|
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được
sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ
họp thứ 10;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội đã được
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1997. Điều 1 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội: 1- Điểm 1 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như
sau:
“1- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu
thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh;”
2- Khoản 1 Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như
sau:
“1- Tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không quá năm trăm
người.”
3- Điều 9 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“ Điều 9
Căn cứ vào số lượng đại biểu Quốc hội quy
định tại Điều 8 của Luật này, căn cứ vào nhiệm
vụ và quyền hạn của Quốc hội, để bảo đảm
tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân
dân trong Quốc hội, sau khi trao đổi ý kiến với
Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính
trị - xã hội, chậm nhất là chín mươi lăm ngày
trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
dự kiến về: 1- Cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội;
2- Số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân,
cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương”.
4- Bổ sung Điều 10a như sau:
“ Điều 10a
Số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của
Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên
hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ
có số đại biểu thích đáng.”
5- Đoạn thứ nhất của Điều 14 được sửa đổi,
bổ sung như sau:
“Chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày
bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập
Hội đồng bầu cử từ mười lăm đến hai mươi
mốt người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch,
Tổng thư ký và các uỷ viên là đại diện Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số cơ quan, tổ
chức hữu quan.”
6- Đoạn thứ nhất của Điều 15 được sửa đổi,
bổ sung như sau:
“Chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày
bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất
với Uỷ ban nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành
lập Uỷ ban bầu cử từ bảy đến mười một người,
gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các
uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.”
7- Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“ Điều 23 1- Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản
án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù,
người đang bị tạm giam và người mất năng lực
hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách
cử tri.
2- Người thuộc các trường hợp quy định tại khoản
1 Điều này nếu đến trước thời điểm bắt đầu
bỏ phiếu hai mươi bốn giờ được khôi phục lại
quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được
cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình
trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ
sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử
tri.
3- Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến
thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Toà án tước
quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị
bắt tạm giam hoặc mất năng lực hành vi dân sự
thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xoá tên
người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ
cử tri.”
8- Khoản 1 Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như
sau:
“1- Công dân ứng cử đại biểu Quốc hội (người
được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử)
theo quy định của Luật này phải nộp hồ sơ ứng
cử chậm nhất là sáu mươi lăm ngày trước ngày
bầu cử.
Hồ sơ ứng cử gồm: a) Đơn xin ứng cử;
b) Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ
chức, đơn vị nơi người đó công tác hoặc Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó
thường trú;
c) Tiểu sử tóm tắt và ba ảnh màu cỡ 4 cm x 6 cm.”
9- Điểm 5 Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như
sau:
“5- Người đang chấp hành quyết định xử lý hành
chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn,
tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang
bị quản chế hành chính.
Những người đã có tên trong danh sách ứng cử đại
biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bầu
cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì
phạm tội quả tang hoặc mất năng lực hành vi dân
sự thì Hội đồng bầu cử xoá tên trong danh sách
những người ứng cử đại biểu Quốc hội.” 10- Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của Điều
30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung
ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là tám mươi
lăm ngày trước ngày bầu cử, thành phần gồm Đoàn
Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức
thành viên của Mặt trận.
Hội nghị hiệp thương thoả thuận về cơ cấu,
thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ
chức, đơn vị ở trung ương được bầu làm đại
biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội gửi đến. Đại diện Hội đồng
bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính
phủ được mời dự Hội nghị này.” 11- Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của Điều
31 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương do Ban thường trực
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương tổ chức chậm nhất là tám mươi
lăm ngày trước ngày bầu cử, thành phần gồm Ban
thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, đại diện
Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận
Tổ quốc và đại diện Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh.
Hội nghị hiệp thương thoả thuận về cơ cấu,
thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ
chức, đơn vị ở địa phương được bầu làm đại
biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội gửi đến. Đại diện Uỷ ban bầu
cử, Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân được mời dự Hội nghị này.” 12- Điều 32 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“ Điều 32
Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất
quy định tại các điều 30 và 31 của Luật này,
chậm nhất là tám mươi ngày trước ngày bầu cử,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ
nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người của
cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa
phương được bầu làm đại biểu Quốc hội.” 13- Điều 33 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“ Điều 33
Trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội, căn cứ vào tiêu chuẩn
đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đơn vị
ở trung ương và địa phương được phân bổ số
lượng đại biểu tiến hành giới thiệu người
ứng cử đại biểu Quốc hội.” 14- Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của Điều
37 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương
do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là sáu mươi
ngày trước ngày bầu cử, thành phần Hội nghị
như quy định tại Điều 30 của Luật này.
Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại
biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng
đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức,
đơn vị ở trung ương đã được Uỷ ban thường
vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất để lập
danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu
Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú.” 15- Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của Điều
38 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương do Ban thường trực
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương tổ chức chậm nhất là sáu mươi
ngày trước ngày bầu cử, thành phần Hội nghị
như quy định tại Điều 31 của Luật này.
Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại
biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng
đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức,
đơn vị ở địa phương đã được Uỷ ban thường
vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất để lập
danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu
Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú;
đối với người tự ứng cử thì còn được gửi
lấy ý kiến cử tri nơi người đó làm việc (nếu
có).” 16- Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“ Điều 41
Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ hai quy
định tại các điều 37 và 38 của Luật này, chậm
nhất là năm mươi ngày trước ngày bầu cử, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ
hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ
quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương
được bầu làm đại biểu Quốc hội.” 17- Đoạn thứ hai của Điều 42 được sửa đổi,
bổ sung như sau:
“Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn
đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số
lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ
chức, đơn vị ở trung ương đã được Uỷ ban thường
vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai và kết
quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh
sách chính thức những người ứng cử đại biểu
Quốc hội.” 18- Đoạn thứ hai của Điều 43 được sửa đổi,
bổ sung như sau:
“Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn
đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số
lượng đại biểu được bầu của cơ quan, tổ chức,
đơn vị ở địa phương đã được Uỷ ban thường
vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai và kết
quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh
sách chính thức những người ứng cử đại biểu
Quốc hội.” 19- Điều 49 được bổ sung khoản 3 và khoản 4 như
sau:
“3- Không xem xét, giải quyết đối với những đơn
tố cáo nặc danh.
4- Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về
khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết đến
Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải
quyết theo thẩm quyền.”
20- Đoạn thứ hai của Điều 54 được sửa đổi,
bổ sung như sau:
“Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, do Uỷ ban
thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm
nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu
cử.”
Điều 2 1- Luật này có hiệu lực từ ngày công bố.
2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ
ban trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam hướng
dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 12 năm
2001.
|