|
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được
sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ
họp thứ 10;
Luật này quy định về tổ chức và hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân.
Điều 1 Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định
của Hiến pháp và pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp
phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
ở địa phương mình.
Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy
định của pháp luật.
Điều 2 Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát
nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài
sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính
mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân
phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được
xử lý theo pháp luật.
Điều 3 Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm
vụ bằng những công tác sau đây: 1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình
sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra;
2. Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động
tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các
cơ quan tư pháp;
3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình
sự;
4. Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự,
hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động
và những việc khác theo quy định của pháp luật;
5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi
hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;
6. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm
giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp
hành án phạt tù.
Điều 4 Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận
và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo
thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các
cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật.
Điều 5 Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận
các tin báo, tố giác về tội phạm do các cơ quan,
tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân chuyển
đến.
Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm thực hiện
việc thống kê tội phạm. Trong phạm vi chức năng,
nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng
khác có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát
nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ này.
Điều 6 Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện
kiểm sát nhân dân có quyền ra quyết định, kháng
nghị, kiến nghị, yêu cầu và chịu trách nhiệm
trước pháp luật về các văn bản đó.
Trong trường hợp các văn bản nói trên trái pháp
luật thì tuỳ theo tính chất và mức độ sai phạm
mà người ra văn bản bị xử lý kỷ luật hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu
của Viện kiểm sát nhân dân phải được các cơ
quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan thực
hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật.
Điều 7 Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện
kiểm sát nhân dân có trách nhiệm phối hợp với
các cơ quan Toà án, Công an, Thanh tra, Tư pháp, các
cơ quan khác của Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận,
các đơn vị vũ trang nhân dân để phòng ngừa và
chống tội phạm có hiệu quả, xử lý kịp thời,
nghiêm minh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật
trong hoạt động tư pháp; tuyên truyền, giáo dục
pháp luật; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ; nghiên cứu tội phạm và vi phạm pháp luật.
Điều 8 Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới
chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống
nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao.
Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có trách nhiệm
kiểm tra, phát hiện, khắc phục kịp thời và xử
lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của Viện kiểm
sát nhân dân cấp dưới. Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp trên có quyền rút, đình chỉ hoặc
huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái
pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới.
Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát
quân sự quân khu và tương đương thành lập Uỷ
ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo
đa số những vấn đề quan trọng theo quy định của
Luật này.
Điều 9 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do
Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề
nghị của Chủ tịch nước; chịu sự giám sát của
Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không
họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước;
trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại
biểu Quốc hội.
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao
do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân địa phương, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng,
Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát
quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát
quân sự khu vực, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân
dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương
chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng
cấp; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội
đồng nhân dân; trả lời chất vấn, kiến nghị,
yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ
theo sự phân công của Viện trưởng. Khi Viện trưởng
vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng
uỷ nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Viện
kiểm sát. Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước
Viện trưởng về nhiệm vụ được giao.
Điều 10 Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm đào
tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, quản lý
đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên, Điều tra viên
nhằm thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình,
xây dựng ngành kiểm sát trong sạch, vững mạnh.
Điều 11 Kiểm sát viên, Điều tra viên phải tôn trọng và
chịu sự giám sát của nhân dân.
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các
cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân
dân và cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện để
Kiểm sát viên, Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ.
Nghiêm cấm mọi hành vi gây cản trở Kiểm sát viên,
Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ.
Điều 12 Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều
tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, nhằm bảo đảm: 1. Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi
tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt
tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
vô tội;
2. Không để người nào bị khởi tố, bị bắt,
bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền
công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài
sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái
pháp luật;
3. Việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy
đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp
luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện,
khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh;
4. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 13 Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ
và quyền hạn sau đây: 1. Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu
cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết
định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
2. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều
tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một
số hoạt động điều tra theo quy định của pháp
luật;
3. Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi
Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu
hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm
thì khởi tố về hình sự;
4. Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện
pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn
chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết
định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp
luật;
5. Huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của
cơ quan điều tra;
6. Quyết định việc truy tố bị can; quyết định
đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra; đình chỉ
hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Điều 14 Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện
kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây: 1. Kiểm sát việc khởi tố; kiểm sát các hoạt động
điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan
điều tra;
2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những
người tham gia tố tụng;
3. Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều
tra theo quy định của pháp luật;
4. Yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm
pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Thủ
trưởng cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều
tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành
điều tra;
5. Kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị
hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội
phạm và vi phạm pháp luật.
Điều 15 1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên
phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của
pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành
vi, quyết định của mình trong việc khởi tố, bắt,
giam, giữ, truy tố và các quyết định khác theo quy
định của pháp luật.
2. Cơ quan điều tra, các cơ quan, tổ chức, đơn vị
vũ trang nhân dân và cá nhân có liên quan có trách
nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định và
yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định
của pháp luật.
Điều 16 Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện
kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thực hành quyền
công tố, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm
và người phạm tội; kiểm sát việc xét xử các
vụ án hình sự, nhằm bảo đảm việc xét xử đúng
pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.
Điều 17 Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm
sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ
án tại phiên toà;
2. Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo
tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm về
việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm;
tranh luận với người bào chữa và những người
tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc
thẩm;
3. Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân
dân về việc giải quyết vụ án tại phiên toà giám
đốc thẩm, tái thẩm.
Điều 18 Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ
án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm
vụ và quyền hạn sau đây: 1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động
xét xử của Toà án nhân dân;
2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những
người tham gia tố tụng;
3. Kiểm sát các bản án và quyết định của Toà
án nhân dân theo quy định của pháp luật;
4. Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới
chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét,
quyết định việc kháng nghị.
Điều 19 Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có
quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà
án nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị
với Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc
phục vi phạm trong việc xét xử; kiến nghị với
cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các
biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp
luật; nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố
về hình sự.
Điều 20 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết
các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính,
kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định
của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết
các vụ án đúng pháp luật, kịp thời.
Điều 21 Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự,
hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động
và những việc khác theo quy định của pháp luật,
Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây: 1. Kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án; yêu
cầu Toà án nhân dân hoặc tự mình xác minh những
vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng
đắn vụ án;
2. Khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật;
3. Tham gia các phiên toà và phát biểu quan điểm của
Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ
án;
4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động
xét xử của Toà án nhân dân;
5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những
người tham gia tố tụng;
6. Kiểm sát các bản án và quyết định của Toà
án nhân dân;
7. Yêu cầu Toà án nhân dân áp dụng những biện
pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp
luật;
8. Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới
chuyển hồ sơ những vụ án dân sự, hôn nhân và
gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những
việc khác theo quy định của pháp luật để xem xét,
quyết định việc kháng nghị.
Điều 22 Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự,
hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động
và những việc khác theo quy định của pháp luật,
Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các
bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy
định của pháp luật; kiến nghị với Toà án nhân
dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục những vi
phạm pháp luật trong việc giải quyết các vụ án;
nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình
sự.
Điều 23 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án,
Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá
nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật và những bản
án, quyết định được thi hành ngay theo quy định
của pháp luật nhằm bảo đảm các bản án, quyết
định đó được thi hành đúng pháp luật, đầy
đủ, kịp thời.
Điều 24 Khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, Viện
kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây: 1. Yêu cầu Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng
cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan,
tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến
việc thi hành án: a) Ra quyết định thi hành án đúng quy định của
pháp luật;
b) Tự kiểm tra việc thi hành bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết
định được thi hành ngay theo quy định của pháp
luật và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm
sát nhân dân;
c) Thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật và những bản án, quyết định được
thi hành ngay theo quy định của pháp luật;
d) Cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng có liên
quan đến việc thi hành án;
2. Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc thi hành án của cơ quan thi hành án cùng
cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan,
tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan và việc
giải quyết kháng cáo, khiếu nại, tố cáo đối
với việc thi hành án;
3. Tham gia việc xét giảm thời hạn chấp hành hình
phạt, xoá án tích;
4. Đề nghị miễn chấp hành hình phạt theo quy định
của pháp luật;
5. Kháng nghị với Toà án nhân dân, cơ quan thi hành
án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, cơ quan,
tổ chức, đơn vị có trách nhiệm trong việc thi
hành án; yêu cầu đình chỉ việc thi hành án, sửa
đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp
luật trong việc thi hành án, chấm dứt việc làm
vi phạm pháp luật trong việc thi hành án; nếu có
dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;
trong trường hợp do pháp luật quy định thì khởi
tố về dân sự.
Điều 25 Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên,
cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan
đến việc thi hành án có trách nhiệm thực hiện
các yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều 24 của
Luật này trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày
nhận được yêu cầu.
Đối với kháng nghị quy định tại khoản 5 Điều
24 của Luật này, Toà án nhân dân, cơ quan thi hành
án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và
cá nhân có liên quan có trách nhiệm trả lời trong
thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được
kháng nghị.
Điều 26 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có
trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản
lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, nhằm
bảo đảm: 1. Việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục
người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định
của pháp luật;
2. Chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo
dục người chấp hành án phạt tù được chấp hành
nghiêm chỉnh;
3. Tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người
bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt
tù và các quyền khác của họ không bị pháp luật
tước bỏ được tôn trọng.
Điều 27 Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tạm giữ,
tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành
án phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm
vụ và quyền hạn sau đây: 1. Thường kỳ và bất thường trực tiếp kiểm sát
tại nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam;
2. Kiểm tra hồ sơ, tài liệu của cơ quan cùng cấp
và cấp dưới có trách nhiệm tạm giữ, tạm giam,
quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt
tù; gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam và
người chấp hành án phạt tù về việc giam, giữ;
3. Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo
về việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục
người chấp hành án phạt tù;
4. Yêu cầu cơ quan cùng cấp và cấp dưới quản
lý nơi tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục
người chấp hành án phạt tù kiểm tra những nơi
đó và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân
dân;
5. Yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người
có trách nhiệm thông báo tình hình tạm giữ, tạm
giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt
tù; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc
làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm
giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt
tù;
6. Kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới
yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc
bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc
tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người
chấp hành án phạt tù, chấm dứt việc làm vi phạm
pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp
luật.
Điều 28 Trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam,
quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt
tù, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm: 1. Phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp
oan, sai trong tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo
dục người chấp hành án phạt tù; quyết định
trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam,
người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ
và trái pháp luật;
2. Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong việc
tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người
chấp hành án phạt tù thì khởi tố hoặc yêu cầu
cơ quan điều tra khởi tố về hình sự.
Điều 29 Cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc
tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người
chấp hành án phạt tù phải chuyển cho Viện kiểm
sát nhân dân khiếu nại, tố cáo của người bị
tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù
trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được khiếu
nại, tố cáo.
Đối với các yêu cầu quy định tại các khoản
4 và 5 Điều 27 của Luật này, cơ quan, đơn vị và
người có trách nhiệm phải trả lời trong thời
hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu
cầu.
Đối với quyết định quy định tại khoản 1 Điều
28 của Luật này, cơ quan, đơn vị hoặc người có
trách nhiệm phải chấp hành ngay; nếu không nhất
trí với quyết định đó thì vẫn phải chấp hành,
nhưng có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười ngày,
kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp phải
giải quyết.
Đối với kháng nghị quy định tại khoản 6 Điều
27 của Luật này, cơ quan, đơn vị hữu quan có trách
nhiệm trả lời trong thời hạn mười lăm ngày, kể
từ ngày nhận được kháng nghị; nếu không nhất
trí với kháng nghị đó thì cơ quan, đơn vị hữu
quan có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên trực tiếp; Viện kiểm sát nhân dân
cấp trên trực tiếp phải giải quyết trong thời
hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu
nại. Quyết định của Viện kiểm sát nhân dân cấp
trên trực tiếp phải được chấp hành.
Điều 30 Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có: 1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
2. Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương;
3. Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh;
4. Các Viện kiểm sát quân sự.
Điều 31 1. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân
tối cao gồm có: a) Uỷ ban kiểm sát, các Cục, Vụ, Viện, Văn phòng
và Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm
sát;
b) Viện kiểm sát quân sự trung ương.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Viện
trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên
và các Điều tra viên.
Điều 32 1. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối
cao gồm có: a) Viện trưởng;
b) Các Phó Viện trưởng;
c) Một số Kiểm sát viên do Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quyết định theo đề nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối
cao họp do Viện trưởng chủ trì để thảo luận
và quyết định những vấn đề quan trọng sau đây: a) Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác
của toàn ngành;
b) Dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội; báo cáo của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao trình Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội và Chủ tịch nước;
c) Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân
tối cao;
d) Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội về
những ý kiến của Viện trưởng không nhất trí
với nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao; kiến nghị của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao về việc đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm gửi Thủ tướng Chính phủ;
những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình,
hành chính, kinh tế, lao động quan trọng, những vấn
đề quan trọng khác do ít nhất một phần ba tổng
số thành viên Uỷ ban kiểm sát yêu cầu.
Nghị quyết của Uỷ ban kiểm sát phải được quá
nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trong
trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện
theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện
trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số
thành viên Uỷ ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết
định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Uỷ ban
thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước.
Điều 33 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch
công tác kiểm sát và xây dựng Viện kiểm sát nhân
dân về mọi mặt; quyết định những vấn đề về
công tác kiểm sát không thuộc thẩm quyền của Uỷ
ban kiểm sát;
2. Ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư, điều
lệ, quy chế, chế độ công tác áp dụng đối với
ngành kiểm sát;
3. Chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp,
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành
kiểm sát;
4. Quy định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và trình Uỷ ban thường vụ Quốc
hội phê chuẩn; quyết định bộ máy làm việc của
Viện kiểm sát nhân dân địa phương; quy định bộ
máy làm việc của Viện kiểm sát quân sự sau khi
thống nhất với Bộ trưởng Bộ quốc phòng và trình
Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn;
5. Chỉ đạo việc xây dựng và trình dự án luật,
dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật; đề
nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến
pháp, luật, pháp lệnh khi thấy cần thiết cho việc
áp dụng thống nhất pháp luật;
6. Trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về những
trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử
hình;
7. Tổ chức việc thống kê tội phạm;
8. Tham dự các phiên họp của Hội đồng thẩm phán
Toà án nhân dân tối cao bàn về việc hướng dẫn
áp dụng thống nhất pháp luật.
Điều 34 1. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có Uỷ
ban kiểm sát, các phòng và Văn phòng.
2. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương gồm có Viện trưởng, các Phó Viện
trưởng và các Kiểm sát viên.
Điều 35 1. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương gồm có: a) Viện trưởng;
b) Các Phó Viện trưởng;
c) Một số Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương.
2. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương họp do Viện trưởng
chủ trì để thảo luận và quyết định những vấn
đề quan trọng sau đây: a) Việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế
hoạch công tác, chỉ thị, thông tư và quyết định
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Báo cáo tổng kết công tác với Viện kiểm sát
nhân dân tối cao; báo cáo công tác trước Hội đồng
nhân dân cùng cấp;
c) Những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia
đình, hành chính, kinh tế, lao động quan trọng;
d) Những vấn đề quan trọng khác do Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định.
Nghị quyết của Uỷ ban kiểm sát phải được quá
nửa tổng số thành viên Uỷ ban kiểm sát biểu quyết
tán thành; trong trường hợp biểu quyết ngang nhau
thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng.
Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của
đa số thành viên Uỷ ban kiểm sát thì thực hiện
theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo
cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương quyết định những vấn
đề không thuộc thẩm quyền của Uỷ ban kiểm sát.
Điều 36 1. Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh gồm có các bộ phận công
tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng, các Phó
Viện trưởng phụ trách.
2. Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh gồm có Viện trưởng, các
Phó Viện trưởng và các Kiểm sát viên.
Điều 37 Các Viện kiểm sát quân sự được tổ chức trong
Quân đội nhân dân Việt Nam để thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo
quy định của pháp luật.
Điều 38 Các Viện kiểm sát quân sự gồm có Viện kiểm sát
quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân
khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu
vực.
Căn cứ vào nhiệm vụ của quân đội trong từng
thời kỳ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao thống nhất với Bộ trưởng Bộ quốc phòng
và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định
việc thành lập Viện kiểm sát quân sự quân khu
và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực.
Điều 39 Viện kiểm sát quân sự trung ương thuộc cơ cấu
Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương
là Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, có nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động của Viện
kiểm sát quân sự các cấp, chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác kiểm sát trong Quân đội trước
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 40 Quân nhân, công chức và công nhân quốc phòng làm
việc ở Viện kiểm sát quân sự có các quyền và
nghĩa vụ theo chế độ của Quân đội; được hưởng
chế độ phụ cấp đối với ngành kiểm sát.
Điều 41 Tổ chức và hoạt động của các Viện kiểm sát
quân sự, việc giám sát đối với hoạt động của
các Viện kiểm sát quân sự do Uỷ ban thường vụ
Quốc hội quy định.
Điều 42 1. Kiểm sát viên được bổ nhiệm theo quy định
của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
2. Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật
để làm nhiệm vụ điều tra tội phạm.
Điều 43 Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung
thực, có trình độ cử nhân luật, đã được đào
tạo về nghiệp vụ kiểm sát, điều tra, có tinh
thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy
định của pháp luật, có sức khoẻ bảo đảm hoàn
thành nhiệm vụ được giao, thì có thể được bổ
nhiệm làm Kiểm sát viên, Điều tra viên.
Tiêu chuẩn cụ thể, Hội đồng tuyển chọn và quy
chế tuyển chọn Kiểm sát viên và Điều tra viên
do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.
Điều 44 Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên, Điều tra viên là
năm năm.
Điều 45 1. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Viện trưởng
phân công, Kiểm sát viên phải tuân theo pháp luật
và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp mình, sự lãnh đạo thống nhất
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Kiểm sát viên
do Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân quy định.
2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Thủ trưởng
cơ quan điều tra phân công, Điều tra viên phải tuân
theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo trực tiếp
của Thủ trưởng cơ quan điều tra, sự lãnh đạo
thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên do pháp
luật quy định.
Điều 46 1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên,
Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành
vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên,
Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên trong
khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà gây ra thiệt
hại thì Viện kiểm sát nhân dân nơi những người
đó công tác phải có trách nhiệm bồi thường và
những người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm
bồi hoàn cho Viện kiểm sát nhân dân theo quy định
của pháp luật.
Điều 47 1. Tổng biên chế, số lượng Kiểm sát viên, Điều
tra viên của Viện kiểm sát nhân dân do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Căn cứ vào tổng biên chế do Uỷ ban thường vụ
Quốc hội quyết định, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao quyết định biên chế của
Viện kiểm sát các địa phương và các đơn vị
trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Biên chế, số lượng Kiểm sát viên, Điều tra
viên của Viện kiểm sát quân sự do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sau khi thống
nhất với Bộ trưởng Bộ quốc phòng.
Điều 48 Chế độ tiền lương, phụ cấp, giấy chứng minh,
trang phục đối với cán bộ ngành kiểm sát và chế
độ ưu tiên đối với Kiểm sát viên, Điều tra
viên khi thực hiện nhiệm vụ do Uỷ ban thường vụ
Quốc hội quy định.
Điều 49 1. Kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
do Viện kiểm sát nhân dân tối cao lập dự toán
và đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
2. Kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát quân sự
do Bộ quốc phòng phối hợp với Viện kiểm sát
nhân dân tối cao lập dự toán và đề nghị Chính
phủ trình Quốc hội quyết định.
3. Việc quản lý, cấp và sử dụng kinh phí được
thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước.
4. Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển công nghệ
thông tin và các phương tiện khác để bảo đảm
cho ngành kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ của mình.
Điều 50 Luật này thay thế Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân ngày 07 tháng 10 năm 1992.
Những quy định trước đây trái với Luật này đều
bãi bỏ.
Luật này đã được Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá
X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002.
|