiệu quả các khoản viện trợ, phản
ánh đầy đủ qua ngân sách và thực hiện chế độ
báo cáo thu chi nguồn vốn này theo quy định của
pháp luật.
6. Uỷ ban nhân dân Thành phố có trách nhiệm củng
cố và phát triển “Quỹ đầu tư và phát triển
đô thị Thành phố” hiện có, xây dựng và trình
Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập các
quỹ đầu tư tài chính khác của Thành phố với
sự tham gia góp vốn của Nhà nước, các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế và của cá nhân, nhằm
tăng cường khả năng thu hút các nguồn vốn cho đầu
tư và phát triển.
Điều 19. Quản lý chi ngân sách
Thành phố 1. Căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nước được
giao hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tài
chính, Hội đồng nhân dân Thành phố phân bổ chi
tiết các khoản chi, sắp xếp nhiệm vụ chi, mức
chi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của Thành phố.
2. Ngoài việc phân bổ các khoản chi được cân đối
từ nguồn thu ngân sách, Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân Thành phố được phân bổ thêm khoản
chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn huy động
quy định tại Điều 18 của Nghị định này.
3. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban dân nhân Thành phố
chịu trách nhiệm cân đối thu chi ngân sách, bảo
đảm các nhiệm vụ chi của ngân sách Thành phố,
kể cả việc trả nợ và bổ sung quỹ dự trữ tài
chính; đồng thời thực hiện chế độ báo cáo và
công khai hoá việc thu, chi ngân sách theo quy định
của pháp luật.
Điều 20. Tổ chức bộ máy và quản
lý cán bộ, công chức 1. Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành
và yêu cầu quản lý nhà nước trên địa bàn: a) Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Thành phố
được Chính phủ ủy quyền quyết định số lượng
cụ thể cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
Thành phố;
b) Uỷ ban nhân dân Thành phố quyết định việc sắp
xếp, giải thể, thành lập mới các đơn vị sự
nghiệp thuộc phạm vi quản lý của Thành phố (riêng
đối với các trường trung học chuyên nghiệp, trường
dạy nghề trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, các trường cao đẳng, đại học
thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục).
2. Căn cứ vào tổng biên chế được Chính phủ giao
và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội từng thời
kỳ, được sự đồng ý của Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân Thành phố xác định và phân bổ
chỉ tiêu biên chế cho các đơn vị hành chính, sự
nghiệp trực thuộc Thành phố theo hướng tinh giản
bộ máy và xã hội hoá các lĩnh vực dịch vụ công.
3. Căn cứ Pháp lệnh Cán bộ, công chức và các văn
bản hướng dẫn thi hành, ủy ban nhân dân Thành phố
được quy định các chế độ ưu đãi trong việc
tuyển dụng những cán bộ, công chức vào những
ngành nghề ít người dự tuyển; được thực hiện
hình thức hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế đối
với một số chức danh chờ thi tuyển.
4. Trên cơ sở quy định về tiêu chuẩn về bổ nhiệm,
điều động, kỷ luật cán bộ, công chức, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố bổ nhiệm, điều
động, kỷ luật Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn
thuộc ủy ban nhân dân Thành phố và báo cáo với
các Bộ, ngành có liên quan biết.
Điều 21. Về chế độ khuyến khích
đối với cán bộ, công chức Ngoài các chế độ, chính sách chung của Nhà nước
áp dụng đối với cán bộ, công chức, ủy ban nhân
dân Thành phố được quy định các mức trợ cấp
thêm trong phạm vi ngân sách Thành phố nhằm: 1. Thu hút lao động có tay nghề kỹ thuật và chuyên
môn cao vào một số lĩnh vực, ngành nghề mũi nhọn,
có hiệu quả kinh tế cao, có nhu cầu ưu tiên phát
triển.
2. Khuyến khích cán bộ, công chức đến làm việc
tại những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn và kém phát triển hoặc công việc có tính
chất phức tạp, ít người muốn làm.
Điều 22. Tổ chức thực hiện 1. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thi hành
Nghị định này.
Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có vấn
đề vướng mắc vượt quá thẩm quyền, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phải kịp
thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải
quyết.
2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm hướng dẫn thành phố tổ chức thực
hiện Nghị định này.
3. Giao Văn phòng Chính phủ chịu trách nhiệm theo
dõi tình hình và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính
phủ kết quả thi hành Nghị định này.
4. Các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với thành phố
để triển khai thực hiện Nghị định này.
Điều 23. Hiệu lực thi hành Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày,
kể từ ngày ký.
Các quy định về phân cấp quản lý một số lĩnh
vực thuộc Nghị định này chỉ áp dụng trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh. |