|
Gia đình là tế bào của xã hội,
là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường
quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp
phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội
tốt thì gia đình càng tốt.
Để đề cao vai trò của gia đình trong đời sống
xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những
phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, xoá bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu
về hôn nhân và gia đình;
Để nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước
và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế
độ hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Kế thừa và phát triển pháp luật về hôn nhân
và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.
Điều 1. Nhiệm vụ và phạm vi điều
chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình Luật hôn nhân và gia đình có nhiệm vụ góp phần
xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân
và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp
lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành
viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống
đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm
xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc, bền vững.
Luật hôn nhân và gia đình quy định chế độ hôn
nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà
nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố
chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản
của chế độ hôn nhân và gia đình 1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,
vợ chồng bình đẳng.
2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân
tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với
người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài được tôn trọng và được
pháp luật bảo vệ.
3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân
số và kế hoạch hoá gia đình.
4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân
có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm
sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng,
chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong
gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ
nhau.
5. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân
biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con
gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài
giá thú.
6. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm
bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực
hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.
Điều 3. Trách nhiệm của Nhà nước
và xã hội đối với hôn nhân và gia đình 1. Nhà nước có chính sách, biện pháp tạo điều
kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân
tự nguyện, tiến bộ và gia đình thực hiện đầy
đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận
động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc
hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống,
phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc
của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và
gia đình tiến bộ.
2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận
động cán bộ, công chức, các thành viên của mình
và mọi công dân xây dựng gia đình văn hoá; thực
hiện tư vấn về hôn nhân và gia đình; kịp thời
hoà giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình.
3. Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc
giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
hôn nhân và gia đình cho thế hệ trẻ.
Điều 4. Bảo vệ chế độ hôn
nhân và gia đình 1. Quan hệ hôn nhân và gia đình thực hiện theo quy
định của Luật này được tôn trọng và được
pháp luật bảo vệ.
2. Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn
nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo,
lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly
hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong
việc cưới hỏi.
Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc
chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người
chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung
sống như vợ chồng với người đang có chồng, có
vợ.
Cấm ngượ đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ,
chồng, con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác
trong gia đình.
3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và
gia đình phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh,
đúng pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Toà
án, cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp
thời ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với người
có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia
đình.
Điều 5. áp dụng quy định của
Bộ luật dân sự Các quy định của Bộ luật dân sự liên quan đến
quan hệ hôn nhân và gia đình được áp dụng đối
với quan hệ hôn nhân và gia đình trong trường hợp
pháp luật về hôn nhân và gia đình không có quy định.
Điều 6. áp dụng phong tục, tập
quán về hôn nhân và gia đình Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục,
tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc
mà không trái với những nguyên tắc quy định tại
Luật này thì được tôn trọng và phát huy.
Điều 7. áp dụng pháp luật về
hôn nhân và gia đình đối với quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài. 1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia
đình của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật
này có quy định khác.
2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham
gia có quy định khác với quy định của Luật này,
thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.
Điều 8. Giải thích từ ngữ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu
như sau: 1. Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những
quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn, nghĩa
vụ và quyền giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và
con, giữa các thành viên khác trong gia đình, cấp
dưỡng, xác định cha, mẹ, con, con nuôi, giám hộ,
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và
gia đình;
2. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ
chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện
kết hôn và đăng ký kết hôn;
3. Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan
hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm
điều kiện kết hôn do pháp luật quy định;
4. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một
bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo
quy định của pháp luật;
5. Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác
phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ;
6. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi
đã kết hôn;
7. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại
quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn
đến ngày chấm dứt hôn nhân;
8. Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án
công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ
hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;
9. Cưỡng ép ly hôn là hành vi buộc người khác phải
ly hôn trái với nguyện vọng của họ;
10. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với
nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan
hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền
giữa họ với nhau theo quy định của Luật này;
11. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ
đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng
nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với
mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi
dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa
thành niên, là người đã thành niên mà không có
khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo
quy định của Luật này;
12. Những người cùng dòng máu về trực hệ là cha,
mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu nội và
cháu ngoại;
13. Những người có họ trong phạm vi ba đời là
những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời
thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ,
cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con
chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba;
14. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú
tại Việt Nam;
c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để
xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp
luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan
hệ đó ở nước ngoài.
Điều 9. Điều kiện kết hôn Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều
kiện sau đây: 1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười
tám tuổi trở lên;
2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định,
không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào;
không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường
hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật
này.
Điều 10. Những trường hợp cấm
kết hôn Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau
đây: 1. Người đang có vợ hoặc có chồng;
2. Người mất năng lực hành vi dân sự;
3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ;
giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã
từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với
con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con
riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
5. Giữa những người cùng giới tính.
Điều 11. Đăng ký kết hôn 1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan
đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định
tại Điều 14 của Luật này.
Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều
14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý.
Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với
nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công
nhận là vợ chồng.
Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau
cũng phải đăng ký kết hôn.
2. Chính phủ quy định việc đăng ký kết hôn ở
vùng sâu, vùng xa.
Điều 12. Thẩm quyền đăng ký kết
hôn Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú
của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký
kết hôn.
Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt
Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa
công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài.
Điều 13. Giải quyết việc đăng
ký kết hôn 1. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định
của pháp luật về hộ tịch, cơ quan đăng ký kết
hôn kiểm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; nếu xét thấy
hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn thì cơ
quan đăng ký kết hôn tổ chức đăng ký kết hôn.
2. Trong trường hợp một bên hoặc cả hai bên không
đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết
hôn từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng
văn bản; nếu người bị từ chối không đồng ý
thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp
luật.
Điều 14. Tổ chức đăng ký kết
hôn Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên
nam, nữ kết hôn. Đại diện cơ quan đăng ký kết
hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện
kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại
diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận
kết hôn cho hai bên.
Điều 15. Người có quyền yêu cầu
hủy việc kết hôn trái pháp luật 1. Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo
quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có
quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện
kiểm sát yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái
pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại
khoản 2 Điều 9 của Luật này.
2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án hủy
việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định
tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định
của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự
mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm
sát yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp
luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và
Điều 10 của Luật này: a) Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn;
b) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
c) Hội liên hiệp phụ nữ.
4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề
nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án huỷ
việc kết hôn trái pháp luật.
Điều 16. Hủy việc kết hôn trái
pháp luật Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định
tại Điều 15 của Luật này, Toà án xem xét và quyết
định việc hủy kết hôn trái pháp luật và gửi
bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc
đăng ký kết hôn. Căn cứ vào quyết định của
Toà án, cơ quan đăng ký kết hôn xoá đăng ký kết
hôn trong Sổ đăng ký kết hôn.
Điều 17. Hậu quả pháp lý của
việc hủy kết hôn trái pháp luật 1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì
hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2. Quyền lợi của con được giải quyết như trường
hợp cha mẹ ly hôn.
3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài
sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu
của người đó; tài sản chung được chia theo thoả
thuận của các bên; nếu không thoả thuận được
thì yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công
sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền
lợi chính đáng của phụ nữ và con.
Điều 18. Tình nghĩa vợ chồng Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm
sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Điều 19. Bình đẳng về nghĩa vụ
và quyền giữa vợ, chồng Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và
quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.
Điều 20. Lựa chọn nơi cư trú
của vợ, chồng Nơi cư trú của vợ, chồng do vợ chồng lựa chọn,
không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa
giới hành chính.
Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân
phẩm, uy tín của vợ, chồng 1. Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân
phẩm, uy tín cho nhau.
2. Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ,
xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.
Điều 22. Tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhau; không được cưỡng ép, cản trở
nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Điều 23. Giúp đỡ, tạo điều
kiện cho nhau phát triển về mọi mặt Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện
cho nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình
độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt
động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội theo nguyện
vọng và khả năng của mỗi người.
Điều 24. Đại diện cho nhau giữa
vợ, chồng 1. Vợ chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập,
thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy
định của pháp luật phải có sự đồng ý của
cả vợ chồng; việc uỷ quyền phải được lập
thành văn bản.
2. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất
năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều
kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Toà
án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật
cho người đó.
Điều 25. Trách nhiệm liên đới
của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên
thực hiện Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới
đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong
hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt thiết yếu của gia đình.
Điều 26. Quan hệ hôn nhân khi một
bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về Khi Toà án ra quyết định huỷ bỏ tuyên bố một
người là đã chết theo quy định tại Điều 93 của
Bộ luật dân sự mà vợ hoặc chồng của người
đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn
nhân đương nhiên được khôi phục; trong trường
hợp vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn
với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác
lập sau có hiệu lực pháp luật.
Điều 27. Tài sản chung của vợ
chồng 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ,
chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp
khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài
sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được
tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng
thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau
khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền
sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước
khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản
chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung
hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung
của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng
ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền
sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh
tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài
sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài
sản chung.
Điều 28. Chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung 1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong
việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để
bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các
nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch
dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị
lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình,
việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải
được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài
sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng
theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.
Điều 29. Chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân 1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng
đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân
sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ
chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc
chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu
không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà
án giải quyết.
2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn
tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được
pháp luật công nhận.
Điều 30. Hậu quả chia tài sản
chung của vợ chồng Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng
thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã
được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người;
phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở
hữu chung của vợ chồng.
Điều 31. Quyền thừa kế tài sản
giữa vợ chồng 1. Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau
theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Toà án tuyên
bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản
chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc
có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc
những người thừa kế thoả thuận cử người khác
quản lý di sản.
3. Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế
mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến
đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và
gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà
án xác định phần di sản mà những người thừa
kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong
một thời hạn nhất định; nếu hết thời hạn
do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết
hôn với người khác thì những người thừa kế
khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa
kế.
Điều 32. Tài sản riêng của vợ,
chồng 1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi
người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa
kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn
nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo
quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của
Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.
2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài
sản riêng vào khối tài sản chung.
Điều 33. Chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản riêng 1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp
quy định tại khoản 5 Điều này.
2. Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường
hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý
tài sản riêng và cũng không uỷ quyền cho người
khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản
đó.
3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được
thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử
dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong
trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng.
5. Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc
chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi,
lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy
nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản
riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ
chồng.
Điều 34. Nghĩa vụ và quyền của
cha mẹ 1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm
lo việc học tập và giáo dục để con phát triển
lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức,
trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công
dân có ích cho xã hội.
2. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa
các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không
được lạm dụng sức lao động của con chưa thành
niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những
việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 35. Nghĩa vụ và quyền của
con Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu
thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo
đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền
thống tốt đẹp của gia đình.
Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ.
Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc
phạm cha mẹ.
Điều 36. Nghĩa vụ và quyền chăm
sóc, nuôi dưỡng 1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc,
nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành
niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,
không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi mình.
2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu,
tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con
thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ.
Điều 37. Nghĩa vụ và quyền giáo
dục con 1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm
lo và tạo điều kiện cho con học tập.
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong
môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận; làm gương
tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với
nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo
dục con.
2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền
chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của
con.
3. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được,
cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu
quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con.
Điều 38. Nghĩa vụ và quyền của
bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc
của chồng 1. Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng
sống chung với mình theo quy định tại các điều
34, 36 và 37 của Luật này.
2. Con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi
dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình
theo quy định tại Điều 35 và Điều 36 của Luật
này.
3. Bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc
của chồng không được ngược đãi, hành hạ, xúc
phạm nhau.
Điều 39. Đại diện cho con Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của
con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực
hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác
làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo
pháp luật.
Điều 40. Bồi thường thiệt hại
do con gây ra Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành
niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự gây ra theo quy định tại Điều 611 của Bộ luật
dân sự.
Điều 41. Hạn chế quyền của cha,
mẹ đối với con chưa thành niên Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội
cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của
con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá
tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi
giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật,
trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng trường hợp
cụ thể Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu
của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều
42 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ
trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản
riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho
con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Toà
án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.
Điều 42. Người có quyền yêu cầu
Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với
con chưa thành niên 1. Cha, mẹ, người thân thích của con chưa thành niên
theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị
Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hạn chế một số
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án hạn
chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên.
3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu
cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu
Toà án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối
với con chưa thành niên: a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
b) Hội liên hiệp phụ nữ.
4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề
nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hạn
chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên.
Điều 43. Hậu quả pháp lý của
việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con
chưa thành niên 1. Trong trường hợp một trong hai người là cha hoặc
mẹ bị Toà án hạn chế một số quyền đối với
con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản
lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp
luật cho con.
2. Trong trường hợp cha mẹ đều bị Toà án hạn
chế quyền đối với con chưa thành niên thì việc
trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài
sản riêng của con chưa thành niên được giao cho
người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân
sự và Luật này.
3. Cha, mẹ đã bị Toà án hạn chế quyền đối với
con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ
nuôi dưỡng con.
Điều 44. Quyền có tài sản riêng
của con 1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng
của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng,
được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của
con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
của con và các thu nhập hợp pháp khác.
2. Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên còn sống
chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống
chung của gia đình; nếu có thu nhập thì đóng góp
vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Điều 45. Quản lý tài sản riêng
của con 1. Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể tự
mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản
lý.
2. Tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi,
con mất năng lực hành vi dân sự thì do cha mẹ quản
lý. Cha mẹ có thể uỷ quyền cho người khác quản
lý tài sản riêng của con.
3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong
trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để
lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con
đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó
hoặc những trường hợp khác theo quy định của
pháp luật.
Điều 46. Định đoạt tài sản
riêng của con chưa thành niên 1. Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng
của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định
đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính
đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín
tuổi trở lên.
2. Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười
tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu
định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng
tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý
của cha mẹ.
Điều 47. Nghĩa vụ và quyền của
ông bà nội, ông bà ngoại và cháu 1. Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền
trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực
và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp
cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị
tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có
khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy
định tại Điều 48 của Luật này thì ông bà nội,
ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.
2. Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng
dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại.
Điều 48. Nghĩa vụ và quyền của
anh, chị, em Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp
đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng
nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ
không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con.
Điều 49. Quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình 1. Các thành viên cùng sống chung trong gia đình đều
có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm
lo đời sống chung của gia đình, đóng góp công sức,
tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung
phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mình.
Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng
sự chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quyền, lợi ích hợp
pháp của các thành viên trong gia đình được tôn
trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để
các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ nhau
nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp
của gia đình Việt Nam.
Điều 50. Nghĩa vụ cấp dưỡng 1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa
cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông
bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng
theo quy định của Luật này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa
vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng
mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc phải thực
hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại
Luật này.
Điều 51. Một người cấp dưỡng
cho nhiều người Trong trường hợp một người cấp dưỡng cho nhiều
người thì người cấp dưỡng và những người được
cấp dưỡng thoả thuận với nhau về phương thức
và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả
năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng
và nhu cầu thiết yếu của những người được
cấp dưỡng; nếu không thoả thuận được thì yêu
cầu Toà án giải quyết.
Điều 52. Nhiều người cùng cấp
dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người Trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người
thì những người này thỏa thuận với nhau về phương
thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả
năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết
yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa
thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 53. Mức cấp dưỡng 1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng
và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ
của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập,
khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp
dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được
cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu
cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể
thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các
bên thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì
yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều 54. Phương thức thực hiện
nghĩa vụ cấp dưỡng Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định
kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc
một lần.
Các bên có thể thoả thuận thay đổi phương thức
cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường
hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình
trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thoả
thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều 55. Người có quyền yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng 1. Người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ
của người đó theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà
án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án
buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ
cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án buộc
người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu
cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu
Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện
nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ
đó: a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
b) Hội liên hiệp phụ nữ.
4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề
nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án buộc
người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
Điều 56. Nghĩa vụ cấp dưỡng
của cha, mẹ đối với con khi ly hôn Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con
chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật,
mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng
lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận; nếu
không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải
quyết.
Điều 57. Nghĩa vụ cấp dưỡng
của con đối với cha mẹ Con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có
nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ không có khả năng
lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Điều 58. Nghĩa vụ cấp dưỡng
giữa anh, chị, em 1. Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ
không có khả năng lao động và không có tài sản
để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên
không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng
cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi
mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao
động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Em đã thành niên không sống chung với anh, chị
có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả
năng lao động và không có tài sản để tự nuôi
mình.
Điều 59. Nghĩa vụ cấp dưỡng
giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu 1. Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với
cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường
hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên
không có khả năng lao động, không có tài sản để
tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo
quy định tại Điều 58 của Luật này.
2. Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà
nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông
bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không
có khả năng lao động, không có tài sản để tự
nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo
quy định của Luật này.
Điều 60. Nghĩa vụ cấp dưỡng
giữa vợ và chồng khi ly hôn Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu
cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có
nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.
Điều 61. Chấm dứt nghĩa vụ cấp
dưỡng Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường
hợp sau đây: 1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có
khả năng lao động;
2. Người được cấp dưỡng có thu nhập hoặc tài
sản để tự nuôi mình;
3. Người được cấp dưỡng được nhận làm con
nuôi;
4. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng
người được cấp dưỡng;
5. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng
chết;
6. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn
với người khác;
7. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Điều 62. Khuyến khích việc trợ
giúp của tổ chức, cá nhân Nhà nước và xã hội khuyến khích các tổ chức,
cá nhân trợ giúp bằng tiền hoặc tài sản khác
cho các gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn, túng thiếu.
Chương VII
Xác định cha, mẹ, con
Điều 63. Xác định cha, mẹ 1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người
vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ
chồng.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được
cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con
thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác
định.
Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo
phương pháp khoa học do Chính phủ quy định.
Điều 64. Xác định con Người không được nhận là cha, mẹ của một người
có thể yêu cầu Toà án xác định người đó là
con mình.
Người được nhận là cha, mẹ của một người
có thể yêu cầu Toà án xác định người đó không
phải là con mình.
Điều 65. Quyền nhận cha, mẹ 1. Con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả
trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
2. Con đã thành niên xin nhận cha, không đòi hỏi
phải có sự đồng ý của mẹ; xin nhận mẹ, không
đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha.
Điều 66. Người có quyền yêu cầu
xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác
định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân
sự 1. Mẹ, cha hoặc người giám hộ theo quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình
yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu
cầu Toà án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên,
con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc
xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân
sự.
2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án xác định
cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên
mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con
cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.
3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu
cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu
Toà án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên,
con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc
xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân
sự: a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
b) Hội liên hiệp phụ nữ.
4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề
nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án xác
định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành
niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định
con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.
Điều 67. Nuôi con nuôi 1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ
và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người
được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được
nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.
Một người có thể nhận một hoặc nhiều người
làm con nuôi.
Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được
nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha
mẹ và con theo quy định của Luật này.
2. Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận
trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn tật
làm con nuôi.
3. Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc
lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ
em hoặc vì mục đích trục lợi khác.
Điều 68. Người được nhận làm
con nuôi 1. Người được nhận làm con nuôi phải là người
từ mười lăm tuổi trở xuống.
Người trên mười lăm tuổi có thể được nhận
làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật,
người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con
nuôi của người già yếu cô đơn.
2. Một người chỉ có thể làm con nuôi của một
người hoặc của cả hai người là vợ chồng.
Điều 69. Điều kiện đối với
người nhận nuôi con nuôi Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện
sau đây: 1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
2. Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên;
3. Có tư cách đạo đức tốt;
4. Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
5. Không phải là người đang bị hạn chế một số
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về
một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược
đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng,
con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ,
ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên
phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ
em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em;
có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc
trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 70. Vợ chồng cùng nhận nuôi
con nuôi Trong trường hợp vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi
thì vợ chồng đều phải có đủ các điều kiện
quy định tại Điều 69 của Luật này.
Điều 71. Sự đồng ý của cha mẹ
đẻ, người giám hộ và người được nhận làm
con nuôi 1. Việc nhận người chưa thành niên, người đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự làm con nuôi
phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha
mẹ đẻ của người đó; nếu cha mẹ đẻ đã chết,
mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định
được cha, mẹ thì phải được sự đồng ý bằng
văn bản của người giám hộ.
2. Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên
làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em
đó.
Điều 72. Đăng ký việc nuôi con
nuôi Việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào Sổ hộ
tịch.
Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, giao nhận con
nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật
về hộ tịch.
Điều 73. Từ chối việc đăng ký
nuôi con nuôi Trong trường hợp một bên hoặc các bên không có
đủ các điều kiện nhận nuôi con nuôi hoặc làm
con nuôi thì cơ quan đăng ký việc nuôi con nuôi từ
chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản;
nếu cha mẹ đẻ, người giám hộ và người nhận
nuôi con nuôi không đồng ý thì có quyền khiếu nại
theo quy định của pháp luật.
Điều 74. Quyền và nghĩa vụ giữa
cha mẹ nuôi và con nuôi Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa
vụ của cha mẹ và con theo quy định tại Luật này,
kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi.
Con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công
với cách mạng được người khác nhận làm con nuôi
vẫn được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi của
con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công
với cách mạng.
Điều 75. Thay đổi họ, tên; xác
định dân tộc của con nuôi 1. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ,
tên của con nuôi.
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ chín
tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người
đó.
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi được thực
hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Việc xác định dân tộc của con nuôi được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật dân
sự.
Điều 76. Chấm dứt việc nuôi con
nuôi Theo yêu cầu của những người quy định tại Điều
77 của Luật này, Toà án có thể quyết định chấm
dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp sau
đây: 1. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện
chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi;
2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của
cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi
hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;
3. Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản
3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 của Luật này.
Điều 77. Người có quyền yêu cầu
Toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi 1. Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ đẻ, người giám
hộ của con nuôi, cha, mẹ nuôi theo quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình
yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu
cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi
con nuôi trong các trường hợp quy định tại Điều
76 của Luật này.
2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án ra quyết
định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường
hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của
Luật này.
3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu
cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu
Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi
trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm
3 Điều 76 của Luật này: a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
b) Hội liên hiệp phụ nữ.
4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề
nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án ra quyết
định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường
hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của
Luật này.
Điều 78. Hậu quả pháp lý của
việc chấm dứt nuôi con nuôi 1. Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định
của Toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ
nuôi và con nuôi cũng chấm dứt; nếu con nuôi là
người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn
tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả
năng lao động và không có tài sản để tự nuôi
mình thì Toà án ra quyết định giao người đó cho
cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom, nuôi
dưỡng.
2. Trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì
được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công
sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình
cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ khối
tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và
cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu
cầu Toà án giải quyết.
3. Khi việc nuôi con nuôi chấm dứt, theo yêu cầu
của cha mẹ đẻ hoặc của người đã làm con nuôi,
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc
người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên
mà cha mẹ đẻ đã đặt.
Điều 79. áp dụng pháp luật về
giám hộ trong quan hệ gia đình Khi trong gia đình có người cần được giám hộ
thì việc giám hộ được thực hiện theo các quy
định về giám hộ của Bộ luật dân sự và Luật
này.
Điều 80. Cha mẹ giám hộ cho con Trong trường hợp cha mẹ cùng giám hộ cho con đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì họ
đều phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
giám hộ. Cha, mẹ thoả thuận với nhau về việc
đại diện theo pháp luật cho con trong các giao dịch
dân sự vì lợi ích của con.
Điều 81. Cha mẹ cử người giám
hộ cho con Trong trường hợp cha mẹ còn sống nhưng không có
điều kiện trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên
mất năng lực hành vi dân sự thì cha mẹ có thể
cử người khác giám hộ cho con; cha mẹ và người
giám hộ thoả thuận về việc người giám hộ thực
hiện một phần hoặc toàn bộ việc giám hộ.
Điều 82. Con riêng giám hộ cho bố
dượng, mẹ kế Trong trường hợp bố dượng, mẹ kế không có người
giám hộ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật
dân sự thì con riêng đang sống chung với bố dượng,
mẹ kế làm người giám hộ, nếu có đủ điều
kiện làm người giám hộ.
Điều 83. Giám hộ giữa anh, chị,
em 1. Trong trường hợp anh, chị, em ruột cần được
giám hộ thì anh, chị, em đã thành niên có năng lực
hành vi dân sự thoả thuận cử một người trong
số họ có đủ điều kiện làm người giám hộ.
2. Khi quyết định các vấn đề liên quan đến nhân
thân, tài sản của em chưa thành niên thì anh, chị
là người giám hộ của em phải tham khảo ý kiến
của những người thân thích và ý kiến của em,
nếu em từ đủ chín tuổi trở lên.
Điều 84. Giám hộ giữa ông bà
nội, ông bà ngoại và cháu 1. Trong trường hợp cháu cần được giám hộ mà
ông bà nội, ông bà ngoại có đủ điều kiện làm
người giám hộ thì những người này thoả thuận
cử một bên làm người giám hộ.
2. Cháu có đủ điều kiện làm người giám hộ thì
phải giám hộ cho ông bà nội, ông bà ngoại, nếu
ông bà không có con phụng dưỡng.
Điều 85. Quyền yêu cầu Toà án
giải quyết việc ly hôn 1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu
Toà án giải quyết việc ly hôn.
2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con
dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền
yêu cầu xin ly hôn.
Điều 86. Khuyến khích hoà giải
ở cơ sở Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hoà giải
ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc
hoà giải được thực hiện theo quy định của pháp
luật về hoà giải ở cơ sở.
Điều 87. Thụ lý đơn yêu cầu
ly hôn Toà án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định
của pháp luật về tố tụng dân sự.
Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu
cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không
công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản
1 Điều 11 của Luật này; nếu có yêu cầu về con
và tài sản thì giải quyết theo quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 17 của Luật này.
Điều 88. Hoà giải tại Toà án Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà án tiến
hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự.
Điều 89. Căn cứ cho ly hôn 1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì
Toà án quyết định cho ly hôn.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người
bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà
án giải quyết cho ly hôn.
Điều 90. Thuận tình ly hôn Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn
mà hoà giải tại Toà án không thành, nếu xét thấy
hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận
về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận
tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con
trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của
vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy
có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi
chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.
Điều 91. Ly hôn theo yêu cầu của
một bên Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà
giải tại Toà án không thành thì Toà án xem xét,
giải quyết việc ly hôn.
Điều 92. Việc trông nom, chăm sóc,
giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn 1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông
nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành
niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng
lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động
và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con.
2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp
nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi
ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được
thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực
tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của
con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải
xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho
mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả
thuận khác.
Điều 93. Thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc
cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi
người trực tiếp nuôi con.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi
ly hôn được thực hiện trong trường hợp người
trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về
mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng
của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.
Điều 94. Quyền thăm nom con sau khi
ly hôn Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có
quyền thăm nom con; không ai được cản trở người
đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con
lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo
dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi
con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm
nom con của người đó.
Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản
khi ly hôn 1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận;
nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án
giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc
quyền sở hữu của bên đó.
2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo
các nguyên tắc sau đây: a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được
chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên,
tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi
bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản
này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được
coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con
chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật,
mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng
lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong
sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên
có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng
hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần
tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần
mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia
phần giá trị chênh lệch.
3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của
vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không
thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều 96. Chia tài sản trong trường
hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn 1. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia
đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong
khối tài sản chung của gia đình không xác định
được thì vợ hoặc chồng được chia một phần
trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào
công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo
lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng
như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia
một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả
thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được
thì yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản
chung của gia đình có thể xác định được theo
phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng
được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.
Điều 97. Chia quyền sử dụng đất
của vợ, chồng khi ly hôn 1. Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi
ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
2. Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng
khi ly hôn được thực hiện như sau: a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm,
nuôi trồng thuỷ sản, nếu cả hai bên đều có nhu
cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất
thì được chia theo thoả thuận của hai bên; nếu
không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải
quyết theo quy định tại Điều 95 của Luật này.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có
điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó
được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán
cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà
họ được hưởng;
b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng
đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng
thuỷ sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần
quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách
ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm,
đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được
chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này;
d) Việc chia quyền sử dụng đối với các loại
đất khác được thực hiện theo quy định của pháp
luật về đất đai và pháp luật dân sự.
3. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia
đình mà không có quyền sử dụng đất chung với
hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không
có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống
chung với gia đình được giải quyết theo quy định
tại Điều 96 của Luật này.
Điều 98. Chia nhà ở thuộc sở
hữu chung của vợ chồng Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của
vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn
được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật
này; nếu không thể chia được thì bên được tiếp
tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần
giá trị mà họ được hưởng.
Điều 99. Giải quyết quyền lợi
của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà
ở thuộc sở hữu riêng của một bên Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của
một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi
ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của
chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia
một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo
dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.
Điều 100. Bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài 1. ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy
định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc
tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết
hoặc tham gia.
2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân
Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được
hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt
Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định
khác.
3. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và
gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật
của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc
tế.
4. Các quy định của Chương này cũng được áp dụng
đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công
dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên
định cư ở nước ngoài.
Điều 101. áp dụng pháp luật nước
ngoài đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật
khác của Việt Nam có quy định hoặc điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước
ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không
trái với các nguyên tắc quy định trong Luật này.
Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu
trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật
về hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Điều 102. Thẩm quyền giải quyết
các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài 1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con
nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy
định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật Việt Nam.
Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa
công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với
công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu
vực biên giới với Việt Nam do Chính phủ quy định.
2. Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự
của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng
ký kết hôn, giải quyết các việc về nuôi con nuôi
và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định
của Luật này, các quy định khác có liên quan của
pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham
gia, nếu việc đăng ký, giải quyết đó không trái
với pháp luật của nước sở tại; có trách nhiệm
thực hiện việc bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài.
3. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết
việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ
của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ,
con, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài,
xem xét việc công nhận hoặc không công nhận bản
án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài
theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật Việt Nam.
Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam huỷ
việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc
ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con,
nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam
cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước
láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với
Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định
khác của pháp luật Việt Nam.
Điều 103. Kết hôn có yếu tố
nước ngoài 1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp
luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu
việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước
ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật
này về điều kiện kết hôn.
Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với
nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này
về điều kiện kết hôn.
2. Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu tố
nước ngoài để buôn bán phụ nữ, xâm phạm tình
dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục
lợi khác.
Điều 104. Ly hôn có yếu tố nước
ngoài 1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường
trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định
của Luật này.
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không
thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu
ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp
luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng;
nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp
luật Việt Nam.
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản
ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của
nước nơi có bất động sản đó.
4. Bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc
cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài được
công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
Điều 105. Nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài 1. Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc
nhận trẻ em nước ngoài thường trú tại Việt Nam
làm con nuôi phải tuân theo quy định của Luật này
và quy định trong pháp luật của nước mà người
đó là công dân về điều kiện nhận nuôi con nuôi.
Việc công dân Việt Nam nhận trẻ em là người nước
ngoài làm con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài thì được công
nhận tại Việt Nam.
Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc
lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ
em hoặc vì mục đích trục lợi khác.
2. Trong trường hợp việc nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam thì
quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi,
việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo
quy định của Luật này.
Trong trường hợp việc nuôi con nuôi giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện
tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa cha
mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi
được xác định theo pháp luật của nước nơi thường
trú của con nuôi.
Điều 106. Giám hộ trong quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài 1. Việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt
Nam, việc giám hộ được đăng ký tại Cơ quan đại
diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở
nước ngoài phải tuân theo quy định của Luật này
và các quy định khác cuả pháp luật Việt Nam.
2. Trong trường hợp việc giám hộ trong quan hệ hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì
quyền và nghĩa vụ giữa người giám hộ và người
được giám hộ được xác định theo pháp luật
của nước nơi thường trú của người giám hộ.
Điều 107. Xử lý vi phạm pháp luật
trong quan hệ hôn nhân và gia đình Người nào vi phạm các điều kiện kết hôn; cản
trở việc kết hôn đúng pháp luật; giả mạo giấy
tờ để đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi;
hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm
ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên
khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi
để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng,
nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm
pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tuỳ theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 108. Xử lý vi phạm pháp luật
của người có chức vụ, quyền hạn Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn để
đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi, xác định
cha, mẹ, con trái pháp luật; vi phạm thẩm quyền,
thủ tục đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi;
không thực hiện yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của các thành viên trong gia đình hoặc
có các hành vi khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn
vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 109. Hiệu lực thi hành Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2001.
Luật này thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm
1986.
Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài ngày 02 tháng 12 năm 1993
hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001.
Điều 110. Hướng dẫn thi hành Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000.
|