|
Để tăng cường quản lý nhà
nước về kinh tế, tạo điều kiện để nền kinh
tế Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
có hiệu quả, hạn chế những tác động không
thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản
xuất trong nước do việc gia tăng bất thường nhập
khẩu hàng hoá vào Việt Nam;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi
bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng
12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ
10;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X,
kỳ họp thứ 10 về Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh năm 2002;
Pháp lệnh này quy định về các biện pháp tự
vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt
Nam.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Pháp lệnh này quy định về các biện pháp tự vệ,
điều kiện và thủ tục áp dụng các biện pháp
đó trong trường hợp nhập khẩu hàng hoá quá mức
vào Việt Nam gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản
xuất trong nước.
Điều 2. Quyền áp dụng các biện
pháp tự vệ Chính phủ Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp
tự vệ trong trường hợp một loại hàng hoá nhất
định được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam theo
quy định của Pháp lệnh này.
Điều 3. Các biện pháp tự vệ Các biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước
ngoài vào Việt Nam bao gồm: 1. Tăng mức thuế nhập khẩu;
2. áp dụng hạn ngạch nhập khẩu;
3. áp dụng các biện pháp khác do Chính phủ quy định.
Điều 4. Giải thích từ ngữ Trong Pháp lệnh này, những từ ngữ dưới đây được
hiểu như sau: 1. “Nhập khẩu hàng hoá quá mức” là việc nhập
khẩu hàng hoá với khối lượng, số lượng hoặc
trị giá gia tăng một cách tuyệt đối hoặc tương
đối so với khối lượng, số lượng hoặc trị
giá của hàng hoá tương tự hoặc hàng hoá cạnh
tranh trực tiếp được sản xuất trong nước.
2. “Thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất
trong nước” là tình trạng ngành sản xuất đó
suy giảm một cách đáng kể về sản lượng, mức
tiêu thụ trong nước, lợi nhuận sản xuất, tốc
độ phát triển sản xuất; gia tăng mức tồn đọng
hàng hoá; ảnh hưởng xấu đến việc làm, mức tiền
lương, đầu tư và tới các chỉ tiêu khác của ngành
sản xuất trong nước sản xuất hàng hoá đó.
3. “Đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành
sản xuất trong nước” là khả năng chắc chắn,
rõ ràng và chứng minh được về sự thiệt hại
nghiêm trọng gây ra cho ngành sản xuất trong nước.
4. “Ngành sản xuất trong nước” là toàn bộ các
nhà sản xuất hàng hoá tương tự hoặc hàng hoá
cạnh tranh trực tiếp trong phạm vi lãnh thổ Việt
Nam hoặc đại diện hợp pháp của họ chiếm tỷ
lệ chủ yếu trong tổng sản lượng hàng hoá của
ngành đó được sản xuất ra ở trong nước.
5. “Hàng hoá tương tự” là hàng hoá giống hệt
nhau hoặc giống nhau về chức năng, công dụng, chỉ
số chất lượng, tính năng kỹ thuật và các thuộc
tính cơ bản khác.
6. “Hàng hoá cạnh tranh trực tiếp” là hàng hoá
có khả năng được người mua chấp nhận thay thế
cho hàng hóa thuộc phạm vi áp dụng các biện pháp
tự vệ do ưu thế về giá và mục đích sử dụng.
Điều 5. Nguyên tắc áp dụng các
biện pháp tự vệ 1. Các biện pháp tự vệ được áp dụng trong phạm
vi và mức độ cần thiết nhằm ngăn ngừa hoặc
hạn chế thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất
trong nước và tạo điều kiện để ngành sản xuất
đó nâng cao khả năng cạnh tranh.
2. Việc áp dụng các biện pháp tự vệ phải căn
cứ vào kết quả điều tra quy định tại Chương
II của Pháp lệnh này, trừ trường hợp áp dụng
các biện pháp tự vệ tạm thời.
3. Các biện pháp tự vệ được áp dụng trên cơ
sở không phân biệt đối xử và không phụ thuộc
vào xuất xứ hàng hoá.
Điều 6. Điều kiện áp dụng các
biện pháp tự vệ Các biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối
với hàng hoá nhập khẩu khi có đủ các điều kiện
sau đây: 1. Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá
nhập khẩu gia tăng đột biến một cách tuyệt đối
hoặc tương đối so với khối lượng, số lượng
hoặc trị giá của hàng hoá tương tự hoặc hàng
hoá cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong
nước;
2. Việc gia tăng khối lượng, số lượng hoặc trị
giá hàng hoá nhập khẩu quy định tại khoản 1 Điều
này gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho ngành sản xuất hàng hoá tương tự hoặc
hàng hoá cạnh tranh trực tiếp trong nước.
Điều 7. Tham vấn 1. Bộ Thương mại có thể tiến hành tham vấn với
các bên liên quan đến quá trình điều tra và áp
dụng các biện pháp tự vệ theo yêu cầu của họ
nhằm tạo điều kiện cho tất cả các bên liên quan
trình bày ý kiến và cung cấp thông tin cần thiết.
2. Các bên liên quan không bắt buộc phải có mặt
tại các cuộc tham vấn; nếu bên nào không có mặt
tại các cuộc tham vấn thì lợi ích của họ liên
quan đến biện pháp tự vệ vẫn được bảo đảm.
Điều 8. Bù đắp thiệt hại 1. Việc bù đắp và mức độ bù đắp thiệt hại
do áp dụng các biện pháp tự vệ được thực hiện
theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước
quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
2. Việc bù đắp và mức độ thiệt hại được
xác định trên cơ sở kết quả tham vấn giữa các
bên liên quan.
Điều 9. Cơ quan chịu trách nhiệm
tiến hành điều tra Bộ Thương mại chịu trách nhiệm tiến hành điều
tra trước khi quyết định áp dụng hoặc không áp
dụng các biện pháp tự vệ.
Điều 10. Căn cứ tiến hành điều
tra 1. Bộ Thương mại tiến hành điều tra khi có hồ
sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ của tổ
chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong
nước với điều kiện toàn bộ hàng hoá do tổ chức,
cá nhân đó sản xuất chiếm ít nhất 25% sản lượng
hàng hoá tương tự hoặc hàng hoá cạnh tranh trực
tiếp được sản xuất trong nước. Tổ chức, cá
nhân có hồ sơ yêu cầu phải chịu trách nhiệm về
các thông tin trong hồ sơ.
2. Bộ Thương mại chủ động tiến hành điều tra
trong trường hợp có bằng chứng chứng minh sự cần
thiết phải áp dụng các biện pháp tự vệ.
Điều 11. Hồ sơ yêu cầu áp dụng
biện pháp tự vệ Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ được
gửi cho Bộ Thương mại bao gồm: 1. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ theo mẫu
do Bộ Thương mại quy định;
2. Các tài liệu và thông tin có liên quan đến loại
hàng hoá thuộc đối tượng điều tra để áp dụng
biện pháp tự vệ và hàng hoá tương tự hoặc hàng
hoá cạnh tranh trực tiếp.
Điều 12. Quyết định tiến hành
điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ 1. Trong trường hợp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện
pháp tự vệ chưa đầy đủ thông tin thì chậm nhất
là 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ
Thương mại phải thông báo cho tổ chức, cá nhân
nộp hồ sơ yêu cầu bổ sung thông tin. Thời hạn
bổ sung thông tin ít nhất là 30 ngày, kể từ ngày
tổ chức, cá nhân đó nhận được yêu cầu bổ
sung thông tin. Bộ Thương mại không ra quyết định
tiến hành điều tra, nếu các thông tin đó không
được cung cấp trong thời hạn quy định.
2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ bổ sung có đầy đủ thông tin, Bộ Thương
mại phải ra quyết định tiến hành điều tra.
3. Khi chưa có quyết định chính thức về việc tiến
hành điều tra, Bộ Thương mại không được tiết
lộ nội dung của hồ sơ yêu cầu áp dụng biện
pháp tự vệ.
4. Trường hợp không ra quyết định tiến hành điều
tra, Bộ Thương mại phải thông báo lý do cho tổ
chức, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện
pháp tự vệ.
5. Bộ Thương mại không ra quyết định tiến hành
điều tra nếu tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu
áp dụng biện pháp tự vệ rút hồ sơ, trừ trường
hợp có bằng chứng cho thấy cần thiết phải tiếp
tục điều tra.
Điều 13. Các bên liên quan đến
quá trình điều tra Các bên liên quan đến quá trình điều tra bao gồm: 1. Tổ chức, cá nhân ở nước ngoài sản xuất và
xuất khẩu loại hàng hoá thuộc đối tượng điều
tra;
2. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu loại hàng hoá thuộc
đối tượng điều tra;
3. Hiệp hội ngành hàng nước ngoài đại diện cho
đa số các tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu
hoặc nhập khẩu loại hàng hoá thuộc đối tượng
điều tra;
4. Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền của nước
xuất khẩu loại hàng hoá thuộc đối tượng điều
tra;
5. Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng
biện pháp tự vệ;
6. Tổ chức, cá nhân trong nước sản xuất hàng hoá
tương tự hoặc hàng hoá cạnh tranh trực tiếp;
7. Hiệp hội ngành hàng trong nước đại diện cho
đa số các tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hoá
tương tự hoặc hàng hoá cạnh tranh trực tiếp;
8. Tổ chức công đoàn đại diện cho quyền lợi
của người lao động trong ngành sản xuất trong nước;
9. Hội nông dân Việt Nam;
10. Tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng Việt Nam;
11. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam;
12. Tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp
pháp liên quan đến quá trình điều tra hoặc có thể
giúp ích cho quá trình điều tra.
Điều 14. Cung cấp thông tin cho quá
trình điều tra 1. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan
có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình điều tra và cung cấp thông tin
cần thiết theo yêu cầu của Bộ Thương mại.
2. Bộ Thương mại có trách nhiệm bảo mật thông
tin theo quy định của pháp luật.
Điều 15. Quản lý nhập khẩu hàng
hoá thuộc đối tượng điều tra 1. Quá trình điều tra để xem xét khả năng áp dụng
các biện pháp tự vệ không được gây trở ngại
cho việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá
nhập khẩu đang là đối tượng điều tra.
2. Kể từ khi có quyết định tiến hành điều tra
cho đến khi kết thúc quá trình điều tra, Bộ Thương
mại có thể thực hiện chế độ cấp giấy phép
nhập khẩu đối với loại hàng hoá đang là đối
tượng điều tra. Việc cấp giấy phép đó chỉ nhằm
mục đích thống kê, không hạn chế về số lượng,
khối lượng hoặc trị giá hàng hoá nhập khẩu.
Điều 16. Nội dung điều tra Việc điều tra phải bảo đảm khách quan, có tính
đến các yếu tố đặc trưng của tình hình sản
xuất trong nước và làm rõ các nội dung sau đây: 1. Sự gia tăng nhập khẩu của loại hàng hoá thuộc
đối tượng điều tra một cách đột biến về khối
lượng, số lượng hoặc trị giá;
2. Thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây ra thiệt
hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước
trên cơ sở đánh giá: a) Những thay đổi về tình hình tiêu thụ hàng hoá
là đối tượng điều tra tại thị trường trong
nước;
b) Những thay đổi về khối lượng sản xuất hàng
hoá, các chỉ số năng suất lao động, hệ số sử
dụng công suất sản xuất, mức lãi và lỗ, tỷ
lệ người có công ăn việc làm trong ngành sản xuất
hàng hoá là đối tượng điều tra;
c) Tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu là đối tượng
điều tra trong tổng khối lượng hàng hoá tương
tự hoặc hàng hoá cạnh tranh trực tiếp đang tiêu
thụ tại thị trường trong nước.
3. Quan hệ giữa việc gia tăng hàng hoá nhập khẩu
với thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ gây ra
thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong
nước.
Điều 17. Đình chỉ điều tra Bộ Thương mại ra quyết định đình chỉ điều
tra trong các trường hợp sau đây: 1. Người có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp
tự vệ rút hồ sơ trong quá trình điều tra;
2. Bên nước ngoài liên quan cam kết loại trừ thiệt
hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại
nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước;
3. Các trường hợp khác do Chính phủ quy định.
Điều 18. Thời hạn điều tra và
công bố kết quả điều tra 1. Thời hạn điều tra không quá 6 tháng, kể từ
ngày Bộ Thương mại ra quyết định điều tra; trong
trường hợp cần thiết, thời hạn điều tra có
thể được gia hạn một lần không quá 2 tháng tiếp
theo.
2. Sau khi kết thúc điều tra, Bộ Thương mại công
bố công khai kết quả điều tra.
Điều 19. Quyết định áp dụng
hoặc không áp dụng các biện pháp tự vệ 1. Trên cơ sở kết quả điều tra, Bộ Thương mại
ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng các
biện pháp tự vệ sau khi đã tham khảo ý kiến của
các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan. Quyết định
này phải được công bố công khai.
2. Các biện pháp tự vệ quy định tại Pháp lệnh
này có thể không được áp dụng, nếu việc áp
dụng các biện pháp đó dẫn đến một trong các
hậu quả sau đây: a) Gây thiệt hại đến kinh tế - xã hội trong nước;
b) Gây thiệt hại đến lợi ích của đa số các
nhà tiêu thụ hàng hoá;
c) Các hậu quả khác do Chính phủ xác định.
Điều 20. áp dụng biện pháp tự
vệ tạm thời 1. Bộ Thương mại có thể ra quyết định áp dụng
biện pháp tự vệ tạm thời trước khi kết thúc
điều tra, nếu xét thấy việc chậm thi hành các
biện pháp tự vệ gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt
hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước
và thiệt hại đó khó có thể khắc phục về sau.
2. Biện pháp tự vệ tạm thời chỉ được áp dụng
với điều kiện Bộ Thương mại tiếp tục tiến
hành điều tra.
3. Quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời
phải được thông báo công khai cho các bên liên quan.
4. Biện pháp tự vệ tạm thời chỉ được áp dụng
dưới hình thức thuế nhập khẩu theo quy định của
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
5. Thời hạn hiệu lực của biện pháp tự vệ tạm
thời không được vượt quá thời hạn cần thiết
để loại trừ thiệt hại nghiêm trọng hoặc phòng
ngừa nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối
với ngành sản xuất trong nước và để ngành sản
xuất trong nước điều chỉnh thích ứng với hoàn
cảnh cạnh tranh. Thời hạn có hiệu lực của biện
pháp tự vệ tạm thời kết thúc khi có quyết định
của Bộ Thương mại về việc áp dụng hoặc không
áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng trong mọi trường
hợp không được vượt quá 200 ngày, kể từ ngày
bắt đầu áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời.
6. Bộ Thương mại có thể ra quyết định đình chỉ
áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trước thời
hạn trong trường hợp cần thiết.
7. Trong trường hợp kết quả điều tra của Bộ
Thương mại cho thấy việc thi hành biện pháp tự
vệ tạm thời là chưa cần thiết hoặc chỉ nên
ấn định mức tăng thuế nhập khẩu ở mức thấp
hơn so với mức tăng thuế nhập khẩu đã áp dụng,
thì khoản chênh lệch thuế đó được hoàn trả
cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Điều 21. áp dụng các biện pháp tự vệ 1. Việc áp dụng các biện pháp tự vệ được tiến
hành trên cơ sở quyết định đã có hiệu lực của
Bộ Thương mại.
2. Các biện pháp tự vệ có thể không được áp
dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ các nước
kém phát triển.
Điều 22. Thời hạn áp dụng các
biện pháp tự vệ 1. Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ, bao
gồm cả thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tạm
thời, là không quá 4 năm.
2. Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ có thể
được gia hạn một lần không quá 6 năm tiếp theo,
với điều kiện vẫn còn thiệt hại nghiêm trọng
hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành
sản xuất trong nước và có các bằng chứng chứng
minh rằng ngành sản xuất đó đang điều chỉnh để
nâng cao khả năng cạnh tranh.
Điều 23. Đình chỉ áp dụng các
biện pháp tự vệ Bộ Thương mại ra quyết định đình chỉ áp dụng
các biện pháp tự vệ trong các trường hợp sau đây: 1. Khi các điều kiện áp dụng các biện pháp tự
vệ không còn tồn tại;
2. Việc tiếp tục áp dụng các biện pháp tự vệ
gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội
trong nước.
Điều 24. Nguyên tắc tiến hành
rà soát các biện pháp tự vệ 1. Trong trường hợp thời gian áp dụng các biện
pháp tự vệ vượt quá ba năm, Bộ Thương mại phải
tiến hành rà soát các biện pháp tự vệ trước
khi hết một nửa thời gian này để có kết luận
về việc duy trì, huỷ bỏ hoặc giảm nhẹ mức độ
áp dụng các biện pháp tự vệ.
2. Việc rà soát các biện pháp tự vệ phải phù
hợp với các quy định tại Chương II của Pháp lệnh
này.
Điều 25. Quyết định về kết
quả rà soát các biện pháp tự vệ Sau khi rà soát các biện pháp tự vệ, Bộ Thương
mại ra một trong các quyết định sau đây: 1. Duy trì các biện pháp tự vệ đang được áp dụng;
2. Giảm nhẹ mức độ áp dụng các biện pháp đó;
3. Đình chỉ các biện pháp tự vệ đang được áp
dụng.
Điều 26. Gia hạn việc áp dụng
biện pháp tự vệ 1. Bộ Thương mại xem xét gia hạn việc áp dụng
biện pháp tự vệ trên cơ sở tổ chức, cá nhân
đại diện cho ngành sản xuất trong nước có hồ
sơ yêu cầu gia hạn áp dụng biện pháp tự vệ phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 10 của Pháp
lệnh này.
Hồ sơ yêu cầu gia hạn áp dụng biện pháp tự vệ
phải bao gồm bằng chứng cho thấy ngành sản xuất
trong nước đó đã thực hiện các biện pháp điều
chỉnh cần thiết để nâng cao khả năng cạnh tranh
và phải được gửi cho Bộ Thương mại chậm nhất
là 6 tháng trước ngày biện pháp tự vệ đó hết
hiệu lực.
2. Các thủ tục về điều tra, công bố, thông báo
quy định tại Chương II của Pháp lệnh này được
áp dụng tương ứng cho việc gia hạn áp dụng biện
pháp tự vệ.
3. Mức độ áp dụng biện pháp tự vệ trong thời
gian gia hạn không được cao hơn mức độ áp dụng
trong thời gian ngay trước đó.
Điều 27. Quy định về việc tái
áp dụng biện pháp tự vệ Một biện pháp tự vệ đã được áp dụng đối
với một loại hàng hoá có thể được áp dụng
trở lại đối với loại hàng hoá đó theo các quy
định sau đây: 1. Trong trường hợp một biện pháp tự vệ đã được
áp dụng đối với một loại hàng hoá trên 4 năm
thì chỉ được tái áp dụng đối với loại hàng
hoá đó sau một thời gian bằng nửa thời gian đó.
2. Trong trường hợp một biện pháp tự vệ được
áp dụng đối với một loại hàng hoá từ 6 tháng
đến 4 năm thì chỉ được tái áp dụng đối với
loại hàng hoá đó sau 2 năm.
3. Trong trường hợp một biện pháp tự vệ được
áp dụng đối với một loại hàng hoá có thời hạn
dưới 6 tháng thì có thể tái áp dụng biện pháp
tự vệ đó khi có đủ các điều kiện sau đây: a) ít nhất sau 1 năm, kể từ ngày áp dụng biện
pháp tự vệ trước đó;
b) Biện pháp tự vệ đã được áp dụng đối với
loại hàng hóa không quá 2 lần trong thời gian 5 năm
trước ngày tái áp dụng biện pháp tự vệ.
4. Việc tái áp dụng một biện pháp tự vệ đối
với một loại hàng hoá phải được thực hiện
theo các thủ tục như khi biện pháp này được áp
dụng lần đầu tiên.
Điều 28. Nội dung quản lý nhà
nước về áp dụng các biện pháp tự vệ Nội dung quản lý nhà nước về áp dụng các biện
pháp tự vệ bao gồm: 1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy
phạm pháp luật về áp dụng các biện pháp tự vệ;
2. Tổ chức thực hiện các biện pháp tự vệ;
3. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các chính
sách có liên quan đến việc áp dụng các biện pháp
tự vệ;
4. Tiến hành điều tra để áp dụng các biện pháp
tự vệ;
5. Tổ chức và tiến hành tham vấn với các bên liên
quan;
6. Quyết định áp dụng hoặc không áp dụng các
biện pháp tự vệ;
7. Hướng dẫn áp dụng các biện pháp tự vệ;
8. Tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin
liên quan đến việc áp dụng các biện pháp tự vệ;
9. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về
áp dụng các biện pháp tự vệ;
10. Giải quyết khiếu nại và xử lý vi phạm pháp
luật về áp dụng các biện pháp tự vệ.
Điều 29. Cơ quan quản lý nhà nước
về áp dụng các biện pháp tự vệ 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về
áp dụng các biện pháp tự vệ.
2. Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính
phủ thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước
về áp dụng các biện pháp tự vệ; tổ chức thực
hiện việc áp dụng các biện pháp tự vệ trên cơ
sở tham khảo ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ
có liên quan.
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp
với Bộ Thương mại trong việc thực hiện quản
lý áp dụng các biện pháp tự vệ.
Điều 30. Khiếu nại 1. Các khiếu nại liên quan đến quá trình điều
tra và áp dụng các biện pháp tự vệ phải được
gửi đến Bộ Thương mại.
2. Bộ Thương mại có trách nhiệm giải quyết khiếu
nại trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
đơn khiếu nại; trường hợp đặc biệt, thời hạn
này có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày.
3. Trong trường hợp hết thời hạn quy định tại
khoản 2 Điều này mà Bộ Thương mại chưa giải
quyết khiếu nại hoặc tổ chức, cá nhân khiếu
nại không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại của Bộ Thương mại, thì tổ chức, cá
nhân đó có quyền khởi kiện tại Toà án theo quy
định của pháp luật.
Điều 31. Giải quyết tranh chấp
và xử lý vi phạm Việc giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm được
thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam,
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia
nhập.
Điều 32. Hiệu lực thi hành Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
9 năm 2002.
Điều 33. Hướng dẫn thi hành Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn việc
thi hành Pháp lệnh này. |