|
Ngày 08 tháng 12 năm 2000 Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công
chứng, chứng thực và có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01 tháng 4 năm 2001 để thay thế Nghị định
số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 về tổ chức và
hoạt động Công chứng nhà nước. Để triển khai
thực hiện nghiêm chỉnh Nghị định này, Thủ tướng
Chính phủ chỉ thị: I. Tổ chức việc rà soát các văn
bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan
đến công chứng, chứng thực; ban hành văn bản
hướng dẫn thi hành Nghị định về công chứng,
chứng thực. 1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương phải tiến hành việc rà soát các văn
bản quy phạm pháp luật hiện hành do Bộ, ngành,
địa phương mình ban hành và hoàn thành việc sửa
đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ các văn bản có liên
quan không còn phù hợp với Nghị định mới về
công chứng, chứng thực; báo cáo kết quả cho Bộ
Tư pháp trước ngày 31 tháng 3 năm 2001.
Riêng về việc sao y giấy tờ, Bộ Tư pháp phối
hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội và Ban Tổ chức - Cán bộ
Chính phủ tiến hành rà soát để hủy bỏ các quy
định bắt buộc người dân phải nộp bản sao giấy
tờ do Phòng Công chứng chứng nhận trong hồ sơ tuyển
sinh, tuyển dụng, bổ nhiệm, tuyển lao động, giải
quyết chính sách...; Bộ Giáo dục và Đào tạo có
trách nhiệm hướng dẫn các trường học, cơ sở
giáo dục và đào tạo trong cả nước về việc cấp
bản sao văn bằng, chứng chỉ và các giấy tờ khác
từ sổ gốc, không dồn công việc cho cơ quan công
chứng, chứng thực. Cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận
giấy tờ xét thấy cần bản chính để đối chiếu,
thì phải tự mình đối chiếu bản chụp với bản
chính.
2. Từ nay đến hết quý I năm 2001:
- Bộ Tư pháp ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành
Nghị định về công chứng, chứng thực; hướng
dẫn việc sử dụng thống nhất các sổ công chứng,
sổ chứng thực, quy định và hướng dẫn việc sử
dụng mẫu hợp đồng, giao dịch thông dụng và mẫu
nội dung lời chứng;
- Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp ban hành
Thông tư liên tịch về lệ phí công chứng, chứng
thực và chi phí khác theo quy định tại Điều 16
của Nghị định về công chứng, chứng thực;
- Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ phối hợp với
Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các
quy định liên quan đến chế độ lương đối với
công chứng viên tại Nghị định số 25/CP ngày 23
tháng 5 năm 1993 của Chính phủ quy định tạm thời
chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức
hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang, trình
Chính phủ xem xét, ban hành.
II. Kiện toàn tổ chức, bảo đảm
về nhân sự và cơ sở vật chất cho hoạt động
công chứng, chứng thực. 1. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương tiến hành rà soát lại tổ chức, biên
chế, trụ sở, phương tiện làm việc và cơ sở
vật chất của các Phòng Công chứng hiện có tại
địa phương mình. Trong thời hạn 1 năm, kể từ
ngày Nghị định về công chứng, chứng thực có
hiệu lực, phải thực hiện xong việc kiện toàn,
sắp xếp lại, bảo đảm cho các Phòng Công chứng
có đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại Điều
26 của Nghị định về công chứng, chứng thực;
những nơi còn thiếu so với nhu cầu, thì ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
thành lập thêm Phòng Công chứng bảo đảm thuận
lợi cho việc thực hiện yêu cầu công chứng của
cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức tại địa phương
mình. Việc phân chia thẩm quyền địa hạt giữa
các Phòng Công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều
23 của Nghị định về công chứng, chứng thực phải
được thực hiện xong trước ngày 31 tháng 3 năm
2001.
Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu
tư và Bộ Tài chính chuẩn bị đề án tiếp tục
triển khai Dự án tin học hoá công chứng đến các
Phòng Công chứng còn lại trong cả nước, trình Thủ
tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
2. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo ủy ban nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
bố trí cán bộ tư pháp có trình độ cử nhân Luật
chuyên trách thực hiện công tác chứng thực ở cấp
huyện, đồng thời bố trí ổn định người có
đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nghị định số
09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 và Nghị định
số 83/1998/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 1998 giúp ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong công tác
chứng thực; việc đăng ký chữ ký tại Sở Tư pháp
của những người thực hiện chứng thực theo quy
định tại khoản 2 Điều 22 và khoản 2 Điều 24
của Nghị định về công chứng, chứng thực phải
được thực hiện xong trước ngày 31 tháng 3 năm
2001. ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương có trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật
chất, phương tiện cần thiết cho hoạt động chứng
thực của ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn.
3. Theo sự hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Chủ tịch
ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương có trách nhiệm chấn chỉnh hoạt động
công chứng, chứng thực tại địa phương mình, không
để hiện tượng ùn tắc, quá tải về hoạt động
công chứng, chứng thực. Người thực hiện công
chứng, chứng thực phải nêu cao tinh thần trách nhiệm
trong công việc, không gây phiền hà, sách nhiễu cá
nhân, doanh nghiệp, tổ chức yêu cầu công chứng,
chứng thực. Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Chủ tịch ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm
về chất lượng và lề lối hoạt động chứng thực
tại địa phương mình.
III. Chuẩn bị Đề án thực hiện
thí điểm việc chuyển hoạt động của một số
Phòng Công chứng sang chế
độ tự trang trải. Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tổ chức - Cán bộ
Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư tiến hành khảo sát, nghiên cứu và chuẩn bị
Đề án thực hiện thí điểm việc chuyển hoạt
động của một số Phòng Công chứng sang chế độ
tự trang trải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét,
quyết định vào quý IV năm 2001.
Bộ Tư pháp có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và
kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị này và báo cáo
Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 4 năm
2001.
Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu
trách nhiệm thi hành Chỉ thị này.
|