|
Để áp dụng đúng và thống
nhất các quy định tại Chương XV "Các tội xâm
phạm chế độ hôn nhân và gia đình" của Bộ
luật hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là BLHS),
Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng
dẫn một số điểm như sau: 1. Về tình tiết "đã bị xử phạt hành chính
về hành vi này mà còn vi phạm”
Đối với các tội: "cưỡng ép kết hôn hoặc
cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” (Điều
146 BLHS); "vi phạm chế độ một vợ, một chồng”
(Điều 147 BLHS); tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn”
(Điều 148 BLHS); "ngược đãi hoặc hành hạ ông
bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công
nuôi dưỡng mình" (Điều 151 BLHS); "từ chối
hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng" (Điều
152 BLHS), BLHS có quy định tình tiết "đã bị
xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm"
trong cấu thành tội phạm; do đó, cần chú ý:
Bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành
vi này mà còn vi phạm" nếu trước đó người
nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những
hành vi được liệt kê trong một điều luật nói
trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là
chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại:
a) Thực hiện chính hành vi đó. Ví dụ: trước đó
A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng
ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi
là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện
hành vi cưỡng ép kết hôn; trước đó B đã bị
xử phạt hành chính về hành vi tổ chức tảo hôn,
chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử
phạt hành chính lại thực hiện hành vi tổ chức
tảo hôn; v.v...
b) Thực hiện một trong những hành vi được liệt
kê trong điều luật tương ứng đó. Ví dụ: trước
đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng
ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi
là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện
hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành
vi hành hạ vợ, con, chưa hết thời hạn để được
coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện
hành vi ngược đãi cha, mẹ; v.v...
Hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt
hành chính là hết thời hạn do pháp luật xử phạt
vi phạm hành chính quy định. Theo quy định tại Điều
10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 thì
cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính,
nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết
định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi
hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, thì
được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
2. Về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn
nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 BLHS)
2.1. Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt
buộc người khác (bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên)
phải kết hôn trái với ý muốn của họ.
Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là dùng
mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kết hôn của
người có đủ điều kiện kết hôn theo luật định
hoặc có hành vi cản trở người khác duy trì quan
hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ
phải cắt đút quan hệ hôn nhân đó.
Hành vi cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều
thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy
hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn
khác.
a) Hành hạ, ngược đãi là đối xử tàn ác, tồi
tệ đối với người khác gây đau khổ về thể
xác hoặc tinh thần kéo dài, như: thường xuyên đánh
đập (có thể không gây thương tích), giam hãm, bắt
nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, nhiếc móc,
làm nhục v.v... nhằm mục đích cưỡng ép việc kết
hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
Cần lưu ý rằng, hành vi hành hạ, ngược đãi là
thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản
trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cho nên không
truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội hành
hạ, ngược đãi quy định tại Điều 110 hoặc Điều
151 BLHS.
b) Uy hiếp tinh thần là đe dọa sẽ gây thiệt hại
đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc
lợi ích thiết thân của người bị đe doạ làm
cho người đó có căn cứ để lo sợ thực sự mà
phải chịu khuất phục như đe doạ sẽ đốt nhà,
giết người thân, tiết lộ bí mật đời tư của
người bị đe doạ, bố mẹ hoặc người thân trong
gia đình đe doạ sẽ tự tử nếu hai bên nam nữ
lấy nhau, con đe doạ là sẽ bỏ nhà hoặc tự tử
nếu bố, mẹ lấy vợ, lấy chồng mới v.v...
c) Yêu sách của cải là đòi hỏi của cải một
cách quá đáng, không nhân nhượng và coi đó là một
trong những điều kiện để được kết hôn nhằm
cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôi bên nam nữ.
d) Thủ đoạn khác có thể là buộc một bên hoặc
cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ; bắt cóc người
không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để
buộc họ phải kết hôn trái ý muốn; một bên gia
đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân
của mình với người khác trái với ý muốn của
người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người
mà họ muốn tự nguyện kết hôn; v.v...
2.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội này khi người vi phạm đã bị xử phạt hành
chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2.3. Chủ thể của tội này có thể là bất kỳ người
nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Thông thường,
chủ thể của tội này là bên nam hoặc bên nữ muốn
kết hôn; người có ảnh hưởng nhất định trong
gia đình của bên nam hay bên nữ (như: ông, bà, cha,
mẹ, anh, chị...); người có ảnh hưởng trực tiếp
đến bên nam hoặc bên nữ (như: người vợ cũ, chồng
cũ, con sau khi ly hôn, người tình cũ...); người có
ảnh hưởng trong công tác (như: thủ trưởng đối
với nhân viên) hoặc về tín ngưỡng, tôn giáo (như:
các chức sắc trong tôn giáo đối với tín đồ).
3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
(Điều 147 BLHS)
3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang
có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc
người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống
với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có
vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng
cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung
sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng
việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung
quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được
gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp
tục duy trì quan hệ đó...
3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây: a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng
gây hậu quả nghiêm trọng.
Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình
của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn,
vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...
b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng
đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn
vi phạm.
3.3. Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa
án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm
dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế
độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ
đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một
chồng theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy
cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp
hành án theo Điều 304 BLHS.
4. Về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều
148 BLHS)
4.1. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một
bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo
quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
4.2. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những
người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của
pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng.
Người tổ chức tảo hôn biết rõ hoặc có căn cứ
để biết rõ là cả hai người hoặc một trong hai
người mà mình tổ chức lễ cưới là chưa đủ
tuổi kết hôn theo quy định. Trong trường hợp, người
tổ chức thực sự không biết việc đó hoặc bị
nhầm lẫn về độ tuổi, thì không bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội này.
4.3. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội tổ chức tảo hôn khi người vi phạm đã bị
xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
4.4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội tảo hôn khi có đầy đủ các dấu hiệu sau
đây: a) Người vi phạm cố ý duy trì quan hệ vợ chồng
trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết
hôn;
b) Đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt
quan hệ đó;
c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà
còn vi phạm.
4.5. Chủ thể của tội tổ chức tảo hôn là bất
kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự,
nhưng thông thường là: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị
hoặc người thân thích của bên nam, bên nữ.
Chủ thể của tội tảo hôn là bất kỳ người nào
có năng lực trách nhiệm hình sự đã đủ tuổi
kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và
gia đình. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 thì tuổi kết hôn đối với
nam là từ 20 tuổi trở lên, tuổi kết hôn đối
với nữ là từ 18 tuổi trở lên.
5. Về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều
149 BLHS)
5.1. Đăng ký kết hôn trái pháp luật là việc người
có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn xác nhận
sự kiện kết hôn (ghi vào sổ đăng ký kết hôn
và cấp giấy chứng nhận kết hôn) cho người mà
mình biết rõ là không đủ điều kiện kết hôn
theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 9 hoặc
thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy
định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000.
5.2. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đăng
ký kết hôn trái pháp luật, khi người vi phạm đã
bị xử lý kỷ luật về hành vi này, nhưng chưa hết
thời hạn để được coi là xoá kỷ luật mà còn
vi phạm.
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 97/1998/NĐ-CP
ngày 17/11/1998 của Chính phủ về xử lý kỷ luật
và trách nhiệm vật chất đối với công chức, thì
thời gian hiệu lực của kỷ luật đối với công
chức là 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật
có hiệu lực thi hành. Công chức được coi là xoá
kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết
định kỷ luật, công chức không tái phạm và không
có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ
luật và được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền
ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật. Tuy
nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho người bị kỷ
luật thì cũng được coi là xoá kỷ luật nếu sau
12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công
chức không tái phạm và không có những vi phạm đến
mức phải bị xử lý kỷ luật, mặc dù cơ quan,
đơn vị có thẩm quyền chưa ra quyết định chấm
dứt hiệu lực kỷ luật.
Đối với cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn
do pháp luật chưa có quy định thời hạn được
xoá kỷ luật nên thời gian hiệu lực của kỷ luật
cũng được tính là 12 tháng, kể từ ngày Chủ tịch
UBND xã, phường, thị trấn ra quyết định xử lý
kỷ luật.
Cần lưu ý, để truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội này thì chỉ tính những trường hợp "đã
bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm”
kể từ ngày 01/7/2000 trở đi, tức là ngày BLHS có
hiệu lực thi hành.
5.3. Chủ thể của tội này là người có trách nhiệm
trong việc đăng ký kết hôn, cụ thể là: a) Người đại diện chính quyền hoặc người đại
diện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh
sự của nước ta ở nước ngoài có thẩm quyền
ký giấy chứng nhận kết hôn;
b) Cán bộ hộ tịch làm thủ tục đăng ký kết hôn
ở UBND xã, phường, thị trấn hoặc cán bộ của
Sở Tư pháp đối với trường hợp đăng ký kết
hôn có nhân tố nước ngoài;
c) Cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn ở các
cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của
Việt Nam ở nước ngoài.
6. Về tội loạn luân (Điều 150 BLHS)
6.1. Loạn luân là việc giao cấu giữa cha, mẹ với
con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại; giữa
anh chị em cùng cha mẹ; giữa anh chị em cùng cha khác
mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
6.2. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn
luân cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là
thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc
cưỡng ép và được thực hiện với người từ
đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành
vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận
tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối
với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi,
thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội
loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội giao cấu với trẻ em (điểm c khoản 2 Điều
115 BLHS).
Trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu
hiệu dùng vũ lực, đe đoạ dùng vũ lực, lợi dụng
tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân
hoặc thủ đoạn khác, thì tuỳ trường hợp người
thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội hiếp dâm (điểm e khoản 2 Điều
111 BLHS) hoặc tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản
2 Điều 112 BLHS); nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu
hiệu lợi dụng quan hệ lệ thuộc khiến bên kia
phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tuỳ trường
hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm (điểm
d khoản 2 Điều 113 BLHS) hoặc tội cưỡng dâm trẻ
em (điểm a khoản 2 Điều 114 BLHS); trong mọi trường
hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với
trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành
vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều
112 BLHS).
7. Về tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ,
vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng
mình (Điều 151 BLHS)
7.1. Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được
hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở
và về các mặt sinh hoạt hàng ngày khác đối với
người thân như: nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn
uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình
thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân
thể người bị hại như: đánh đập, giam hãm,...
làm cho người bị hại bị đau đớn về thể xác
và tinh thần.
7.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây: a) Hành vi ngược đãi, hành hạ gây hậu quả nghiêm
trọng, tức là làm cho người bị ngược đãi, hành
hạ luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị
tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc
bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe. Hậu
quả thương tích hay tổn hại đến sức khỏe là
do lỗi vô ý; nếu dẫn đến chết người thì bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm
chết người (Điều 98 BLHS).
Trong trường hợp thương tích, tổn hại sức khoẻ
hoặc chết người xảy ra do lỗi cố ý, thì tuỳ
trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo các khoản tương ứng của Điều 104
BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác hoặc Điều 93
BLHS về tội giết người; nếu làm cho nạn nhân
bị uất ức mà tự sát, thì có thể bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội bức tử theo Điều
100 BLHS.
b) Người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ
đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn
vi phạm.
7.3. Đối tượng bị xâm hại quy định tại Điều
151 BLHS bao gồm: a) Ông bà, bao gồm ông bà nội, ông bà ngoại;
b) Cha mẹ, bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng,
mẹ kế;
c) Vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân
và gia đình;
d) Con, bao gồm con đẻ (con trong giá thú và con ngoài
giá thú); con nuôi; con rể; con dâu; con riêng của
vợ hoặc con riêng của chồng;
đ) Cháu, bao gồm cháu nội, cháu ngoại;
e) Người có công nuôi dưỡng mình là anh chị em,
cô, dì, chú, bác, bà con thân thích hoặc những người
khác đã hoặc đang nuôi dưỡng người thực hiện
hành vi ngược đãi, hành hạ.
Cần lưu ý là, chỉ những trường hợp hành hạ,
ngược đãi các đối tượng nêu trên mới bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội này; nếu hành
vi hành hạ, ngược đãi được thực hiện đối
với người không thuộc những đối tượng nêu trên,
thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hành
hạ người khác theo Điều 110 BLHS; trường hợp hành
vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội
cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện,
tiến bộ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân
tự nguyện, tiến bộ theo quy định tại Điều 146
BLHS.
8. Về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp
dưỡng (Điều 152 BLHS)
8.1. Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ của một
người phải đóng góp tiền hoặc tài sản khác để
đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan
hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo
quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo
quy định tại các điều từ Điều 50 đến Điều
60 Chương VI của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,
thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa: a) Vợ và chồng;
b) Cha, mẹ và con;
c) Ông bà nội, ông bà ngoại và cháu;
d) Anh chị em với nhau.
8.2. Có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng là trường hợp người có nghĩa
vụ cấp dưỡng có tiền, tài sản hoặc thu nhập
có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình
với mức sống trung bình ở địa phương.
8.3. Hành vi trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp
dưỡng thường được biểu hiện bằng việc không
chịu đóng góp tiền, tài sản để cấp dưỡng mặc
dù có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ
đó.
8.4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng,
khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây: a) Người vi phạm phải là người có nghĩa vụ cấp
dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;
b) Người vi phạm từ chối hoặc trốn tránh nghĩa
vụ cấp dưỡng;
c) Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp
dưỡng đã gây hậu quả nghiêm trọng (tức là làm
cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng
nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ như: ốm đau,
bệnh tật, v.v…). Trong trường hợp chưa gây hậu
quả nghiêm trọng thì người vi phạm phải đã bị
xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
8.5. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về
tội phạm này cần lưu ý, nếu đã có bản án, quyết
định của Toà án buộc người có nghĩa vụ cấp
dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người
đó vẫn cố tình không chấp hành, mặc dù đã bị
áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS về
tội không chấp hành án.
9. Hiệu lực thi hành của Thông tư
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 10
năm 2001.
Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc
hoặc chưa được hướng dẫn cần phải giải thích,
hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho
Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao,
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để có sự giải
thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
|