|
Điều 1. Mục đích của công ước
Mục đích của Công ước này là thúc đẩy hợp
tác nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả
hơn với các hoạt động tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia.
Điều 2. Giải thích thuật ngữ Một số thuật ngữ sử dụng trong Công ước này
được hiểu như sau: a) "Nhóm tội phạm có tổ chức" là một
nhóm đã tồn tại được một thời gian và có cơ
cấu bao gồm từ ba người trở lên, cùng phối hợp
hành động nhằm thực hiện một hoặc nhiều tội
phạm nghiêm trọng hoặc các hành vi phạm tội theo
quy định tại Công ước này, để trực tiếp hoặc
gián tiếp ...
b) thành không ngẫu nhiên để thực hiện tức thì
một hành vi phạm tội, trong đó các thành viên không
nhất thiết phải được xác định rõ vai trò; nhóm
người này cũng không nhất thiết phải duy trì ổn
định thành phần hoặc phải có cơ cấu tổ chức
chặt chẽ;
c) "Tài sản" bao gồm tài sản hữu hình và
vô hình, động sản và bất động sản, vật chất
và phi vật chất cũng như toàn bộ các văn bản pháp
lý hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý chứng nhận
quyền sở hữu và các quyền có liên quan đối với
những
tài sản đó;
d) "Tài sản do phạm tội mà có" là tài sản
có nguồn gốc trực tiếp hay gián tiếp từ một
hành vi tội phạm hoặc thu được một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp từ việc thực hiện hành vi
phạm tội;
e) "Tạm giữ" hay "kê biên" có nghĩa
là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định
đoạt hoặc chuyển dịch tài sản. Các thuật ngữ
trên còn chỉ việc tạm thời đảm nhận việc giám
sát, quản lý tài sản theo quyết định của tòa
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;
f) "Tịch thu" là việc vĩnh viễn tước bỏ
quyền sở hữu đối với tài sản theo quyết định
của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;
g) "Tội phạm chính" là tất cả những tội
phạm làm phát sinh những tài sản có thể trở thành
đối tượng của một trong những hành vi phạm tội
được quy định tại điều 6 của Công ước này;
h) "Giao hàng có kiểm soát" là một biện
pháp nghiệp vụ cảnh sát theo đó các cơ quan có
thẩm quyền cho phép một khối lượng hàng hoá bất
hợp pháp hoặc có dấu hiệu là bất hợp pháp được
đi qua lãnh thổ của một hoặc nhiều quốc gia nhưng
có sự theo dõi, giám sát để điều tra một hành
vi phạm tội và xác định những đối tượng có
liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội
đó;
i) "Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực"
là mọi tổ chức do những quốc gia có chủ quyền
trong một khu vực nhất định thành lập nên và được
các quốc gia thành viên đó trao cho thẩm quyền đối
với những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh
của Công ước này, được uỷ quyền hợp lệ theo
đúng các thủ tục nội bộ của tổ chức đó để
ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập
Công ước này; thuật ngữ " quốc gia thành viên"
được sử dụng trong Công ước này cũng được
hiểu là bao gồm cả những tổ chức hội nhập kinh
tế khu vực đó trong phạm vi thẩm quyền của chúng.
Điều 3. Phạm vi áp dụng 1. Trừ trường hợp có quy định khác, Công ước
này được áp dụng đối với công tác ngăn ngừa,
điều tra, truy tố liên quan đến : a) Các tội phạm được quy định tại các điều
5, 6, 8 và 23 của Công ước này; và
b) Các tội phạm nghiêm trọng được định nghĩa
tại điều 2 của Công ước này nếu những tội
phạm đó có tính chất xuyên quốc gia hoặc có liên
quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức.
2. Theo quy định tại khoản 1 điều này, tội phạm
có tính chất xuyên quốc gia là tội phạm: a) Được thực hiện tại hơn một quốc gia
b) Được thực hiện tại một quốc gia nhưng đã
được chuẩn bị, lập kế hoạch, chỉ đạo hoặc
điều khiển một phần chủ yếu tại một quốc
gia khác;
c) Được thực hiện tại một quốc gia nhưng liên
quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia
những hoạt động tội phạm tại hơn một quốc
gia; hoặc
d) Được thực hiện tại một quốc gia nhưng gây
ảnh hưởng lớn tại một quốc gia khác.
Điều 4. Bảo vệ chủ quyền 1. Các quốc gia thành viên của Công ước thực hiện
các nghĩa vụ của mình theo quy định tại Công ước
này sao cho phù hợp với những nguyên tắc bình đẳng
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc
gia cũng như với nguyên tắc không can thiệp vào công
việc nội bộ của các quốc gia khác.
2. Công ước này không có quy định nào cho phép một
quốc gia thành viên được thực thi trên lãnh thổ
quốc gia khác những thẩm quyền và chức năng chỉ
dành riêng cho các cơ quan quyền lực của quốc gia
khác đó theo quy định của pháp luật quốc gia.
Điều 5. Quy định thành tội phạm
hình sự việc tham gia vào nhóm tội phạm có tổ
chức 1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật
và các biện pháp cần thiết khác để quy định
thành tội phạm hình sự những hành vi sau đây nếu
những hành vi này được thực hiện một cách cố
ý : a) Một hoặc cả hai hành vi sau đây có thể bị quy
định thành tội phạm hình sự với tính chất là
những tội phạm riêng biệt với tội phạm chưa
đạt hoặc tội phạm hoàn thành:
i) Thoả thuận với một hoặc nhiều người khác
để thực hiện một tội phạm nghiêm trọng nhằm
mục đích liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến
việc đạt được lợi ích tài chính hoặc một khoản
lợi vật chất khác và liên quan đến một hành vi
do một trong số những người tham gia thực hiện
theo thoả thuận hoặc liên quan đến một nhóm tội
phạm có tổ chức, nếu pháp luật quốc gia có quy
định như vậy;
ii) ii) Hành vi của một người nhận thức được
hoặc mục đích và hoạt động tội phạm nói chung
của một nhóm tội phạm có tổ chức hoặc ý định
phạm tội của nhóm đó nhưng vẫn tham gia tích cực
vào :
b) Những hoạt động tội phạm của nhóm tội phạm
có tổ chức;
c) Những hoạt động khác của nhóm tội phạm có
tổ chức với nhận thức rằng sự tham gia của mình
sẽ góp phần thực hiện mục đích phạm tội nói
trên;
d) Tổ chức, chỉ đạo, hỗ trợ, khuyến khích, tạo
điều kiện hoặc xúi giục việc thực hiện tội
phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm
có tổ chức.
2. Sự nhận thức, ý định, mục đích, động cơ
hoặc thỏa thuận được đề cập tại khoản 1 điều
này có thể được suy ra từ những tình tiết khách
quan liên quan đến tội phạm.
3. Các quốc gia thành viên mà nội luật quy định
phải có yếu tố liên quan đến nhóm tội phạm có
tổ chức khi xác định các hành vi phạm tội quy
định tại khoản 1 a) i) điều này đảm bảo rằng
nội luật của họ điều chỉnh tất cả các tội
phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm
có tổ chức. Những quốc gia thành viên này cũng
như các quốc gia mà nội luật quy định phải có
hành vi xúc tiến thỏa thuận khi xác định các hành
vi phạm tội quy định tại khoản 1 a) i) điều này
sẽ thông báo về vấn đề trên cho Tổng thư ký
Liên Hợp Quốc khi các quốc gia ddó ký hoặc lưu
chiểu văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê
duyệt hoặc gia nhập Công ước.
Điều 6. Quy định thành tội phạm
hình sự hành vi hợp pháp hoá tài sản do phạm
tội mà có 1. Trên cơ sở phù hợp với những nguyên tắc cơ
bản của pháp luật quốc gia, mỗi quốc gia thành
viên sẽ ban hành pháp luật và các biện pháp cần
thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự
những hành vi sau đây nếu những hành vi này được
thực hiện một cách cố ý: a) i) Chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản mặc
dù biết rằng tài sản đó là do phạm tội mà có
nhằm mục đích che đậy hoặc che dấu tính chất
bất hợp pháp đích thực của tài sản hoặc nhằm
tiếp tay cho người có liên quan đến việc thực
hiện tội phạm chính lẩn tránh những hệ qủa pháp
lý của hành vi phạm tội ; ii) Che đậy hoặc làm
thay đổi bản chất đích thực, nguồn gốc, nơi
cất giữ, việc định đoạt, vận chuyển của tài
sản hoặc quyền sở hữu hay những quyền khác có
liên quan đến tài sản mặc dù biết rằng tài sản
đó là do phạm tội mà có;
b) Không trái với những nguyên tắc cơ bản của
hệ thống pháp luật quốc gia, mỗi quốc gia thành
viên có thể quy định thành tội phạm hình sự các
hành vi sau : i) Mua, cất giữ hoặc sử dụng tài sản
mặc dù vào thời điểm nhận được tài sản biết
rằng tài sản là do phạm tội mà có; ii) Tham gia
thực hiện một trong những hành vi tội phạm theo
quy định tại điều này hoặc tham gia vào mọi hình
thức liên kết, thỏa thuận, ý đồ hoặc âm mưu
phạm tội bằng cách hỗ trợ, xúi giục, tạo điều
kiện và hướng dẫn thực hiện hành vi tội phạm
đó.
2. Về việc áp dụng các quy định tại khoản 1 điều
này: a) Mỗi quốc gia thành viên cố gắng áp dụng ở
phạm vi rộng nhất các quy định tại khoản 1 điều
này đối với các tội phạm chính;
b) Mỗi quốc gia thành viên đưa vào danh sách tội
phạm chính tất cả các tội phạm nghiêm trọng theo
quy định tại điều 2 của Công ước này cũng như
các tội phạm theo quy định tại các điều 5, 8 và
23. Đối với các quốc gia thành viên mà nội luật
có quy định rõ một danh sách tội phạm chính cụ
thể thì ít nhất các quốc gia này cũng phải ghi
vào trong danh sách đó một tập hợp đầy đủ các
tội phạm có liên quan đến các nhóm tội phạm có
tổ chức;
c) Những tội phạm chính theo quy định tại điểm
b) bao gồm những tội phạm được thực hiện ở
bên trong và bên ngoài lãnh thổ thuộc thẩm quyền
quản lý của quốc gia thành viên có liên quan. Tuy
nhiên, một hành vi phạm tội được thực hiện ở
bên ngoài lãnh thổ thuộc thẩm quyền quản lý của
một quốc gia thành viên chỉ có thể cấu thành hành
vi phạm tội chính nếu như hành vi tương tự được
quy định là tội phạm hình sự trong pháp luật của
quốc gia nơi hành vi đó được thực hiện và đồng
thời cũng được quy định là tội phạm hình sự
trong pháp luật của quốc gia thành viên áp dụng
điều này;
d) Mỗi quốc gia thành viên chuyển cho Tổng thư ký
Liên Hợp Quốc bản sao của các đạo luật quốc
gia quy định việc áp dụng điều này và bản sao
của mọi sửa đổi bổ sung liên quan đến các đạo
luật đó hoặc bản miêu tả chi tiết các đạo luật
đó và những sửa đổi bổ sung về sau;
e) Trong trường hợp các nguyên tắc cơ bản trong
nội luật của một quốc gia thành viên đòi hỏi,
có thể quy định rằng những hành vi phạm tội nêu
tại khoản 1 điều này không được áp dụng đối
với những người đã phạm vào tội phạm chính;
f) Những yếu tố cấu thành hành vi phạm tội theo
quy định tại khoản 1 điều này như sự nhận thức
về tội phạm, ý định phạm tội và động cơ phạm
tội là những yếu tố có thể được suy ra từ
những tình tiết khách quan liên quan đến tội phạm.
Điều 7. Các biện pháp chống rửa
tiền 1. Mỗi quốc gia thành viên: a) Trong phạm vi thẩm quyền của mình, thiết lập
một cơ chế quản lý và giám sát tổng thể trong
nước đối với các ngân hàng và các định chế
tài chính phi ngân hàng, cũng như đối với các cơ
quan tổ chức khác dễ liên quan đến việc rửa tiền
nếu cần, nhằm phòng ngừa và phát hiện mọi hình
thức rửa tiền. Cơ chế quản lý và giám sát đó
phải tập trung vào việc nhận dạng khách hàng, đăng
ký giao dịch và khai báo các giao dịch có nghi vấn;
b) Không trái với các quy định tại các điều 18
và 27 của Công ước này, đảm bảo cho các cơ quan
hành chính, điều tiết, điều tra, trấn áp tội
phạm và các cơ quan chống rửa tiền khác (kể cả
các cơ quan tư pháp nếu pháp luật quốc gia có quy
định) có thể hợp tác và trao đổi thông tin với
nhau ở cấp quốc gia và quốc tế theo các điều
kiện do pháp luật quốc gia quy định. Với mục tiêu
đó, mỗi quốc gia thành viên nghiên cứu thành lập
một cơ quan thông tin tài chính có nhiệm vụ như
một trung tâm quốc gia chuyên thu thập, phân tích
và phổ biến những thông tin có thể có liên quan
đến các hoạt động rửa tiền.
2. Các quốc gia thành viên sẽ cân nhắc áp dụng
những giải pháp khả thi để phát hiện, kiểm soát
việc chuyển tiền mặt và các giấy tờ có giá trị
thanh toán qua biên giới nhưng phải đảm bảo cho
phép sử dụng thông tin đúng mục đích và tuyệt
đối không làm cản trở đến việc lưu thông các
luồng vốn hợp pháp. Các biện pháp này có thể
bao gồm cả việc ra quy định buộc các cá nhân và
doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm
quyền trong trường hợp chuyển một số lượng lớn
tiền mặt và một số loại giấy tờ có giá trị
thanh toán qua biên giới .
3. Không trái với bất kỳ điều khoản nào của
Công ước, khi thiết lập cơ chế quản lý và giám
sát quốc gia theo quy định tại điều này, các quốc
gia thành viên cần căn cứ vào những sáng kiến thích
hợp về chông rửa tiền của các tổ chức khu vực,
liên khu vực và các tổ chức đa phương, coi đó
là những sáng kiến mang tính phương hướng.
4. Các quốc gia thành viên cố gắng phát triển và
thúc đẩy hợp tác quốc tế, hợp tác khu vực và
tiểu khu vực cũng như hợp tác song phương giữa
các cơ quan tư pháp, các cơ quan điều tra và trấn
áp tội phạm và các cơ quan quản lý tài chính nhằm
đấu tranh chống rửa tiền.
Điều 8. Quy định thành tội phạm
hình sự các hành vi tham nhũng 1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật
và các biện pháp cần thiết khác để quy định
thành tội phạm hình sự những hành vi sau đây nếu
những hành vi này được thực hiện một cách cố
ý: a) Hứa hẹn trao tặng, trực tiếp hay gián tiếp tặng
hoặc dành một lợi ích không chính đáng cho bản
thân một nhân viên công quyền hoặc cho bất cứ
một người hoặc thực thể nào khác nhằm mục đích
để nhân viên công quyền đó thực hiện hoặc từ
chối thực hiện một hành vi trong khi thi hành công
vụ;
b) Việc một nhân viên công quyền trực tiếp hoặc
gián tiếp yêu cầu hay chấp nhận một lợi ích không
chính đáng cho bản thân mình hoặc cho bất kỳ người
hay thực thể nào khác để thực hiện hoặc từ
chối thực hiện một hành vi trong khi thi hành công
vụ.
2. Mỗi quốc gia nghiên cứu ban hành pháp luật và
các biện pháp cần thiết khác để quy định thành
tội phạm hình sự những hành vi theo quy định tại
khoản 1 điều này khi những hành vi đó có liên quan
đến một nhân viên công quyền nước ngoài hoặc
một cán bộ của tổ chức quốc tế. Tương tự
như vậy, mỗi quốc gia thành viên nghiên cứu quy
định thành tội phạm hành sự đối với các loại
hành vi tham nhũng khác.
3. Mỗi quốc gia thành viên cũng sẽ áp dụng các
biện pháp cần thiết để quy định thành tội phạm
hình sự đối với những hành vi đồng phạm với
một trong những tội phạm theo quy định tại điều
này.
4. Tại khoản 1 điều này và tại điều 9 của Công
ước này, thuật ngữ "nhân viên công quyền"
chỉ một nhân viên nhà nước hoặc một người thực
hiện công vụ, theo đúng ý nghĩa của thuật ngữ
này trong pháp luật quốc gia và pháp luật hình sự
của quốc gia thành viên nơi mà người có liên quan
đang thực thi nhiệm vụ.
Điều 9. Các biện pháp chống tham
nhũng 1. Ngoài những biện pháp được nêu tại điều 8
Công ước này, mỗi quốc gia thành viên sẽ đưa
ra sao cho phù hợp với hoàn cảnh và quy định của
hệ thống pháp luật quốc gia những quy định pháp
luật, những biện pháp hành chính hoặc những biện
pháp có hiệu quả khác để phát huy sự liêm khiết
và ngăn ngừa, phát hiện cũng như trừng trị những
hành vi tham nhũng của các nhân viên công quyền.
2. Mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng những biện
pháp cần thiết để đảm bảo cho các cơ quan quyền
lực của mình có thể hoạt động hiệu quả trong
việc ngăn ngừa, phát hiện và trừng trị những
hành vi tham nhũng của các nhân viên công quyền, bảo
gồm cả biện pháp đảm bảo sự độc lập cần
thiết của các cơ quan đó để chống lại mọi tác
động sai trái đến hoạt động của các cơ quan
này.
Điều 10. Trách nhiệm pháp lý của
pháp nhân 1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành những biện
pháp cần thiết phù hợp với những nguyên tắc cơ
bản của pháp luật quốc gia để xác định trách
nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc tham gia vào
các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội
phạm có tổ chức và trong việc thực hiện những
hành vi phạm tội theo quy định tại các điều 5,
6, 8 và 23 của Công ước này.
2. Với điều kiện không trái với các nguyên tắc
pháp luật của quốc gia thành viên, pháp nhân có
thể phải chịu trách nhiệm hình sự, dân sự hoặc
hành chính.
3. Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân không ảnh hưởng
đến trách nhiệm hình sự của những thể nhân đã
thực hiện hành vi phạm tội.
4. Đặc biệt là mỗi quốc gia thành viên phải đảm
bảo áp dụng đối với những pháp nhân bị quy kết
trách nhiệm pháp lý theo quy định tại điều này
những biện pháp chế tài hiệu quả, tương ứng
với tính chất và mức độ của tội phạm và đủ
sức răn đe, có thể là chế tài hình sự , chế
tài phi hình sự hoặc phạt tiền.
Điều 11. Truy tố trước pháp luật,
xét xử và chế tài 1. Mỗi quốc gia thành viên đảm bảo rằng mọi hành
vi phạm tội theo quy định tại các điều 5, 6, 8,
23 của Công ước này phải bị trừng phạt tương
xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm
tội.
2. Mỗi quốc gia thành viên cố gắng đảm bảo rằng
bất cứ quyền tự do pháp lý nào theo quy định trong
nội luật của họ về việc truy tố các cá nhân
vì các hành vi phạm tội được quy định trong Công
ước này phải được thực hiện để tối đa hóa
hiệu quả của các biện pháp hành pháp đối với
những hành vi phạm tội và có tính đến sự cần
thiết phải ngăn chặn việc thực hiện những hành
vi phạm tội như vậy.
3. Đối với những tội phạm được quy định tại
các điều 5, 6, 8 và 23 của Công ước này, mỗi quốc
gia thành viên áp dụng những biện pháp thích hợp,
phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia và
trên cơ sở có tính đến quyền tự bào chữa của
đương sự nhằm đảm bảo sao cho các điều kiện
thực hiện các quyết định cho tại ngoại trong khi
chờ xét xử hoặc chờ phúc thẩm được phù hợp
với yêu cầu đảm bảo sự hiện diện của bị
cáo trong quá trình tố tụng hình sự về sau này.
4. Mỗi quốc gia thành viên đảm bảo rằng các tòa
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của quốc gia
mình ý thức được tính chất nghiêm trọng của
những tội phạm quy định tại Công ước này khi
các tòa án hoặc cơ quan đó cân nhắc tạm tha sớm
hoặc phóng thích có điều kiện những người bị
kết án về những tội phạm này.
5. Nếu cần thiết, mỗi quốc gia thành viên sẽ quy
định trong nội luật một khung thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự kéo dài. Trong khung thời hiệu
này, bất cứ tội phạm nào theo quy định của Công
ước này đều có thể bị truy cứu. Thời hiệu
này được quy định lâu hơn nếu người bị tình
nghi thực hiện hành vi phạm tội lẩn tránh pháp
luật.
6. Công ước này không có quy định nào trái với
nguyên tắc theo đó việc xác định các tội phạm
theo quy định tại Công ước này cũng như việc xác
định các phương tiện bào chữa về mặt pháp lý
có thể áp dụng và các nguyên tắc pháp lý khác
điều chỉnh tính hợp pháp của việc quy định thành
tội phạm hình sự đều phải tuân theo pháp luật
quốc gia của quốc gia thành viên. Tương tự như
vậy, Công ước này cũng không có quy định nào trái
với nguyên tắc theo đó việc truy tố và trừng trị
những tội phạm trên phải được thực hiện theo
quy định của pháp luật của quốc gia thành viên
đó.
Điều 12. Tịch thu và tạm giữ 1. Trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc gia và trong
khả năng lớn nhất có thể, các quốc gia thành viên
sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết để cho
phép tịch thu : a) Tài sản do phạm tội mà có bắt nguồn từ những
hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước này
hoặc các tài sản có giá trị tương đương với
giá trị của tài sản do phạm tội mà có.
b) Tài sản, trang thiết bị và các công cụ khác
được sử dụng hoặc được dự định sử dụng
khi thực hiện các hành vi phạm tội được quy định
trong Công ước này.
2. Các quốc gia thành viên sẽ áp dụng những biện
pháp cần thiết cho việc xác định, định vị, thu
giữ hoặc kê biên tất cả những gì được nêu
tại khoản 1 điều này nhằm phục vụ cho việc tịch
thu nếu cần.
3. Nếu một phần hoặc toàn bộ tài sản do phạm
tội mà có đã bị chuyển hoá hoặc chuyển đổi
thành những tài sản khác thì có thể áp dụng những
biện pháp theo quy định tại điều này đối với
những tài sản khác đó như đối với tài sản do
phạm tội mà có.
4. Trong trường hợp tài sản do phạm tội mà có
đã bị gộp lẫn với những tài sản có nguồn gốc
hợp pháp thì trên cơ sở không làm ảnh hưởng đến
quyền thu giữ và kê biên, những tài sản này có
thể bị tịch thu phần tương đương với phần giá
trị ước tính của tài sản do phạm tội mà có
đã được gộp lẫn trong đó.
5. Những khoản thu nhập hoặc các phần lợi ích
khác có được từ tài sản do phạm tội mà có,
từ tài sản được chuyển hoá hoặc chuyển đổi
thành từ tài sản do phạm tội mà có hoặc từ tài
sản trong đó tài sản do phạm tội mà có đã bị
gộp lẫn cũng có thể bị áp dụng những biện pháp
theo quy định tại điều này theo cùng cách thức
và trong cùng chừng mực như đối với tài sản do
phạm tội mà có.
6. Theo quy định tại điều này và điều 13 của
Công ước này, mỗi quốc gia thành viên sẽ trao cho
các tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác
của quốc gia mình quyền ra lệnh giao nộp hay thu
giữ các tài liệu về ngân hàng, tài chính, hoặc
thương mại. Các quốc gia thành viên không được
từ chối thực hiện các quy định tại khoản này
vì lý do đảm bảo bí mật ngân hàng.
7. Các quốc gia thành viên có thể xem xét khả năng
yêu cầu bị cáo chứng minh nguồn gốc hợp pháp
của tài sản bị nghi là do phạm tội mà có hoặc
những tài sản khác có thể bị tịch thu, trong chừng
mực phù hợp với các nguyên tắc pháp luật quốc
gia và với tính chất của thủ tục tư pháp và các
thủ tục khác.
8. Trong bất cứ trường hợp nào, việc giải thích
các quy định tại điều này không được làm phương
hại đến quyền của bên thứ ba ngay tình.
9. Điều này không có quy định nào làm ảnh hưởng
đến nguyên tắc theo đó việc xác định và thực
thi các biện pháp theo quy định tại điều này phải
tuân theo và phù hợp với các quy định trong nội
luật của mỗi quốc gia thành viên.
Điều 13. Hợp tác quốc tế trong
việc tịch thu tài sản 1. Quốc gia thành viên khi nhận được yêu cầu của
một quốc gia thành viên khác có quyền xét xử đối
với một hành vi phạm tội theo quy định tại Công
ước này về việc tịch thu tài sản do phạm tội
mà có, tài sản, trang thiết bị và những công cụ
khác được nói đến tại khoản 2 điều 12 của
Công ước này nằm trên lãnh thổ của quốc gia mình
sẽ cố gắng hết sức trong phạm vi hệ thống pháp
luật trong nước cho phép để : a) Chuyển yêu cầu này đến các cơ quan có thẩm
quyền của quốc gia mình để phát lệnh tịch thu
và để thực hiện lệnh đó một khi nó được ban
ra; hoặc :
b) Chuyển lệnh tịch thu của tòa án nằm trên lãnh
thổ quốc gia có yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền
để thực hiện phù hợp với quy định tại khoản
1 điều 12 Công ước này nếu lệnh tịch thu đó
liên quan đến tài sản do phạm tội mà có, tài sản,
trang thiết bị và các công cụ khác được nói tới
tại khoản 1 điều 12 hiện nằm trên lãnh thổ của
quốc gia thành viên được yêu cầu.
2. Khi thực hiện yêu cầu của một quốc gia thành
viên khác có quyền tài phán đối với hành vi phạm
tội được Công ước này điều chỉnh, quốc gia
thành viên được yêu cầu phải tiến hành các biện
pháp xác định, truy nguyên và tạm giữ hoặc kê
biên tài sản do phạm tội mà có, tài sản, trang
thiết bị và các công cụ khác được nêu tại điều
khoản 1 điều 12 của Công ước này nhằm thực hiện
lệnh tịch thu do chính quốc gia thành viên có yêu
cầu đưa ra hoặc do quốc gia thành viên được yêu
cầu đưa ra theo lời yêu cầu quy định tại khoản
1 điều này.
3. Các quy định tại điều 18 Công ước này được
áp dụng cho điều này với những sửa đổi cần
thiết. Ngoài những thông tin được quy định tại
khoản 15 điều 18, các yêu cầu được đưa ra theo
quy định tại điều này còn bao gồm : a) Một bản mô tả về tài sản sẽ bị tịch thu
và một bản trình bày về các sự kiện ddược dùng
làm căn cứ cho quốc gia đưa ra yêu cầu, để quốc
gia thành viên được yêu cầu có đủ cơ sở cho
phát lệnh tịch thu theo quy định của nội luật,
trong trường hợp yêu cầu đó thuộc khoản 1, a)
điều này.
b) Một bản sao lệnh tịch thu của quốc gia thành
viên có yêu cầu, được chấp nhận là có giá trị
pháp lý mà căn cứ vào đó quốc gia thành viên đưa
ra yêu cầu, một bản trình bày về các tình tiết
và thông tin liên quan đến yêu cầu thực hiện lệnh
tịch thu, trong trường hợp yêu cầu đó thuộc khoản
1, b) điều này.
c) Một bản trình bày về các sự kiện làm căn cứ
cho quốc gia thành viên đưa ra yêu cầu và một bản
trình bày về các biện pháp được đề nghị tiến
hành, trong trường hợp yêu cầu thuộc khoản 2 điều
này.
4. Các quyết định hay biện pháp theo quy định tại
khoản 1 và 2 của điều này sẽ được quốc gia
thành viên được yêu cầu đưa ra sao cho phù hợp
với nội luật và tuân thủ theo các quy định của
nội luật quốc gia đó cũng như phù hợp với những
nguyên tắc về thủ tục của quốc gia đó hay bất
cứ điều ước, hiệp định, thoả thuận song phương
hay đa phương nào mà quốc gia đó phải tuân theo
trong quan hệ với quốc gia thành viên có yêu cầu.
5. Mỗi quốc gia thành viên cung cấp cho Tổng thư
ký Liên Hợp Quốc bản sao các luật và quy định
áp dụng điều này và bất cứ sửa đổi nào đối
với những luật và quy định này hoặc các văn bản
hướng dẫn.
6. Nếu một quốc gia thành viên quyết định thực
hiện các biện pháp nói đến tại khoản 1 và 2 của
điều này với điều kiện phải có điều ước
quốc tế liên quan điều chỉnh thì quốc gia thành
viên đó sẽ coi Công ước này là cơ sở cần và
đủ cho điều kiện trên.
7. Quốc gia thành viên có thể từ chối hợp tác
theo quy định tại điều này nếu hành vi phạm tội
mà yêu cầu hợp tác đề cập không phải là một
hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh.
8. Trong bất kỳ trường hợp nào, việc giải thích
các quy định của điều này không được làm phương
hại đến quyền của bên thứ ba ngay tình.
9. Các quốc gia thành viên sẽ nghiên cứu ký kết
các điều ước, hiệp ước hiệp định hay thỏa
thuận song phương và đa phương để tăng cường
hiệu quả của hợp tác quốc tế được thực hiện
theo quy định của điều này.
Điều 14. Xử lý tài sản do phạm
tội mà có hoặc tài sản bị tịch thu 1. Tài sản do phạm tội mà có hay tài sản mà một
quốc gia thành viên tịch thu theo điều 12 hoặc đieèu
13 khoản 1 của Công ước này sẽ do quốc gia đó
xử lý phù hợp với nội luật và các thủ tục
hành chính của quốc gia này.
2. Khi thực hiện yêu cầu của một quốc gia thành
viên khác theo quy định tại điều 13 Công ước này,
các quốc gia thành viên, trong chứng mực nội luật
cho phép và nếu được đề nghị, sẽ ưu tiên xem
xét việc trao trả lại tài sản do phạm tội mà
có hay tài sản bị tịch thu cho quốc gia thành viên
yêu cầu để quốc gia này có thể đền bù cho các
nạn nhân hoặc trả lại những tài sản đó cho chủ
sở hữu hợp pháp của chúng.
3. Khi thực hiện yêu cầu của một quốc gia thành
viên khác theo quy định tại các điều 12 và 13 Công
ước này, một quốc gia thành viên có thể chú trọng
xem xét ký kết các hiệp định hay thoả thuận về
: a) Nộp giá trị của tài sản do phạm tội mà có
hay giá trị các tài sản tịch thu được hoặc tòan
phần hay một phần số tiền có được từ việc
bán các tài sản đó vào tài khoản được mở theo
quy định tại điều 32, khonả 2, c) cura Công ước
này cho các có quan liên Chính phủ chuyên trách chống
tội phạm có tổ chức;
b) Chia xẻ với các quốc gia khác, đối với tất
cả các vụ việc hay theo từng vụ việc, tài sản
do phạm tội mà có hoặc tài sản hay những khoản
tiền có được từ việc bán những tài sản đó
phù hợp với quy định của nội luật và các thủ
tục hành chính của quốc gia mình.
Điều 15. Thẩm quyền 1. Mỗi quốc gia thành viên áp dụng những biện pháp
cần thiết để thiết lập thẩm quyền của mình
đối với những hành vi phạm tội theo quy định
taị các điều 5, 6, 8, và 23 của Công ước này trong
những trường hợp sau đây: a) Hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh
thổ quốc gia thành viên đó; hoặc:
b) Hành vi phạm tội được thực hiện trên boong
tàu mang cờ của quốc gia thành viên đó hoặc trên
máy bay đăng ký theo luật của quốc gia thành viên
đó vào thời điểm xảy ra hành vi phạm tội.
2. Không trái với các quy định tại điều 4 Công
ước này, một quốc gia thành viên cũng có thể thiết
lập thẩm quyền của mình đối với bất kỳ hành
vi phạm tội nào trong số các hành vi phạm tội quy
định tại các điều 5, 6, 8, và 23 khi: a) Hành vi phạm tội được thực hiện chống lại
một công dân của quốc gia thành viên đó;
b) Hành vi phạm tội do một công dân của quốc gia
thành viên đó hay một người không quốc tịch thường
trú trên lãnh thổ của quốc gia đó thực hiện;
hoặc
c) Hành vi phạm tội là:
i) Một trong những hành vi được quy định tại khoản
1 điều 5 của Công ước này và được thực hiện
bên ngoài lãnh thổ của quốc gia đó nhằm thực
hiện một tội phạm nghiêm trọng trong lãnh thổ
của quốc gia đó;
ii) Một trong những hành vi được quy định tại
điều 6, khoản 1, b), ii) Công ước này và được
thực hiện bên ngoài lãnh thổ quốc gia đó nhằm
thực hiện một hành vi phạm tội theo quy định tại
điều 6, khoản 1 điểm a) i) hoặc ii) hay điểm b)
i) Công ước này trong lãnh thổ quốc gia đó.
3. Theo quy định tại điều 16, khoản 10 Công ước
này, mỗi quốc gia thành viên sẽ aps dụng những
biện pháp cần thiết để thiết lập thẩm quyền
của mình đối với những hành vi phạm tội được
Công ước này điều chỉnh khi người bị tình nghi
là tội phạm có mặt trên lãnh thổ quốc gia đó
và quốc gia đó không dẫn độ người này với lý
do người này là công dân của quốc gia đó.
4. Mỗi quốc gia thành viên cũng có thể áp dụng
những biện pháp cần thiết để thiết lập thẩm
quyền của mình đối với những hành vi phạm tội
được Công ước này điều chỉnh khi người bị
tình nghi là tội phạm có mặt trên lãnh thổ quốc
gia đó và quốc gia đó không dẫn độ người này.
5. Nếu một quốc gia thành viên thực hiện thẩm
quyền của mình theo khoản 1 hoặc 2 của điều này
đã được thông báo hoặc bằng cách nào đó biết
được rằng một hay nhiều quốc gia thành viên khác
đang tiến hành việc điều tra, truy tố hay xét xử
đối với cùng hành vi đó thì các cơ quan có thẩm
quyền của những quốc gia thành viên này sẽ tham
khảo với nhau theo những điều kiện thích hợp để
phối hợp hoạt động.
6. Không làm phương hại đến các chuẩn mực của
pháp luật quốc tế chung, Công ước này không loại
trừ việc thực hiện quyền tài phán hình sự của
một quốc gia thành viên phù hợp với pháp luật
của quốc gia đó.
Điều 16. Dẫn độ 1.Điều này được áp dụng đối với các hành
vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh hoặc
đối với những trường hợp khi một nhóm tội phạm
có tổ chức liên quan đến một hành vi phạm tội
được đề cập đến trong điều 3 khoản 1 a) hoặc
1 b) và người là đối tượng của yêu cầu dẫn
độ đang sống trên lãnh thổ quốc gia thành viên
được yêu cầu, với điều kiện là hành vi phạm
tội dẫn đến việc dẫn độ đáng bị trừng phạt
theo nội luật của cả quốc gia yêu cầu lẫn quốc
gia được yêu cầu.
2. Nếu nội dung yêu cầu dẫn độ bao gồm nhiều
tội phạm nghiêm trọng riêng biệt với nhau trong
đó có một số tội không được Công ước này
điều chỉnh thì quốc gia thành viên được yêu cầu
cũng có thể áp dụng điều này đối với những
tội đó.
3. Trong bất cứ điều ước dẫn độ tội phạm
nào đã có giữa các quốc gia thành viên, mỗi hành
vi phạm tội là đối tượng áp dụng của điều
này cũng sẽ đương nhiên được coi là hành vi mà
người thực hiện nó có thể bị dẫn độ. Các
quốc gia thành viên cam kết quy định những hành
vi phạm tội này thành những hành vi phạm tội mà
người thực hiện có thể bị dẫn độ trong mọi
điều ước về dẫn độ sẽ được ký kết giữa
các quốc gia đó.
4. Khi một quốc gia thành viên quy định việc ký
kết điều ước là điều kiện để dẫn độ nhận
được yêu cầu dẫn độ từ một quốc gia thành
viên khác mà giữa họ chưa có điều ước về dẫn
độ nào thì quốc gia thành viên được yêu cầu
có thể coi Công ước này như là cơ sở pháp lý
cho việc dẫn độ đối với bất cứ hành vi phạm
tội nào mà điều này áp dụng.
5. Các quốc gia thành viên có quy định việc ký kết
điều ước là điều kiện để dẫn độ sẽ : a) Thông báo cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, vào
thời điểm nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận,
phê duyệt hay ra nhập Công ước này, việc họ có
lấy Công ước này làm cơ sở pháp lý cho việc hợp
tác với các quốc gia khác trong lĩnh vực dẫn độ
hay không ; và
b) Cố gắng ký kết các điều ước về dẫn độ
với các quốc gia thành viên khác của Công ước
này để thực hiện điều này khi cần thiết, nếu
họ không lấy Công ước này làm cơ sở pháp lý
cho việc hợp tác dẫn độ.
6. Những quốc gia thành viên không quy định việc
dẫn độ theo điều ước sẽ cùng công nhận các
hành vi phạm tội mà điều này áp dụng là những
hành vi phạm tội mà người thực hiện chúng có
thể bị dẫn độ.
7. Việc dẫn độ phải tuân theo các điều kiện
được quy định trong nội luật của quốc gia thành
viên được yêu cầu hoặc trong các điều ước về
dẫn độ có hiệu lực, bao gồm cả những điều
kiện liên quan đến mức phạt tối thiểu được
yêu cầu để dẫn độ và những lý do vì đó quốc
gia thành viên được yêu cầu từ chối dẫn độ.
8. Trên cơ sở không trái với pháp luật quốc gia
của họ, các quốc gia thành viên sẽ cố gắng tiến
hành các thủ tục dẫn độ và đơn giản hoá các
yêu cầu về bằng chứng có liên quan đối với bất
kỳ hành vi phạm tội nào thuộc phạm vi áp dụng
của điều này.
9. Nếu quốc gia thành viên được yêu cầu nhận
thấy hoàn cảnh đòi hỏi và cấp thiết thì, theo
đề nghị của quốc gia thành viên yêu cầu và trên
cơ sở phù hợp với các quy định trong nội luật
cũng như trong các điều ước về dẫn độ mà mình
đã ký kết, có thể bắt giữ người cần được
dẫn độ hiện đang có mặt trên lãnh thổ quốc
gia mình hoặc tiến hành những biện pháp thích hợp
khác để đảm bảo sự có mặt của người này
khi thực hiện thủ tục dẫn độ.
10. Nếu một quốc gia thành viên nơi một bị can
về một tội phạm thuộc phạm vi áp dụng của điều
này đang cư trú không dẫn độ người này với lý
do rằng người đó là công dân của mình thì khi
nhận được yêu cầu của quốc gia thành viên muốn
dẫn độ, sẽ phải chuyển ngay vụ việc này cho
các cơ quan có thẩm quyền truy tố. Cơ quan có thẩm
quyền đó sẽ đưa ra quyết định của họ và tiến
hành truy tố theo một trình tự thủ tục giống như
đối với những hành vi phạm tội khác có cùng mức
độ nghiêm trọng theo quy định của pháp luật của
quốc gia thành viên nói trên. Các quốc gia thành viên
hữu quan sẽ hợp tác với nhau, đặc biệt là trong
quá lĩnh vực tố tụng và chứng cứ, để đảm
bảo truy tố có hiệu quả.
11. Khi một quốc gia thành viên, theo quy định của
nội luật, chỉ được phép dẫn độ hoặc chuyển
giao dưới bất kỳ hình thức nào khác công dân của
mình với điều kiện sau khi xét xử công dân đó
phải được trở về thi hành án tại quốc gia đó
và quốc gia thành viên yêu cầu dẫn độ cũng đồng
ý với điều kiện này cũng như những điều kiện
thích hợp khác, thì việc dẫn độ hoặc chuyển
giao có điều kiện nói trên coi như đã thỏa mãn
các nghĩa vụ quy định tại khoản 10 điều này.
12. Nếu một quốc gia từ chối yêu cầu dẫn độ
để thi hành án với lý do người bị dẫn độ là
công dân của mình thì quốc gia đó, theo đề nghị
của quốc gia yêu cầu dẫn độ và trên cơ sở phù
hợp với các quy định của nội luật nước mình,
sẽ xam xét việc cho thi hành tòan bộ hoặc một phần
còn lại của hình phạt theo bản án của quốc gia
yêu cầu.
13. Bất cứ người nào đang là đối tượng của
việc truy tố vì một trong số những hành vi phạm
tội thuộc phạm vi áp dụng của điều này sẽ được
đảm bảo sự đối sử công bằng trong mọi giai
đoạn tố tụng, kể cả việc hưởng đầy đủ
các quyền và những đảm bảo theo quy định trong
nội luật của quốc gia thành viên nơi người đó
cư trú.
14. Công ước này không có quy định nào có thể
được giải thích là áp đặt nghĩa vụ dẫn độ
nếu quốc gia thành viên được yêu cầu có đầy
đủ lý do để tin rằng yêu cầu được đưa ra là
nhằm mục đích truy tố hay trừng trị một người
vì lý do giới tính, tôn giáo, chủng tộc, quốc tịch,
nguồn gốc dân tộc hay quan điểm chính trị của
người đó hoặc rằng việc thực hiện yêu cầu
sẽ làm phương hại đến người đó vì một trong
những lý do trên.
15. các quốc gia thành viên có thể từ chối yêu
cầu dẫn độ với lý do hành vi phạm tội cũng liên
quan đến những vấn đề về thuế.
16. Trước khi từ chối dẫn độ, nếu cần thiết,
quốc gia được yêu cầu sẽ tham khảo quốc gia yêu
cầu để quốc gia này có thể bày tỏ quan điểm
và cung cấp những thông tin làm cơ sở cho những
nghi vấn của họ.
17. Các quốc gia thành viên sẽ cố gắng ký kết
các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương hoặc
đa phương để thực hiện việc dẫn độ hoặc để
dẫn độ hiệu quả hơn.
Điều 17. Chuyển gia người bị
kết án Các quốc gia thành viên có thể nghiên cứu ký kết
các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương hoặc
đa phương về việc chuyển giao vào lãnh thổ của
họ những người bị phạt tù hoặc những hình phạt
tước bỏ quyền tự do khác vì những hành vi phạm
tội được quy định tại Công ước này, để nhữung
người này có thể chấp hành xong bản án của họ
tại lãnh thổ đó.
Điều 18. Tương trợ pháp lý 1. Các quốc gia thành viên sẽ dành cho nhau sự tương
trợ pháp lý đầy đủ nhất có thể trong việc điều
tra, truy tố và xét xử liên quan đến các hành vi
phạm tội được quy định tại điều 3 Công ước
này và thỏa thuận thực hiện tương trợ pháp lý
tương tự cho một quốc gia thành viên khác có yêu
cầu nếu quốc gia thành viên đó có đầy đủ lý
do chính đáng để nghi ngờ rằng hành vi phạm tội
như được nêu tại điều 3, khoản 1 a) hoặc b) là
có tính chất xuyên quốc gia, kể cả khi các nạn
nhân, nhân chứng, tài sản, phương tiện hoặc chứng
cứ của các hành vi phạm tội đó đang nằm tại
quốc gia thành viên được yêu cầu và có liên quan
đến nhóm tội phạm có tổ chức.
2. Quốc gia thành viên được yêu cầu sẽ thực hiện
tương trợ pháp lý trong phạm vi khả năng của mình
phù hợp với luật pháp, các hiệp ước, hiệp định
và thỏa thuận có liên quan của nước đó đối
với các thủ tục điều tra, tố tụng và xét xử
liên quan đến các hành vi phạm tội mà một pháp
nhân có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý theo
điều 10 của Công ước này tại quốc gia thành viên
yêu cầu.
3. Có thể yêu cầu tương trợ pháp lý theo quy định
tại điều này nhằm những mục đích sau đây: a) Lấy chứng cứ hoặc lời khai;
b) Thực hiện tống đạt giấy tờ tư pháp;
c) Thực hiện khám xét, tạm giữ và niêm phong;
d) Khám nghiệm đồ vật và hiện trường;
e) Cung cấp thông tin, vật chứng và đánh giá của
người giám định;
f) Cung cấp các bản gốc hoặc bản sao có công chứng
của các giấy tờ, hồ sơ cần thiết, kể cả các
giấy tờ tài liệu hành chính, ngân hàng, tài chính
hoặc thương mại cũng như các hồ sơ kinh doanh;
g) Nhận dạng hoặc xác định tài sản do phạm tội
mà có, tài sản, công cụ hoặc các đồ vật khác
để phục vụ mục đích thu thập chứng cứ;
h) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc trình diện
tự nguyện của những cá nhân liên quan tại quốc
gia thành viên yêu cầu;
i) Thực hiện bất cứ hình thức tương trợ nào
khác phù hợp với pháp luật của quốc gia thành
viên được yêu cầu.
4. Không trái với nội luật, các cơ quan có thẩm
quyền của quốc gia thành viên có thể chuyển các
thông tin liên quan đến những vụ án hình sự đến
cho cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia thành
viên khác mà không cần báo trước nếu thấy rằng
những thông tin đó có thể giúp ích cho cơ quan có
thẩm quyền của quốc gia kia trong việc thực hiện
hoặc hoàn thành công tác điều tra và truy tố hình
sự hoặc có thể tác động để quốc gia thành viên
kia thực hiện một yêu cầu phù hợp với công ước
này.
5. Việc cung cấp thông tin theo quy định tại khoản
4 của điều này không làm phương hại đến công
tác điều tra và truy tố hình sự được thực hiện
tại quốc gia của các cơ quan có thẩm quyền cung
cấp thông tin. Các cơ quan có thẩm quyền nhận thông
tin sẽ tuân thủ yêu cầu về bảo mật ngay cả trong
trường hợp tạm thời hoặc hạn chế những trường
hợp được phép sử dụng thông tin đó. Tuy nhiên,
điều này sẽ không ngăn cản quốc gia thành viên
nhận thông tin tiết lộ thông tin đó khi tiến hành
các thủ tục tư pháp nhằm bào chữa cho một người
bị kết tội. Trong trường hợp này, quốc gia thành
viên nhận thông tin sẽ thông báo cho quốc gia cung
cấp thông tin trước khi tiết lộ những thông tin
đó và sẽ tham khảo ý kiến của quốc gia cung cấp
thông tin nếu được yêu cầu như vậy. Trong trường
hợp đặc biệt, nếu không thể thông báo trước
thì quốc gia thành viên nhận thông tin sẽ thông báo
cho quốc gia thành viên cung cấp thông tin về việc
tiết lộ thông tin mà không có bất cứ sự trì hoãn
nào.
6. Các quy định tại điều này tuyệt đối không
ảnh hưởng đến những nghĩa vụ theo bất cứ điều
ước song phương hoặc đa phương nào khác điều
chỉnh hoặc sẽ điều chỉnh toàn bộ hoặc một
phần vấn đề tương trợ pháp lý.
7. Các khoản từ 9 đến 29 của điều này sẽ được
áp dụng cho các yêu cầu tương trợ pháp lý được
đưa ra theo quy định của điều này nếu các quốc
gia thành viên liên quan không bị ràng buộc bởi một
điều ước quốc tế khác về vấn đề tương trợ
pháp lý. Trong trường hợp các quốc gia thành viên
bị ràng buộc bởi một điều ước như vậy thì
các quy định tương đương của điều ước sẽ
được áp dụng trừ khi các quốc gia thành viên đó
thỏa thuận áp dụng các khoản 9 đến 29 của điều
này thay cho các quy định của điều ước đó. Các
quốc gia thành viên được khuyến khích áp dụng
các khoản này nếu chúng tạo điều kiện thuận
lợi cho việc hợp tác giữa các quốc gia thành viên.
8. Các quốc gia thành viên không thể từ chối thực
hiện tương trợ pháp lý theo quy định tại điều
này vì lý do bảo mật ngân hàng.
9. Các quốc gia thành viên có thể từ chối tương
trợ pháp lý theo quy định tại điều này với lý
do tội phạm hình sự tại quốc gia này không phải
là tội phạm hình sự tại quốc gia kia. Tuy nhiên,
nếu quốc gia thành viên được yêu cầu thấy thích
hợp thì có thể thực hiện việc tương trợ pháp
lý theo chừng mực tuỳ ý bất kể việc hành vi đó
có cấu thành một hành vi phạm tội theo nội luật
của quốc gia đó hay không.
10. Một người đang bị giam giữ hoặc chấp hành
án trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên được
yêu cầu trình diện tại một quốc gia thành viên
khác để nhận dạng, đưa ra lời khai hoặc trợ
giúp trong việc thu thập chứng cứ cho các hoạt động
điều tra, truy tố, hoặc cho các thủ tục tư pháp
liên quan đến các hành vi phạm tội được công
ước này điều chỉnh có thể được dẫn giải
sang quốc gia thành viên yêu cầu nếu các điều kiện
sau đây được đáp ứng đầy đủ: a) Người đó hoàn toàn đồng ý;
b) Các cơ quan có thẩm quyền của cả hai quốc gia
thành viên đồng ý, theo các điều kiện mà các quốc
gia thành viên đó thấy thích đáng.
11. Theo quy định tại khoản 10 của điều này: a) Quốc gia thành viên nơi người đó được dẫn
giải tới có quyền và nghĩa vụ giam giữ người
đó, trừ khi quốc gia thành viên từ đó người đó
được dẫn giải đi có yêu cầu hoặc uỷ quyền
khác;
b) Quốc gia thành viên nơi người đó được dẫn
giải tới sẽ không chậm trễ thực hiện nghĩa vụ
trao trả người đó lại cho quốc gia thành viên nơi
người đó được dẫn giải đi như đã thỏa thuận
trước hoặc theo thỏa thuận giữa các cơ quan có
thẩm quyền của cả hai quốc gia thành viên.
c) Quốc gia thành viên nơi người đó được dẫn
giải tới sẽ không yêu cầu quốc gia thành viên
nơi người đó được dẫn giải đi phải tiến hành
các thủ tục dẫn độ để trao trả lại người
đó;
d) Thời gian bị giam giữ của người đó tại quốc
gia thành viên nơi được dẫn giải đến sẽ được
tính vào thời gian của hình phạt mà người đó
phải chấp hành tại quốc gia nơi họ được dẫn
giải đi.
12. Trừ khi quốc gia thành viên nơi một người được
dẫn giải đi theo quy định tại khoản 10 và 11 của
điều này đồng ý thì dù mang quốc tịch của bất
cứ nước nào, người đó cũng sẽ không bị bắt
giam, truy tố, trừng phạt hoặc phải chịu bất kỳ
sự hạn chế về tự do cá nhân nào tại lãnh thổ
của quốc gia nơi người đó được dẫn giải tới
liên quan đến các hành vi mà người đó thực hiện
trước khi rời khỏi lãnh thổ của quốc gia nơi
người đó được dẫn giải đi.
13. Mỗi quốc gia thành viên sẽ chỉ định một cơ
quan cấp trung ương có trách nhiệm và quyền hạn
tiếp nhận các yêu cầu tương trợ pháp lý và thực
hiện các yêu cầu đó hoặc chuyển chúng cho các
cơ quan có thẩm quyền của mình để thực hiện.
Nếu một quốc gia thành viên có một vùng hoặc lãnh
thổ đặc biệt với hệ thống tương trợ pháp lý
riêng biệt, thì quốc gia đó có thể chỉ định
một cơ quan trung ương chuyên biệt có chức năng
tương tự cho vùng hoặc lãnh thổ đó. Các cơ quan
trung ương nói trên sẽ đảm bảo việc thực hiện
hoặc chuyển giao để thực hiện các yêu cầu tương
trợ pháp lý mà họ nhận được một cách nhanh chóng
và đúng thể thức. Quốc gia thành viên sẽ thông
báo về cơ quan trung ương được chỉ định nhằm
thực hiện các nhiệm vụ nói trên cho Tổng thư ký
Liên Hợp Quốc vào thời điểm gửi lưu chiểu văn
kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia
nhập của mình đối với công ước này. Các yêu
cầu tương trợ pháp lý và bất kỳ thông tin nào
liên quan đến các yêu cầu đó sẽ được chuyển
đến các cơ quan trung ương mà quốc gia thành viên
đã chỉ định. Quy định này không làm phương hại
đến quyền của mỗi quốc gia thành viên được
đề nghị chuyển các yêu cầu và thông tin qua đường
ngoại giao và, trong các trường hợp khẩn cấp, qua
tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế nếu các quốc
gia thành viên đồng ý và nếu có thể.
14. Các yêu cầu tương trợ pháp lý phải được
viết bằng văn bản hoặc, nếu có thể, bằng bất
kỳ phương tiện nào tạo ra được văn bản, được
lập bằng ngôn ngữ mà quốc gia thành viên được
yêu cầu chấp thuận, theo các điều kiện cho phép
quốc gia thành viên đo có thể chứng thực được
yêu cầu tương trợ pháp lý. Quốc gia thành viên
phải thông báo về một hoặc nhiều ngôn ngữ mà
quốc gia đó có thể chấp thuận cho Tổng thư ký
Liên Hợp Quốc vào thời điểm gửi lưu chiểu văn
kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia
nhập công ước này. Trong các trường hợp khẩn
cấp và nếu các quốc gia thành viên đồng ý, các
yêu cầu có thể được đưa ra bằng miệng, nhưng
sẽ được khẳng định bằng văn bản ngay sau đó.
15. Yêu cầu tương trợ pháp lý phải bao gồm các
thông tin sau đây : a) Tên cơ quan yêu cầu;
b) Nội dung và tính chất của việc điều tra, truy
tố hoặc của thủ tục tư pháp được đề cập
trong yêu cầu tương trợ pháp lý và tên, chức năng
của cơ quan tiến hành các hoạt động điều tra,
truy tố và thủ tục tư pháp;
c) Tóm tắt các sự kiện liên quan, trừ trường hợp
các yêu cầu tương trợ liên quan đến việc tống
đạt giấy tờ tư pháp;
d) Nội dung tương trợ được yêu cầu và chi tiết
về bất ky thủ tục đặc biệt nào mà quốc gia
thành viên yêu cầu muốn yêu cầu áp dụng;
e) Nhận dạng, địa chỉ và quốc tịch của bất
kỳ người nào có liên quan nếu có thể; và
f) Mục đích của việc yêu cầu tìm bằng chứng,
thông tin hoặc của những biện pháp được yêu cầu
thực hiện.
16. Quốc gia thành viên được yêu cầu có thể đề
nghị được cung cấp thêm thông tin nếu những thông
tin đó là cần thiết cho việc thực hiện yêu cầu
phù hợp với nội luật của quốc gia này hoặc những
thông tin đó có thể tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thực hiện yêu cầu.
17. Mọi yêu cầu tương trợ pháp lý sẽ được thực
hiện phù hợp với nội luật của quốc gia thành
viên được yêu cầu và nếu có thể, phù hợp với
các thủ tục được nêu trong yêu cầu trong chừng
mực không trái với nội luật của quốc gia đó.
18. Khi một cá nhân đang cư trú trên lãnh thổ của
một quốc gia thành viên và phải đưa ra lời khai
với tư cách là nhân chứng hoặc chuyên gia cho các
cơ quan tư pháp của một quốc gia thành viên khác,
thì quốc gia thành viên nơi người đó cư trú, theo
yêu cầu của quốc gia thành viên kia, nếu có thể
và nếu phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của
nội luật, sẽ cho phép lấy lời khai qua video nếu
quốc gia này không thể để hoặc không muốn cá
nhân đó trinhf diện trên lãnh thổ của quốc gia
thành viên yêu cầu. Các quốc gia thành viên sẽ đồng
ý để cơ quan tư pháp của quốc gia thành viên yêu
cầu tiến hành lấy lời khai với sự chứng kiến
của cơ quan tư pháp của quốc gia thành viên được
yêu cầu.
19. Quốc gia thành viên yêu cầu sẽ không chuyển
giao và không sử dụng thông tin hay chứng cứ mà
quốc gia thành viên được yêu cầu cung cấp nhằm
phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố hoặc
cho các thủ tục tư pháp vào những mục đích không
được nêu trong yêu cầu nếu không có sự đồng
ý trước của quốc gia được yêu cầu. Không quy
định nào trong khoản này ngăn cản quốc gia thành
viên yêu cầu tiết lộ các thông tin hoặc chứng
cứ trong khi tiến hành thủ tục tố tụng nhằm bào
chữa cho bị cáo. Trong trường hợp này, quốc gia
thành viên yêu cầu sẽ thông báo cho quốc gia thành
viên được yêu cầu trước khi đưa ra thông tin và
bằng chứng và sẽ tham khảo ý kiến của n quốc
gia thành viên được yêu cầu nếu quốc gia này đề
nghị như vậy. Trong trường hợp ngoại lệ, nếu
không thể báo trước thì quốc gia thành viên yêu
cầu sẽ thông báo cho quốc gia thành viên được
yêu cầu về việc tiết lộ thông tin hoặc chứng
cứ mà không được phép trì hoãn.
20. Quốc gia thành viên yêu cầu có thể đề nghị
quốc gia thành viên được yêu cầu giữ bí mật
về yêu cầu và về nội dung yêu cầu, trừ trường
hợp cần thiết để thực hiện yêu cầu đó. Nếu
quốc gia thành viên được yêu cầu không thể đáp
ứng được đề nghị về bảo mật thì quốc gia
thành viên đó sẽ thông báo ngay lập tức cho quốc
gia thành viên yêu cầu.
21. Có thể từ chối tương trợ pháp lý: a) Nếu yêu cầu được đưa ra không phù hợp với
những quy định tại khoản này;
b) Nếu quốc gia thành viên được yêu cầu thấy
rằng việc đáp ứng yêu cầu có thể làm phương
hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự công cộng
hoặc các lợi ích thiết yêu của quốc gia thành
viên đó.
c) Nếu nội luật của quốc gia thành viên được
yêu cầu không cho phép các cơ quan có thẩm quyền
của quốc gia đó thực hiện những hoạt động theo
yêu cầu nếu hành vi phạm tội là một hành vi tương
tự đã được điều tra, truy tố hoặc tiến hành
các thủ tục tư pháp trong khuôn khổ thẩm quyền
của chính quốc gia đó;
d) Nếu việc chấp thuận đáp ứng yêu cầu tương
trợ pháp lý là trái với hệ thống pháp luật của
quốc gia thành viên được yêu cầu.
22. Các quốc gia thành viên không thể từ chối một
yêu cầu tương trợ pháp lý với lý do hành vi phạm
tội có liên quan đến các vấn đề về thuế.
23. Bất kỳ sự từ chối tương trợ pháp lý nào
cũng phải có lý do.
24. Quốc gia thành viên được yêu cầu sẽ thực
hiện yêu cầu tương trợ pháp lý càng sớm càng
tốt và sẽ hết sức lưu ý đến bất kỳ thời
hạn nào được quốc gia thành viên yêu cầu gợi
ý kèm theo lý do được trình bày trong yêu cầu. Quốc
gia thành viên được yêu cầu sẽ đáp ứng những
đề nghị chính đáng của quốc gia thành viên yêu
cầu về tiến trình thực hiện yêu cầu. Khi việc
tương trợ pháp lý được yêu cầu không còn cần
thiết nữa, quốc gia thành viên yêu cầu sẽ thông
báo ngay lập tức cho quốc gia thành viên được yêu
cầu.
25. Quốc gia thành viên được yêu cầu có thể trì
hoãn thực hiện tương trợ pháp lý với lý do việc
tương trợ pháp lý đó sẽ gây trở ngại cho hoạt
động điều tra, truy tố hoặc một thủ tục tư
pháp đang được tiến hành.
26. Trước khi từ chối đáp ứng yêu cầu tương
trợ pháp lý theo khoản 21 của điều này hoặc trì
hoãn việc thực hiện yêu cầu theo khoản 25 của
điều này, quốc gia thành viên được yêu cầu sẽ
cùng với quốc gia thành viên yêu cầu xem xét khả
năng thực hiện tương trợ pháp lý với những điều
kiện mà quốc gia thành viên được yêu cầu cho là
cần thiết. Nếu quốc gia thành viên yêu cầu chấp
nhận những điều kiện mà quốc gia thành viên được
yêu cầu đưa ra thì quốc gia này sẽ thực hiện
tương trợ pháp lý với những điều kiện đó.
27. Không làm phương hại đến việc áp dụng khoản
12 của điều này, nhân chứng, người giám định
hay một người nào khác, theo đề nghị của quốc
gia thành viên yêu cầu, đồng ý cung cấp chứng cứ
trong một vụ kiện hoặc hỗ trợ các hoạt động
điều tra, truy tố, hoặc tham gia vào một thủ tục
tư pháp trên lãnh thổ quốc gia thành viên yêu cầu
sẽ không bị truy tố, giam giữ, trừng phạt hoặc
chịu bất kỳ hình thức hạn chế tự do nào khác
trong lãnh thổ của quốc gia thành viên đó liên quan
ddến các hành vi được thực hiện trước khi ra
khỏi lãnh thổ của quốc gia thành viên được yêu
cầu. Tình trạng an toàn này sẽ chấm dứt khi nhân
chứng, người giám định hoặc một người nào khác,
trong vòng 15 ngày liên tục hoặc trong một thời gian
được thoả thuận giữa các quốc gia thành viên
từ ngày người đó được chính thức thông báo
rằng các cơ quan xét xử không yêu cầu người đó
phải có mặt nữa, đã có cơ hội ra khỏi nhưng
vẫn tự nguyện ở lại trong lãnh thổ của quốc
gia thành viên yêu cầu, hoặc đã rời khỏi lãnh
thổ quốc gia đó nhưng lại quay trở lại theo ý
nguyện của chính họ.
28. Các chi phí thông thường cho việc thực hiện
yêu cầu tương trợ pháp lý sẽ do quốc gia thành
viên được yêu cần chi trả, trừ khi có thỏa thuận
khác giữa các quốc gia thành viên có liên quan. Nếu
cần phải có những khoản chi phí đặc biệt hoặc
những khoản chi phí lớn cho việc thực hiện yêu
cầu thì các quốc gia thành viên sẽ cùng nhau tham
khảo ý kiến để quyết định các điều kiện theo
đó yêu cầu sẽ được thực hiện cũng như cách
thức thanh toán chi phí.
29. Quốc gia thành viên được yêu cầu : a) Sẽ cung cấp cho quốc gia thành viên yêu cầu bản
sao các hồ sơ, tài liệu hoặc giấy tờ thông tin
hành chính mình có nếu những hồ sơ, tài liệu,
giấy tờ này là công khai theo quy định của nội
luật;
b) Có thể tuỳ ý cung cấp cho quốc gia thành viên
yêu cầu bản sao của toàn bộ, một phần hoặc với
những điều kiện thích đáng những hồ sơ, tài
liệu hoặc thông tin hành chính mình có nếu những
hồ sơ, tài liệu hoặc thông tin đó là không công
khai theo quy định của nội luật.
30. Các quốc gia thành viên sẽ xem xét, nếu cần
thiết, khả năng ký kết các thỏa thuận song phương
hoặc đa phương nhằm phục vụ cho việc thực hiện
các mục đích và các quy định tại điều này và
nhằm đem lại hiệu lực thực tế hoặc củng cố
các quy định đó.
Điều 19. Điều tra phối hợp Các quốc gia thành viên thành viên sẽ xem xét việc
ký kết các thoả thuận song phương hoặc đa phương
nhằm tạo điều kiện để các cơ quan có thẩm quyền
liên quan có thể thiết lập cơ chế điều tra phối
hợp về những ván đề là đối tượng của các
hoạt động điều tra, truy tố hoặc của các thủ
tục tư pháp tại một hoặc nhiều quốc gia. Nếu
không có các hiệp định hoặc thỏa thuận như vậy
thì việc phối hợp điều tra có thể được thực
hiện dựa trên thỏa thuận theo từng vụ việc. Các
quốc gia thành viên liên quan đảm bảo rằng chủ
quyền của quốc gia nơi tiến hành hoạt động điều
tra sẽ hoàn toàn được tôn trọng.
Điều 20. Các kỹ thuật điều tra
đặc biệt 1. Nếu các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp
luật trong nước cho phép, trong phạm vi khả năng
của mình và phù hợp với các quy định của nội
luật, mỗi quốc gia thành viên sẽ thực thi các biện
pháp cần thiết để cho phép các cơ quan có thẩm
quyền trong lãnh thổ của mình áp dụng hợp lý các
kỹ thuật giao hàng có kiểm soát và nếu thích hợp,
áp dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt khác
như kỹ thuật giám sát điện tử hoặc các hình
thức giám sát khác và các hoạt động cài người
nhằm đấu tranh chống tội phạm có tổ chức một
cách có hiệu quả.
2. Nhằm mục đích điều tra các hành vi phạm tội
được điều chỉnh tại Công ước này và nếu cần
thết, các quốc gia thành viên được khuyến khích
ký kết các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương
hoặc đa phương thích hợp để sử dụng các kỹ
thuật điều tra đặc biệt trong khuôn khổ hợp tác
quốc tế. Các hiệp định hoặc thỏa thuận như
vậy sẽ được ký kết và áp dụng phù hợp với
nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc
gia và sẽ được thực hiện hoàn tòan phù hợp với
các quy định trong các hiệp định hoặc thỏa thuận
đó.
3. Nếu không có một hiệp định hay thỏa thuận
như được nêu trong khoản 2 của điều này, quyết
định sử dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt
ở cấp độ quốc tế nói trên sẽ được đưa ra
trên cơ sở từng vụ việc và, nếu cần có thể
xem xét các thỏa thuận về tài chính liên quan đến
việc thực hiện thẩm quyền của các quốc gia thành
viên liên quan.
4. Các kỹ thuật điều tra dưới hình thức giao hàng
có kiểm soát ở mức độ quốc tế theo sự đồng
ý của các quốc gia thành viên liên quan sẽ bao gồm
các phương pháp như chặn hàng hoá lại hoặc cho
phép được tiếp tục vận chuyển mà vẫn giữ nguyên
hàng hóa hoặc tiếp tục vận chuyển sau khi đã huỷ
bỏ hoặc thay thế toàn bộ hay một phần số hàng
hoá đó.
Điều 21. Chuyển giao vụ án hình
sự Mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét khả năng chuyển
giao cho nhau các vụ án để truy tố một hành vi phạm
tội được công ước này điều chỉnh trong trường
hợp việc chuyển giao đó được đánh giá là có
lợi cho việc thi hành công lý và đặc biệt là để
tập trung việc truy tố trong trường hợp vụ án
thuộc thẩm quyền của nhiều tòa án.
Điều 22. Thiết lập hồ sơ tội
phạm Mỗi quốc gia thành viên có thể ban hành pháp luật
hay các biện pháp cần thiết khác, theo những điều
kiện và vì những mục đích mà quốc gia đó thấy
phù hợp, để nắm bắt được thông tin về bất
cứ bản án nào được đưa ra ở một quốc gia thành
viên khác đối với một người bị nghi là thủ
phạm của một hành vi tội phạm, nhằm sử dụng
những thông tin này trong thủ tục tố tụng hình
sự liên quan đến một hành vi phạm tội theo quy
định tại Công ước này.
Điều 23. Quy định thành tội phạm
hình sự hành vi cản trở hoạt động tư pháp. Mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật và
các biện pháp cần thiết khác để quy định thành
tội phạm hình sự các hành vi sau đây nếu các hành
vi này được thực hiện một cách cố ý: a) Sử dụng vũ lực, đe doạ hoặc hăm dọa hoặc
hứa hẹn, trao tặng hay dành một lợi ích không chính
đáng để người làm chứng khai sai sự thật hoặc
để cản trở việc đưa ra lời khai hay đưa ra chứng
cứ trong một vụ án liên quan đến các hành vi phạm
tội theo quy định tại Công ước này.
b) Sử dụng vũ lực, đe doạ hay hăm dọa nhằm gây
cản trở đối với nhân viên tư pháp hoặc nhân
viên của các cơ quan điều tra, trấn áp tội phạm
trong việc thực hiện các nhiệm vụ của họ liên
quan đến các hành vi phạm tội được điều chỉnh
trong Công ước này. Không một quy định nào tại
Điểm này làm phương hại đến quyền của các quốc
gia thành viên được ban hành các quy định pháp luật
để bảo vệ các loại viên chức khác.
Điều 24. Bảo vệ nhân chứng. 1. Trong khả năng của mình, mỗi quốc gia thành viên
sẽ áp dụng các biện pháp phù hợp để bảo vệ
nhân chứng trong các vụ án hình sự một cách hiệu
quả khỏi nguy cơ bị trả thù hoặc đe doạ hay hăm
dọa khi họ cung cấp chứng cứ liên quan đến các
hành vi phạm tội theo quy định tại công ước này
và, nếu cần thiết, bảo vệ họ hàng hay những
người thân thích của họ.
2. Không làm phương hại đến các quyền của bị
cáo, trong đó có quyền khiếu kiện chính đáng, các
biện pháp được quy định tại khoản 1 điều này
có thể là: a) Thiết lập các thủ tục để bảo vệ về mặt
thân thể cho những người nói trên, ví dụ như thay
đổi chỗ ở cho họ trong chừng mực cần thiết
và khả thi và cấm hoặc hạn chế tiết lộ thông
tin liên quan đến nhận dạng và chỗ ở của họ
nếu cần thiết;
b) Quy định các quy tắc về thu thập chứng cứ để
có thể lấy được lời khai của nhân chứng mà
vẫn đảm bảo được an toàn cho họ, như cho phép
lấy lời khai thông qua các kỹ thuật thông tin như
kết nối video hoặc các biện pháp thích hợp khác.
3. Các quốc gia thành viên sẽ xem xét việc ký kết
các hiệp định hoặc thoả thuận với các quốc
gia khác để thay đổi chỗ ở của những người
như được nêu trong khỏan 1 điều này.
4. Các quy định tại điều này cũng được áp dụng
đối với các nạn nhân khi họ đồng thời là nhân
chứng.
Điều 25. Hỗ trợ và bảo vệ nạn
nhân. 1. Trong khả năng của mình, mỗi quốc gia thành viên
sẽ áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm hỗ trợ
và bảo vệ các nạn nhân của các hành vi phạm tội
theo quy định tại Công ước này, đặc biệt là
trong trường hợp họ bị đe dọa trả thù hoặc
hăm dọa.
2. Mỗi quốc gia thành viên thiết lập các thủ tục
phù hợp để ddền bù và bồi thường cho các nạn
nhân của các hành vi phạm tội theo quy định tại
Công ước này.
3. Không trái với nội luật của mình, mỗi quốc
gia thành viên sẽ đảm bảo để các ý kiến và
những mối bận tâm của nạn nhân được trình bày
và xem xét vào những giai đoạn thích hợp của quá
trình truy tố bị cáo theo cách không làm phương hại
đến quyền bào chữa.
Điều 26. Các biện pháp tăng cường
hợp tác với các cơ quan điều tra và trấn áp
tội phạm 1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện
pháp phù hợp để khuyến khích những người tham
gia hoặc đã từng tham vào các nhóm tội phạm có
tổ chức : a) Cung cấp những thông tin hữu ích cho các cơ quan
có thẩm quyền để phục vụ cho việc điều tra
và thu thập chứng cứ về những vấn đề như:
i) Thông tin nhận dạng, tính chất, thành phần, cơ
cấu của các nhóm tội phạm có tổ chức hoặc địa
điểm của các nhóm này;
ii) Các mối liên hệ, kể cả các mối liên hệ quốc
tế, với các nhóm tội phạm có tổ chức khác;
iii) Các hành vi tội phạm mà các nhóm tội phạm
có tổ chức đã thực hiện hoặc có thể sẽ thực
hiện;
b) Giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền một cách
thực chất và cụ thể để góp phần tịch thu các
nguồn tài sản hoặc tài sản do phạm tội mà có
của các nhóm tội phạm có tổ chức.
2. Trong những trường hợp thích đáng, mỗi quốc
gia thành viên sẽ xem xét khả năng giảm hình phạt
đối với người bị kết án nhưng đã hợp tác
một cách hiệu quả trong việc điều tra hoặc truy
tố một hành vi phạm tội được Công ước này
điều chỉnh.
3. Trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản
của nội luật của mình, mỗi quốc gia thành viên
sẽ xem xét khả năng miễn tố đối với ngườ đã
hợp tác hiệu quả trong việc điều tra hoặc truy
tố một hành vi phạm tội được Công ước này
điều chỉnh.
4. Những người nói trên được bảo vệ theo quy
định tại điều 24 Công ước này.
5. Nếu một người thuộc diện được nêu tại khoản
1 điều này và cư trú tại một quốc gia thành viên
có thể hợp tác một cách có hiệu quả với các
cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia thành viên
khác, thì các quốc gia thành viên có liên quan có
thể ký kết các điều ước và thỏa thuận phù
hợp với nội luật của họ về khả năng quốc
gia thành viên khác kia dành cho người đó sự đối
xử như quy định tại các khoản 2 và 3 điều này.
Điều 27. Hợp tác với các cơ quan
điều tra và trấn áp tội phạm 1. Trên cơ sở phù hợp với hệ thống tư pháp và
hành chính của mỗi quốc gia, các quốc gia thành
viên sẽ hợp tác chặt trẽ với nhau nhằm tăng cường
hiệu quả của công tác điều tra và trấn áp tội
phạm đối với các hành vi tội phạm theo quy định
tại Công ước này. Đặc biệt, mỗi quốc gia thành
viên sẽ áp dụng các biện pháp hiệu quả để : a) Tăng cường hoặc, nếu cần thiết, thiết lập
các kênh thông tin giữa các cơ quan, tổ chức, đơn
vị có thẩm quyền nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho việc trao đổi nhanh chóng và an tòa các thông
tin liên quan đến mọi khía cạnh của các hành vi
phạm tội được Công ước này điều chỉnh, bao
gồm cả những mối liên hệ với các hoạt động
tội phạm khác nếu các quốc gia thành viên thấy
thích hợp;
b) Hợp tác với các quốc gia thành viên khác trong
việc tiến hành các hoạt động điều tra liên quan
đến các hành vi phạm tội theo quy định của Công
ước này về các điểm sau :
i) Thông tin nhận dạng và các hoạt động của những
người bị tình nghi có liên quan tới các hành vi
phạm tội nói trên, nơi ở của những người đó
cũng như của những người khác có liên quan;
ii) Việc chuyển dịch tài sản do phạm tội mà có
hoặc các tài sản có nguồn gốc từ việc thực
hiện các hành vi phạm tội trên;
iii) Việc chuyển dịch tài sản, thiết bị hay các
phương tiện hay các phương tiện khác được sử
dụng hoặc được dự định sử dụng để thực
hiện các hành vi phạm tội nói trên;
c) Nếu thích hợp, cung cấp các giấy tờ, các vật
cần thiết cho việc phân tích hay điều tra;
d) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp
có hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị
có thẩm quyền và cho việc trao đổi nhân sự và
chuyên gia, kể cả việc gửi liên lạc viên theo các
hiệp định hoặc thỏa thuận song phương giữa các
quốc gia thành viên có liên quan;
e) Trao đổi thông tin với các quốc gia thành viên
về các phương pháp và phương thức hoạt động
đặc biệt của các nhóm tội phạm có tổ chức,
kể cả lộ trình, phương tiện vận chuyển và việc
sử dụng thẻ căn cước giả, các giấy tờ bị
sửa chữa hoặc làm giả hoặc những phương thức
che dấu hoạt động khác của các nhóm này;
f) Trao đổi thông tin và phối hợp các biện pháp
hành chính vầ các biện pháp khác phù hợp nhằm
phát hiện sớm nhất có thể các hành vi tội phạm
theo quy định tại Công ước này.
2. Để áp dụng Công ước này, các quốc gia thành
viên xem xét ký kết các hiệp định hoặc thỏa thuận
song phương về hợp tác trực tiếp giữa các cơ
quan điều tra và trấn áp tội phạm của họ và
sửa đổi các hiệp ước hoặc thỏa thuận về vấn
đề này nếu chúng đã được ký kết từ trước.
Trong trường hợp không có các hiệp định hoặc
thỏa thuận như vậy giữa các quốc gia thành viên
liên quan thì các quốc gia thành viên đó có thể
lấy Công ước này làm cơ sở cho việc hợp tác
trong hoạt động điều tra và trấn áp những hành
vi tội phạm được Công ước này điều chỉnh.
Bất kỳ khi nào thích hợp, các quốc gia thành viên
sẽ tận dụng tối đa các hiệp định hoặc thỏa
thuận này, kể cả các tổ chức quốc tế và khu
vực, nhằm tăng cường hợp tác giữa các cơ quan
điều tra và trấn áp của họ.
3. Các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực hợp tác trong
phạm vi khả năng của mình để đấu tranh chống
tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có sử dụng
kỹ thuật hiện đại.
Điều 28. Thu thập, trao đổi và
phân tích những thông tin về tính chất của tội
phạm có tổ chức 1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét phân tích,
với sự tư vấn của các nhà khoa học và các nhà
nghiên cứu, những xu hướng của hoạt động tội
phạm có tổ chức trong lãnh thổ của mình, các hoàn
cảnh thực hiện tội phạm cũng như các nhóm tội
phạm chuyên nghiệp và các kỹ thuật được sử
dụng để thực hiện tội phạm.
2. Các quốc gia thành viên sẽ xem xét phát triển
chuyên môn trong việc phân tích các hoạt động tội
phạm có tổ chức và trao đổi chuyên môn đó một
cách trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức khu vực
và quốc tế. Để thực hiện mục đích này, các
định nghĩa, các tiêu chuẩn và phương pháp luận
chung sẽ được xây dựng và áp dụng sao cho phù
hợp.
3. Mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét theo dõi các
chính sách và các biện pháp được đưa ra để đấu
tranh chống tội phạm có tổ chức và đánh giá việc
thực thi và hiệu quả của các chính sách, biện
pháp đó.
Điều 29. Đào tạo và hỗ trợ
kỹ thuật 1. Trong chừng mực cần thiết, mỗi quốc gia thành
viên sẽ xây dựng, phát triển hoặc hoàn thiện các
chương trình đào tạo đặc biệt dành cho nhân viên
của các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều
tra và trấn áp tội phạm, kể cả các công tố viên,
thẩm phán điều tra và các nhân viên hải quan cũng
như những nhân viên khác có nhiệm vụ ngăn ngừa,
khám phá và xử lý các hành vi phạm tội được
Công ước này điều chỉnh. Các chương trình đào
tạo đó có thể bao gồm cả việc gửi biệt phái
hoặc trao đổi nhân viên. Trên cơ sở được pháp
luật quốc gia cho phép, nội dung các chương trình
đào tạo tập trung vào những vấn đề sau: a) Các phương pháp phòng ngừa, phát hiện và xử
lý các hành vi tội phạm được Công ước này điều
chỉnh;
b) Các lộ trình và các kỹ thuật mà những người
bị tình nghi có liên quan đến các hành vi phạm tội
được công ước này điều chỉnh sử dụng, kể
cả tại các quốc gia quá cảnh, và các biện pháp
đối phó thích hợp;
c) Giám sát việc vận chuyển hàng buôn lậu;
d) Phát hiện và theo dõi việc vận chuyển tài sản
do phạm tội mà có, tài sản, thiết bị hay các phương
tiện khác, các phương thức dịch chuyển, che dấu
hoặc nguỵ trang các tài sản, thiết bị hoặc phương
tiện đó, cũng như các biện pháp đấu tranh chông
rửa tiền và các tội phạm về tài chính khác;
e) Thu thập chứng cứ;
f) Kỹ thuật kiểm soát trong các khu vực tự do thương
mại và tự do cầu cảng;
g) Phương tiện và kỹ thuật hiện đại được sử
dụng cho công tác điều tra trấn áp tội phạm, bao
gồm việc giám sát điện tử, giao hàng có kiểm
soát và các hoạt động cài người; và
h) Các phương pháp được sử dụng để đấu tranh
chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có sử
dụng máy vi tính, các mạng lưới viễn thông hay
các kỹ thuật hiện đại khác; và
i) Các phương pháp bảo vệ nạn nhân và nhân chứng.
2. Các quốc gia thành viên sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong
việc lập kế hoạch và thực hiện các chương trình
nghiên cứu và đào tạo nhằm trao đổi chuyên môn
trong các lĩnh vực được nêu tại khoản 1 của điều
này và , để làm được điều đó, các quốc gia
khi cần thiết cũng sẽ tổ chức các hội nghị và
hội thảo khu vực và quốc tế để tăng cường
hợp tác và khuyến khích trao đổi về những vấn
đề cùng quan tâm, kể cả những vấn đề và nhu
cầu đặc biệt của các quốc gia chung chuyển.
3. Các quốc gia thành viên khuyến khích các hoạt
động đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho việc dẫn độ tội phạm
và tương trợ pháp lý. các hoạt động đào tạo
và hỗ trợ kỹ thuật này có thể bao gồm đào tạo
về ngôn ngữ, gửi biệt phái và trao đổi nhân sự
trong các cơ quan cấp trung ương hoặc các tổ chức
có trách nhiệm trong các lĩnh vực có liên quan.
4. Trong trường hợp đã ký các hiệp định hoặc
thỏa thuận song phương và đa phương, các quốc gia
thành viên, trong chừng mực cần thiết, sẽ tăng
cường các biện pháp đã được đưa ra để tối
đa hóa hiệu quả các hoạt động nghiệp vụ và
đào tạo trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế
và khu vực và trong khuôn khổ của các hiệp ước
hoặc thỏa thuận song phương và đa phương về các
lĩnh vực này.
Điều 30. Các biện pháp khác : thực
hiện công ước thông qua phát triển kinh tế và
hỗ trợ kỹ thuật 1. Các quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện
pháp riêng nhằm đảm bảo việc thực hiện tối
ưu nhất có thể Công ước này thông qua hợp tác
quốc tế, có tính đến các tác động tiêu cực
của tội phạm có tổ chức đối với xã hội nói
chung và đối với sự phát triển bền vững nói
riêng.
2. Các quốc gia thành viên sẽ có những nỗ lực
cụ thể trong chừng mực có thể, cùng phối kết
hợp với nhau và với các tổ chức khu vực và quốc
tế để : a) Phát triển hợp tác ở các cấp độ khác nhau
với các nước đang phát triển nhằm tăng cường
khả năng của các nước này trong việc phòng ngừa
và đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia;
b) Tăng cường trợ giúp về mặt tài chính và phương
tiện vật chất cho các nước đang phát triển để
hỗ trợ cho những nỗ lực của các nước này trong
việc đấu tranh hiệu quả đối với các hoạt động
tội phạm có tổ chức và giúp các nước này thực
hiện thành công Công ước;
c) Hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển
và các nước có nền kinh tế đang trong giai đoạn
chuyển tiếp để giúp đỡ các nước này đáp ứng
được các yêu cầu nhằm thực hiện Công ước này.
Để đạt được mục tiêu đó, các quốc gia thành
viên sẽ cố gắng đóng góp tự nguyện đầy đủ
và thường xuyên vào một tài khoản dành riêng cho
mục tiêu nói trên trong khuôn khổ một cơ chế tài
trợ của Liên Hợp Quốc. Trên cơ sở phù hợp với
nội luật và với các quy định của Công ước này,
các quốc gia thành viên cũng có thể chú trọng xem
xét việc đóng góp vào tài khoản nói trên một phần
tiền hoặc phần giá trị tương đương của tài
sản do phạm tội mà có hoặc của những tài sản
tịch thu được theo quy định tại Công ước này;
d) Khuyến khích và thuyết phục các quốc gia khác
và các định chế tài chính thích hợp cùng tham gia
và các hoạt động theo quy định tại điều này,
cụ thể là tiến hành nhiều hơn nữa các chương
trình đào tạo dành cho các nước phát triển và
cung cấp thêm cho các nước này những thiết bị
hiện đại để hỗ trợ họ đạt được những
mục tiêu đặt ra trong Công ước này.
3. Trong chừng mực có thể, các biện pháp này sẽ
không làm phương hại tới các cam kết hỗ trợ của
nước ngoài hoặc tới các thoả thuận hợp tác tài
chính khác ở các cấp độ song phương, khu vực và
quốc tế.
4. Các quốc gia thành viên có thể ký kết các hiệp
định hoặc thỏa thuận song phương hay đa phương
về việc hỗ trợ phương tiện và hậu cần, có
xem xét đến các thỏa thuận tài chính cần thiết
để các biện pháp hợp tác quốc tế quy định trong
công ước này được thực hiện một cách có hiệu
quả và để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các
hoạt động tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Điều 31. Phòng ngừa 1. Các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực xây dựng
và đánh giá các dự án quốc gia, thiết lập và
thúc đẩy các hoạt động và chính sách tối ưu
để phòng ngừa tội phạm có tổ chức xuyên quốc
gia.
2. Trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật quốc gia, các quốc gia thành viên
sẽ nỗ lực giảm thiểu các cơ hội hiện có hoặc
sẽ có mà các nhóm tội phạm có tổ chức có thể
lợi dụng để tham gia vào hoạt động của các thị
trường hợp pháp với số tài sản do phạm tội
mà có, thông qua các biện pháp lập pháp, hành chính
hoặc các biện pháp cần thiết khác. Các biện pháp
này sẽ tập trung vào việc : a) Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan điều tra
và trấn áp tội phạm hoặc các công tố viên và
các thực thể tư nhân có liên quan, đặc biệt là
trong ngành công nghiệp;
b) Thúc đẩy việc xây dựng các tiêu chuẩn và thủ
tục để giữ gìn tính chính trực của các thực
thể nhà nước và tư nhân liên quan cũng như các
quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho các nghề liên
quan, đặc biệt là các nghề tư pháp, công chứng
viên, chuyên viên tư vấn về thuế và kế toán;
c) Ngăn ngừa việc các nhóm tội phạm có tổ chức
loựi dụng các thủ tục đấu thầu do các cơ quan
nhà nước tiến hành cũng như các khoản trợ cấp
và giấy phép được các cơ quan nhà nước cấp cho
một hoạt động thương mại;
d) Ngăn ngừa việc các nhóm tội phạm có tổ chức
lợi dụng các pháp nhân; các biện pháp này có thể
bao gồm:
i) Lập hồ sơ đăng ký công khai về các pháp nhân
và thể nhân tham gia vào việc thành lập, quản lý
và tài trợ cho pháp nhân;
ii) Có thể bằng lệnh của tòa án hoặc bằng bất
kỳ biện pháp thích hợp nào khác, không cho những
người đã bị kết án về những hành vi phạm tội
mà Công ước này điều chỉnh giữ chức vụ giám
đốc các pháp nhân đã được thành lập trên lãnh
thổ của họ trong một thời gian thích đáng;
iii) Lập hồ sơ quốc gia về những người không
được phép giữ quyền lãnh đạo pháp nhân; và
iv) Trao đổi thông tin trong các hồ sơ nêu tại các
điểm i) và ii) của mục này với các cơ quan có
thẩm quyền của các quốc gia thành viên khác.
3. Các quốc gia thành viên sẽ cố gắng tăng cường
việc tái hòa nhập vào cộng đồng những người
đã bị kết án về các hành vi phạm tội được
Công ước này điều chỉnh.
4. Các quốc gia thành viên sẽ cố gắng đánh giá
một cách thường kỳ các công cụ pháp lý và các
thực tiễn hành chính của họ nhằm phát hiện kịp
thời những thiếu sót mà các nhóm tội phạm có
tổ chức có thể lợi dụng.
5. Các quốc gia thành viên sẽ cố gắng làm cho người
dân hiểu rõ hơn về sự tồn tại, các nguyên nhân,
mức độ nghiêm trọng và sự đe dọa của các nhóm
tội phạm có tổ chức. Nếu thích hợp, các quốc
gia thành viên có thể thực hiện mục tiêu đó thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng và bằng
cách áp dụng những biện pháp nhằm khuyến khích
người dân tham gia vào các hoạt động phòng chống
tội phạm.
6. Mỗi quốc gia thành viên sẽ thông báo cho Tổng
thư ký Liên Hợp Quốc về tên gọi và địa chỉ
của cơ quan hoặc các cơ quan có thể giúp các quốc
gia thành viên khác định ra các biện pháp phòng ngừa
tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
7. Các quốc gia thành viên sẽ hợp tác với nhau và
với các tổ chức khu vực và quốc tế trong chừng
mực phù hợp nhằm tăng cường và xây dựng các
biện pháp theo quy định tại điều này. Với mục
tiêu đó, các quốc gia thành viên sẽ tham gia vào
các dự án quốc tế về phòng ngừa tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia, ví dụ bằng cách giảm
thiểu những yếu tố có thể làm cho những nhóm
người ngoài lề xã hội tham gia vào các hoạt động
tội phạm đó.
Điều 32. Hội nghị các thành viên
của Công ước 1. Hội nghị các thành viên của Công ước được
tổ chức nhằm tăng cường khả năng của các quốc
gia thành viên trong việc đấu tranh chống tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia và nhằm thúc đẩy và
xem xét việc thực hiện Công ước này.
2. Không quá một năm kể từ khi Công ước có hiệu
lực, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ triệu tập
Hội nghị các thành viên của Công ước. Hội nghị
các thành viên của Công ước sẽ thông qua một bản
Quy định nội bộ và những quy tắc điều chỉnh
các hoạt động được nêu tại khoản 3 và 4 của
điều này (bao gồm cả các quy tắc liên quan đến
việc thanh toán chi phí phát sinh trong việc thực hiện
các hoạt động này).
3. Hội nghị các thành viên sẽ thoả thuận về các
cơ chế để đạt được những mục tiêu được
nêu trong khoản 1 của điều này, đặc biệt là: a) Tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
của các quốc gia thành viên như được nêu tại
các điều 29, 30 và 31 của Công ước này, kể cả
việc khuyến khích và huy động sự đóng góp tự
nguyện;
b) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi
thông tin giữa các quốc gia thành viên về các xu
hướng của hoạt động tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia và những biện pháp hữu hiệu để đấu
tranh chống lại các hoạt động đó;
c) Hợp tác với các tổ chức khu vực và quốc tế
cũng như với các tổ chức phi chính phủ có liên
quan,
d) Xem xét định kỳ việc thực hiện Công ước này.
4. Nhằm thực hiện các quy định tại khoản 3 d)
và 3 e) của điều này, Hội nghị các thành viên
phải nắm bắt được các biện pháp mà các quốc
gia thành viên tiến hành và những khó khăn mà các
quốc gia thành viên gặp phải trong quá trình thực
hiện Công ước, thông qua những thông tin do các quốc
gia thành viên cung cấp và qua các cơ chế kiểm tra
bổ sung mà Hội nghị các thành viên thiết lập.
5. Nếu được yêu cầu, mỗi quốc gia thành viên
sẽ cung cấp cho Hội nghị các thành viên các thông
tin về các chương trình, kế hoạch, thực tiễn cũng
như về pháp luật và các biện pháp hành chính nhằm
thực hiện Công ước này.
Điều 33. Ban Thư ký 1. Tổng thư ký của tổ chức Liên hợp quốc cung
cấp những dịch vụ thư ký cần thiết cho Hội nghị
các thành viên của Công ước.
2. Ban Thư ký có nhiệm vụ: a) Giúp đỡ Hội nghị các thành viên thực hiện
các hoạt động quy định tại điều 32 của Công
ước này, đảm nhận công tác chuẩn bị và cung
cấp các dịch vụ cần thiết cho các phiên họp của
Hội nghị các thành viên;
b) Giúp đỡ các quốc gia thành viên, nếu được
họ yêu cầu, cung cấp thông tin cho Hội nghị theo
quy định tại khoản 5, điều 32 của Công ước này;
và
c) Phối kết hợp khi cần thiết với ban thư ký của
các tổ chức khu vực và tổ chức quốc tế có thẩm
quyền.
Điều 34. áp dụng Công ước 1. Các quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp
cần thiết, kể cả việc ban hành các quy định pháp
luật hay áp dụng các biện pháp hành chính, phù hợp
với các nguyên tắc cơ bản của nội luật nước
mình, để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ
của mình theo quy định tại Công ước này.
2. Các vi phạm theo quy định tại các điều 5, 6,
8 và 23 của Công ước này được quy định trong
nội luật của các quốc gia thành viên một cách
độc lập so với tính chất tội phạm xuyên quốc
gia hay có sự tham gia của một nhóm tội phạm có
tổ chức như quy định tại đoạn 1, điều 3 của
Công ước này, trừ trường hợp buộc phải có sự
tham gia của một nhóm tội phạm có tổ chức theo
quy định tại điều 5 của Công ước.
3. Các quốc gia thành viên có thể đưa ra các quy
định chặt chẽ hơn hay nghiêm khắc hơn so với các
quy định được đưa ra trong Công ước nhằm ngăn
ngừa và đấu tranh chống lại tội phạm có tổ
chức xuyên quốc gia.
Điều 35. Giải quyết tranh chấp 1. Các quốc gia thành viên cố gắng giải quyết các
tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay việc
áp dụng Công ước này bằng đàm phán.
2. Tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên
liên quan đến việc giải thích hay việc áp dụng
Công ước này, nếu không giải quyết được bằng
đàm phán trong một thời hạn thích hợp, theo yêu
cầu của một trong số các quốc gia thành viên đó,
sẽ được đưa ra giải quyết bằng trọng tài. Trong
thời hạn 6 tháng kể từ ngày có yêu cầu trọng
tài, nếu các quốc gia thành viên chưa thoả thuận
được với nhau về phương thức tổ chức trọng
tài thì một trong số các nước đó có thể đưa
tranh chấp ra Tòa án quốc tế giải quyết, bằng
cách gửi đơn yêu cầu phù hợp với Quy chế của
Tòa án.
3. Vào thời điểm ký kết, phê chuẩn, phê duyệt
hay gia nhập Công ước, các quốc gia thành viên có
thể tuyên bố không áp dụng quy định tại khoản
2 của điều này. Các quốc gia thành viên còn lại
không áp dụng quy định tại khoản 2 của điều
này đối với các quốc gia thành viên đã tuyên bố
bảo lưu như trên.
4. Các quốc gia thành viên đã tuyên bố bảo lưu
như quy định tại khoản 3 của điều này có thể
hủy bảo lưu bất cứ lúc nào bằng cách gửi thông
báo cho Tổng thư ký của Tổ chức Liên hợp quốc.
Điều 36. Ký kết, phê chuẩn, chấp
thuận, phê duyệt và gia nhập 1. Tất cả các quốc gia đều có thể ký kết Công
ước này từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 12 năm 2000
tại Pa-léc-mô (Italia) và sau đó tại trụ sở của
Tổ chức Liên hợp quốc ở New York (Mỹ) đến ngày
12 tháng 12 năm 2002.
2. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực cũng có
thể ký vào Công ước này với điều kiện phải
có ít nhất một quốc gia thành viên của tổ chức
đó đã ký Công ước theo quy định tại khoản 1
của điều này.
3. Công ước này phải được phê chuẩn, chấp thuận
hay phê duyệt. Các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận
hay phê duyệt sẽ được gửi cho Tổng thư ký của
Tổ chức Liên hợp quốc. Các tổ chức hội nhập
kinh tế khu vực có thể nộp văn kiện phê chuẩn,
chấp thuận hay phê duyệt nếu một trong số các
quốc gia thành viên của tổ chức đó đã phê chuẩn,
chấp thuận hay phê duyệt Công ước. Trong văn kiện
phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt, tổ chức đó
phải chỉ rõ phạm vi thẩm quyền liên quan đến
các vấn đề được Công ước này điều chỉnh.
Tổ chức đó phải thông báo với cơ quan bảo quản
Công ước mọi thay đổi về phạm vi thẩm quyền
của mình.
Điều 37. Quan hệ với các nghị
định thư 1. Công ước này có thể được bổ sung bằng một
hay nhiều nghị định thư.
2. Để trở thành thành viên của một nghị định
thư, quốc gia hay tổ chức hội nhập kinh tế khu
vực phải là thành viên của Công ước.
3. Quốc gia thành viên của Công ước không bị ràng
buộc bởi một nghị định thư, trừ khi quốc gia
đó đã trở thành thành viên của nghị định thư
theo quy định của nghị định thứ đó.
4. Mọi nghị định thư kèm theo Công ước này đều
được giải thích cùng với Công ước, trong đó
có tính đến mục tiêu của nghị định thư.
Điều 38. Thời điểm có hiệu lực 1. Công ước này bắt đầu có hiệu lực vào ngày
thứ 90 kể từ ngày nhận được văn kiện phê chuẩn,
chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40. Theo quy
định tại khoản này, các văn bản do một tổ chức
hội nhập kinh tế khu vực không được tính thêm
vào số lượng các văn bản đã được các quốc
gia thành viên của tổ chức này nộp.
2. Đối với các quốc gia hay tổ chức hội nhập
kinh tế khu vực phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt
hay gia nhập Công ước này sau ngày văn kiện phê
chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40
đã được nộp và có giá trị thì Công ước sẽ
có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày quốc
gia hoặc tổ chức đó nộp văn kiện phê chuẩn,
chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập.
Điều 39. Sửa đổi, bổ sung 1. Sau thời hạn 5 năm từ ngày Công ước có hiệu
lực, bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể
đề nghị sửa đổi, bổ sung và nộp văn bản đề
xuất của mình cho Tổng thứ ký Liên hợp quốc.
Tổng thứ ký Liên hợp quốc gửi văn bản đề xuất
đó cho tất cả các quốc gia thành viên và cho Hội
nghị các quốc gia thành viên của Công ước để
xem xét và quyết định. Hội nghị các quốc gia thành
viên phải thực hiện mọi nỗ lực để đạt được
một thoả thuận chung về đề xuất sửa đổi, bổ
sung. Nếu mọi có gắng đã được thực hiện mà
không đạt được thoả thuận chung, giải pháp cuối
cùng để đề xuất được thông qua là phải tiến
hành bỏ phiếu và phải có ít nhất 2/3 các quốc
gia thành viên có mặt tại Hội nghị và có tham gia
bỏ phiếu tán thành.
2. Để thực hiện quyền bỏ phiếu theo quy định
của điều này trong những lĩnh vực thuộc thẩm
quyền của mình, các tổ chức hội nhập kinh tế
khu vực có số phiếu bằng số lượng thành viên
của mình đã tham gia vào Công ước này. Các tổ
chức này không thực hiện quyền bỏ phiếu của
mình nếu các quốc gia thành viên của họ đã tự
thực hiện quyền này, và ngược lại.
3. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông
qua theo quy định tại khoản 1 của điều này phải
được đưa ra cho các quốc gia thành viên phê chuẩn,
chấp thuận hay phê duyệt.
4. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông
qua theo quy định tại khoản 1 của điều này sẽ
bắt đầu có hiệu lực đối với một quốc gia
thành viên 90 ngày sau ngày quốc gia đó nộp văn kiện
phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt phần sửa đổi,
bổ sung cho Tổng thư ký Liên hợp quốc
5. Quyết định sửa đổi, bổ sung khi đã có hiệu
lực thì có giá trị áp dụng bắt buộc đối với
các quốc gia thành viên đã chấp thuận phần sửa
đổi, bổ sung đó. Các quốc gia thành viên còn lại
vẫn phải áp dụng các quy định của Công ước
và các quy định sửa đổi, bổ sung trước đó mà
họ đã phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt.
Điều 40. Rút khỏi Công ước 1. Các quốc gia thành viên có thể rút khỏi Công
ước bằng các thông báo bằng văn bản cho Tổng
thư ký Liên hợp quốc. Quyết định rút khỏi Công
ước có hiệu lực sau một năm, kể từ ngày Tổng
thư ký Liên hợp quốc nhận được thông báo.
2. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực sẽ không
còn là thành viên của Công ước khi tất cả các
thành viên của tổ chức đó đã rút lui khỏi Công
ước.
3. Quyết định rút lui khỏi Công ước theo quy định
tại khoản 1 của điều này kéo theo việc rút lui
khỏi tất cả các nghị định thư có liên quan.
Điều 41. Cơ quan lưu chiểu và ngôn
ngữ được sử dụng 1. Tổng thư ký Liên hợp quốc đảm nhận công tác
lưu chiểu Công ước này.
2. Bản gốc của Công ước này được lập bằng
tiếng Anh, tiếng ả-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng
Tây Ban Nha, tiếng Pháp và tiếng Nga đều có giá
trị pháp lý như nhau và sẽ do Tổng thư ký Liên
hợp quốc lưu chiểu.
để làm bằng, đại diện toàn quyền của các Chính
phủ ký tên dưới đây đã ký vào Công ước này.
Các quốc gia thành viên của Nghị
định thư,
Tuyên bố rằng để thực hiện những hành động
hiệu quả nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống
lại nạn buôn người, đặc biệt là nạn buôn
bán phụ nữ và trẻ em, các nước nơi có người
bị mua, nước trung chuyển và nước đến của
những người bị mua bán cần phải tìm ra một
cách tiếp cận chung mang tính toàn cầu, bao gồm
các biện pháp nhằm ngăn ngừa tệ nạn buôn người,
trừng phạt những kẻ buôn người và bảo vệ
các nạn nhân của tệ nạn này, đặc biệt là
phải bảo vệ được các quyền cơ bản đã được
công nhận trên toàn thế giới của họ,
Nhận thức được rằng mặc dù đã có nhiều văn
bản quốc tế trong đó đưa ra những nguyên tắc,
những quy định thiết thực nhằm đấu tranh chống
lại sự bóc lột con người, đặc biệt là đối
với phụ nữ và trẻ em, nhưng chưa có văn bản
chung nào quy định về mọi khía cạnh của nạn
buôn bán người,
Căn cứ Nghị quyết số 53/111 của Đại hội đồng
ngày 9 tháng 12 năm 1998 trong đó Đại hội đồng
đã quyết định thành lập một uỷ ban liên chính
phủ đặc biệt với thành phần không giới hạn
có nhiệm vụ soạn thảo một công ước quốc tế
chống lại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
và xem xét khả năng soạn thảo một văn bản quốc
tế chống lại nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em,
Tin tưởng rằng việc đưa thêm vào Công ước của
Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia, một văn bản quốc tế nhằm ngăn ngừa,
trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc
biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em, sẽ giúp
ngăn ngừa và đấu tranh chống lại loại tội phạm
này, Đã thoả thuận những điều sau
đây:
Điều 1. Quan hệ với Công ước
của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia 1. Nghị định thư này bổ sung cho Công ước của
Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia. Nghị định thư phải được giải thích
kết hợp với Công ước.
2. Các quy định của Công ước được áp dụng phù
hợp với Nghị định thư này, trừ trường hợp
có quy định ngược lại của Nghị định thư.
3. Các tội phạm được xác lập theo quy định tại
điều 5 của Nghị định thư này được coi là tội
phạm xác lập theo quy định của Công ước.
Điều 2. Mục tiêu Nghị định thư này nhằm các mục tiêu sau đây: 1. Ngăn ngừa và đấu tranh chống lại nạn buôn người,
đặc biệt lưu ý đến phụ nữ và trẻ em;
2. Bảo vệ và giúp đỡ các nạn nhân của nạn buôn
người, tôn trọng đầy đủ các quyền cơ bản của
họ; và
3. Thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia thành
viên nhằm thực hiện được các mục tiêu trên đây.
Điều 3. Giải thích thuật ngữ Trong Nghị định thư này, các thuật ngữ sau đây
được hiểu là: a) "Buôn người" chỉ việc tuyển mộ, vận
chuyển, chuyển giao, cho cư trú hay tiếp nhận người
bằng cách sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng
vũ lực hoặc thông qua các hình thức ép buộc khác,
bằng cách bắt cóc, gian lận, lừa đảo, lạm dụng
quyền lực hay lợi dụng tình huống khó khăn của
người khác, bằng cách cho hay nhận tiền hoặc lợi
ích khác để được một người đang có quyền lực
với người khác cho phép bóc lột người này. Hành
vi bóc lột bao gồm ít nhất việc bóc lột mại dâm
người khác hoặc các hình thức bóc lột tình dục
khác, bóc lột lao động hay ép buộc cung cấp các
dịch vụ, bắt làm nô lệ hay các công việc khác
tương tự nô lệ, bắt phục tùng hay lấy các bộ
phận cơ thể;
b) Sự đồng ý của một người là nạn nhân của
tội phạm buôn người về việc thực hiện một
hành vi bóc lột quy định tại đoạn a) của điều
này sẽ không có giá trị nếu một trong các cách
thức thực hiện hành vi như nêu tại đoạn a) đã
được sử dụng;
c) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, cho cư
trú hay đón tiếp một trẻ em nhằm mục đích bóc
lột cũng được coi là "buôn người" ngay
cả khi các hành vi kể trên không được thực hiện
bằng các cách thức nêu tại đoạn a) của điều
này;
d) Thuật ngữ "trẻ em" chỉ những người
chưa đủ 18 tuổi.
Điều 4. Phạm vi áp dụng Nghị định thư này được áp dụng, trừ trường
hợp có quy định khác, trong việc ngăn ngừa, điều
tra và truy cứu các tội phạm được quy định tại
điều 5, khi các tội phạm này có tính chất xuyên
quốc gia và có sự liên can của một nhóm tội phạm
có tổ chức. Ngoài ra, Nghị định thư còn được
áp dụng trong việc bảo vệ những người là nạn
nhân của tội phạm này.Điều 5. Quy định thành tội phạm hình sự 1. Mỗi quốc gia thành viên phải ban hành quy định
pháp luật và thực hiện các biện pháp cần thiết
khác để quy định các hành vi nêu tại điều 3 của
Nghị định thư này thành tội phạm hình sự, nếu
các hành vi đó đã được thực hiện một cách cố
ý.
2. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải ban hành quy
định pháp luật và thực hiện các biện pháp cần
thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự: a) Việc mưu toan thực hiện một hành vi phạm tội
như quy định tại khoản 1 của điều này, nếu không
trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống
pháp luật nước mình;
b) Hành vi tiếp tay cho người thực hiện hành vi phạm
tội được quy định tại khoản 1 của điều này;
và
c) Hành vi tổ chức thực hiện một hành vi phạm
tội quy định tại khoản 1 của điều này hoặc
việc chỉ dẫn người khác thực hiện hành vi.
Điều 6. Trợ giúp và bảo vệ các
nạn nhân của tội phạm buôn bán người 1. Trong các trường hợp cần thiết và với điều
kiện nội luật cho phép, mỗi quốc gia thành viên
bảo vệ cuộc sống riêng tư và thông tin cá nhân
của các nạn nhân của tội phạm buôn người, đặc
biệt cần phải tiến hành các thủ tục tố tụng
tư pháp không công khai đối với các hành vi liên
quan đến tội phạm buôn người.
2. Mỗi quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng
hệ thống tư pháp và hành chính của nước mình
đã có các quy định cho phép cung cấp cho nạn nhân
của tội phạm buôn người, trong trường hợp cần
thiết: a) Các thông tin về thủ tục tố tụng tư pháp và
hành chính có thể áp dụng;
b) Sự trợ giúp sao cho ý kiến và các mối quan tâm
của họ được nêu ra và được tính đến tại
các thời điểm thích hợp khi tiến hành tố tụng
hình sự xét xử các kẻ phạm tội, sao cho không
làm ảnh hưởng đến quyền bào chữa của đương
sự.
3. Mỗi quốc gia thành viên phải dự kiến thực hiện
các biện pháp nhằm đảm bảo sự phục hồi về
mặt thể chất, tinh thần và xã hội cho các nạn
nhân của tội phạm buôn người, kể cả, nếu có,
biện pháp hợp tác với các tổ chức phi chính phủ,
các tổ chức khác có thẩm quyền và các thành phần
khác trong xã hội dân sự và đặc biệt cung cấp
cho họ: a) Nơi ở thích hợp;
b) Sự tư vấn và các thông tin bằng ngôn ngữ mà
họ có thể hiểu được, đặc biệt là liên quan
đến các quyền mà pháp luật đã công nhận cho họ;
c) Sự trợ giúp về mặt y tế, tâm lý và vật chất;
và
d) Khả năng tìm việc làm, được giáo dục và đào
tạo.
4. Khi áp dụng các quy định tại điều này, mỗi
quốc gia thành viên phải tính đến độ tuổi, giới
tính và các nhu cầu riêng của các nạn nhân của
tội phạm buôn người, đặc biệt là các nhu cầu
riêng của trẻ em, nhất là nhu cầu về nhà ở, giáo
dục và điều kiện chăm sóc thích hợp.
5. Mỗi quốc gia thành viên nỗ lực đảm bảo sự
an toàn về thể chất cho các nạn nhân của tội
phạm buôn người khi những người này ở trên lãnh
thổ của nước mình.
6. Mỗi quốc gia thành viên đảm bảo rằng hệ thống
pháp luật của nước mình đã có những quy định
cho phép các nạn nhân của tội phạm buôn người
khả năng được bồi thường những thiệt hại mà
họ đã phải chịu.
Điều 7. Quy chế dành cho các nạn
nhân của tội phạm buôn người tại các nước
tiếp nhận 1. Ngoài việc thực hiện các biện pháp theo quy định
tại điều 6 của Nghị định thư, mỗi quốc gia
thành viên phải dự kiến đưa ra các quy định pháp
luật hoặc thực hiện các biện pháp thích hợp khác
cho phép các nạn nhân của tội phạm buôn người
được ở lại trên lãnh thổ nước mình một cách
tạm thời hay lâu dài, nếu có yêu cầu.
2. Khi áp dụng quy định tại khoản 1 của điều
này, mỗi quốc gia thành viên phải tính đến các
yếu tố nhân đạo và nhân thân.
Điều 8. Hồi hương các nạn nhân
của tội phạm buôn người 1. Quốc gia thành viên mà nạn nhân của tội phạm
buôn người có quốc tịch, hoặc đã có quyền thường
trú vào thời điểm đến nước tiếp nhận, phải
tạo điều kiện thuận lợi và chấp thuận việc
hồi hương của người này, trên cơ sở tính đến
sự an toàn của họ, không được chậm chễ mà không
có lý do chính đáng.
2. Khi một quốc gia thành viên gửi trả một nạn
nhân của tội phạm buôn người về cho quốc gia
thành viên nơi người này mang quốc tịch hoặc có
quyền thường trú vào thời điểm đến nước tiếp
nhận, việc gửi trả phải được thực hiện một
cách bảo đảm trên cơ sở tính đến sự an toàn
cho con người và tính đến thực trạng của các
thủ tục tư pháp liên quan đến việc người này
là nạn nhân của tội phạm buôn người, và tốt
hơn hết là để cho nạn nhân tự quyết định việc
hồi hương hay không.
3. Theo yêu cầu của một quốc gia thành viên là nước
tiếp nhận, quốc gia thành viên được yêu cầu phải
tiến hành kiểm tra ngay, không được chậm chễ mà
không có lý do chính đáng, xem một nạn nhân nào
đó của tội phạm buôn người có phải là công
dân nước mình không hoặc người này có quyền thường
trú trên lãnh thổ nước mình vào thời điểm đến
quốc gia thành viên tiếp nhận kia không.
4. Để tạo điều kiện cho việc hồi hương một
người là nạn nhân của tội phạm buôn người không
có đầy đủ giấy tờ theo yêu cầu, quốc gia thành
viên nơi nạn nhân của tội phạm buôn người mang
quốc tịch hoặc có quyền thường trú vào thời
điểm người này đến quốc gia thành viên tiếp
nhận, theo yêu cầu của quốc gia tiếp nhận, phải
chấp thuận việc cung cấp các giấy tờ thông hành
hoặc các giấy phép cần thiết khác cho phép người
này được trở lại lãnh thổ của nước mình.
5. Quy định tại điều này không làm ảnh hưởng
đến các quyền mà quốc gia thành viên tiếp nhận
đã dành cho các nạn nhân của tội phạm buôn người.
6. Quy định tại điều này không làm ảnh hưởng
đến các hiệp ước hay thoả thuận song phương hay
đa phương đang có hiệu lực điều chỉnh toàn bộ
hay một phần việc hồi hương các nạn nhân của
tội phạm buôn người.
Điều 9. Phòng ngừa tội phạm buôn
người 1. Các quốc gia thành viên thiết lập các chính sách,
chương trình và các biện pháp tổng thể khác để: a) Phòng ngừa và đấu tranh chống lại tội phạm
buôn người; và
b) Bảo vệ các nạn nhân của tội phạm buôn người,
đặc biệt đối với các nạn nhân là phụ nữ và
trẻ em, tránh nguy cơ họ có thể trở thành nạn
nhân một lần nữa.
2. Các quốc gia thành viên nỗ lực đưa ra các biện
pháp như nghiên cứu, thực hiện chiến dịch thông
tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin,
thực hiện các sáng kiến hoạt động kinh tế - xã
hội nhằm ngăn ngừa và đấu tranh chống lại tội
phạm buôn người.
3. Các chính sách, chương trình và các biện pháp
khác được đưa ra theo quy định tại điều này,
tuỳ theo điều kiện phù hợp cụ thể, bao gồm cả
việc hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các
tổ chức khác có thẩm quyền và các thành phần
khác trong xã hội dân sự.
4. Các quốc gia thành viên đưa ra hoặc tăng cường
thực hiện các biện pháp, đặc biệt là thông qua
phương thức hợp tác song phương hoặc đa phương,
để điều chỉnh các nhân tố là nguyên nhân làm
cho con người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em,
dễ dàng trở thành nạn nhân của tội phạm buôn
người, như tình trạng đói nghèo, chậm phát triển
và không bình đẳng trước các cơ hội.
5. Các quốc gia thành viên đưa ra hoặc tăng cường
các quy định pháp luật hoặc các biện pháp khác,
như những biện pháp trên các lĩnh vực giáo dục,
xã hội, văn hoá, đặc biệt là thông qua phương
thức hợp tác song phương và đa phương, nhằm ngăn
chặn lượng cầu đang tạo điều kiện phát triển
các hình thức bóc lột con người, đặc biệt là
phụ nữ và trẻ em, dẫn đến tội phạm buôn người.
Điều 10. Trao đổi thông tin và
đào tạo 1. Các cơ quan điều tra, trấn áp, quản lý xuất
nhập cảnh hoặc các cơ quan khác có thẩm quyền
của các quốc gia thành viên hợp tác với nhau, tuỳ
theo điều kiện phù hợp cụ thể và phù hợp với
quy định nội luật của mỗi nước, để trao đổi
thông tin cho phép xác định: a) Một người đang đi qua hoặc có ý định đi quan
biên giới quốc tế bằng giấy tờ thông hành của
người khác hoặc không có giấy tờ thông hành có
phải là thủ phạm hay nạn nhân của tội phạm buôn
người không;
b) Các loại giấy tờ thông hành mà một người đã
sử dụng hoặc có ý định sử dụng để đi qua
biên giới quốc tế nhằm mục đích buôn người;
và
c) Các phương tiện, biện pháp đã được các nhóm
tội phạm có tổ chức sử dụng để buôn người,
kể cả việc tuyển mộ và vận chuyển các nạn
nhân, lộ trình và mối quan hệ giữa các cá nhân
với các tổ chức có hoạt động buôn người, cũng
như các biện pháp cho phép phát hiện ra chúng.
2. Các quốc gia thành viên tăng cường đào tạo các
nhân viên của các cơ quan điều tra, trấn áp, quản
lý xuất nhập cảnh và các cơ quan khác có thẩm
quyền ngăn ngừa tội phạm buôn người. Chương trình
đào tạo phải tập trung vào các biện pháp được
sử dụng để ngăn ngừa tội phạm buôn người,
đưa kẻ buôn người ra xét xử trước pháp luật
và đảm bảo tôn trọng quyền của các nạn nhân,
đặc biệt là việc bảo vệ họ chống lại các
kẻ buôn người. Chương trình đào tạo còn phải
tính đến sự cần thiết phải coi trọng các quyền
dành cho con người và các vấn đề đặc trưng liên
quan đến phụ nữ và trẻ em, tạo điều kiện thuận
lợi để hợp tác với các tổ chức phi chính phủ,
các tổ chức khác có thẩm quyền và các thành phần
khác trong xã hội dân sự.
3. Một quốc gia thành viên khi nhận được thông
tin của một quốc gia thành viên khác thì phải thuận
theo các yêu cầu của quốc gia đó và phải sử dụng
các thông tin này một cách chặt chẽ.
Điều 11. Các biện pháp áp dụng
ở biên giới 1. Trong khả năng có thể, các quốc gia thành viên
tăng cường các biện pháp kiểm soát cần thiết
tại biên giới nhằm ngăn ngừa và phát hiện tội
phạm buôn người mà không vi phạm các cam kết quốc
tế liên quan đến sự tự do đi lại của con người.
2. Mỗi quốc gia thành viên phải đưa ra các quy định
pháp luật hay thực hiện các biện pháp thích hợp
khác, trong khả năng có thể, để phòng ngừa việc
sử dụng các phương tiện vận tải đang được
khai thác bởi các doanh nghiệp vận tải thương mại
để thực hiện các hành vi tội phạm quy định tại
điều 5 của Nghị định thư này.
3. Các quốc gia thành viên khi áp dụng các biện pháp
này phải đặc biệt lưu ý quy định nghĩa vụ cho
các doanh nghiệp vận tải thương mại, bao gồm các
công ty vận tải và chủ sở hữu cũng như người
khai thác các phương tiện vận tải, phải kiểm tra
và bảo đảm rằng tất cả các hành khách đều
có giấy thông hành hợp lệ để nhập cảnh vào
nước đón tiếp mà không vi phạm các công ước
quốc tế có liên quan.
4. Mỗi quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp
cần thiết, phù hợp với quy định của nội luật
nước mình, để quy định hình phạt cho việc vi
phạm các nghĩa vụ nêu tại khoản 3 của điều này.
5. Mỗi quốc gia thành viên, theo quy định của nội
luật nước mình, dự kiến đưa ra các quy định
cho phép cấm nhập cảnh những người có liên can
đến việc thực hiện những hành vi tội phạm quy
định tại Nghị định thư này, hoặc huỷ thị thực
của họ.
6. Các quốc gia thành viên xem xét khả năng thực
hiện các biện pháp tăng cường hợp tác giữa các
cơ quan kiểm soát biên giới của mình, đặc biệt
là thông qua việc thiết lập và duy trì các đường
thông tin liên lạc trực tiếp, mà không vi phạm quy
định tại điều 27 của Công ước.
Điều 12. An ninh và vấn đề kiểm
soát giấy tờ Mỗi quốc gia thành viên, tuỳ theo điều kiện của
mình, thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm: a) Đảm bảo các giấy tờ thông hành hay giấy tờ
căn cước do mình cấp có chất lượng sao cho không
thể dễ dàng sử dụng vào mục đích không thích
đáng, làm giả hay sửa chữa nội dung, sao chụp hay
cấp một cách trái phép; và
b) Đảm bảo sự toàn vẹn và sự an toàn cho các
giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do mình
cấp hoặc cấp dưới danh nghĩa mình và ngăn chặn
việc các loại giấy tờ đó được làm, cấp và
sử dụng trái phép.
Điều 13. Tính hợp pháp và hiệu
lực của các giấy tờ Quốc gia thành viên khi được một quốc gia thành
viên khác yêu cầu phải xác minh, theo quy định của
nội luật nước mình và trong một thời hạn thích
hợp, tính hợp pháp và hiệu lực của các giấy
tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do hoặc xem
là được cấp dưới danh nghĩa của mình, bị nghi
ngờ là được sử dụng vào mục đích buôn người.
Điều 14. Điều khoản tự vệ 1. Quy định tại Nghị định thư này không được
tác động đến các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
của các quốc gia và các cá nhân theo quy định của
luật pháp quốc tế, kể cả luật nhân đạo quốc
tế và pháp luật quốc tế liên quan đến quyền
con người và đặc biệt là Công ước năm 1951 và
Nghị định thư năm 1967 về quy chế những người
tị nạn và về nguyên tắc không được từ chối
tiếp nhận người tị nạn đã được nêu trong các
văn bản đó, khi các văn bản đó được áp dụng.
2. Các biện pháp nêu trong Nghị định thư này được
giải thích và áp dụng sao cho mọi người không bị
phân biệt đối xử chỉ vì họ là nạn nhân của
tội phạm buôn người. Việc giải thích và áp dụng
các biện pháp này phải phù hợp với các nguyên
tắc không phân biệt đối xử đã được quốc tế
công nhận.
Điều 15. Giải quyết tranh chấp 1. Các quốc gia thành viên nỗ lực giải quyết các
tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay việc
áp dụng Nghị định thư này thông qua thương lượng.
2. Mọi tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia thành
viên liên quan đến việc giải thích hoặc việc áp
dụng Nghị định thư này mà không thể giải quyết
thông qua thương lượng trong thời hạn thích hợp
thì sẽ được giải quyết bằng trọng tài, theo
đề nghị của một trong số các quốc gia thành viên
đó. Sau thời hạn sáu tháng, kể từ khi có đề
nghị giải quyết bằng trọng tài, nếu các quốc
gia thành viên không thoả thuận được về phương
thức tổ chức trọng tài thì bất kỳ quốc gia nào
trong số các quốc gia thành viên đó có thể đề
nghị đưa tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án quốc
tế, phù hợp với Quy chế của Tòa án.
3. Khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc
gia nhập Nghị định thư này, mỗi quốc gia thành
viên có thể tuyên bố không bị ràng buộc bởi khoản
2 của điều này. Các quốc gia thành viên khác sẽ
không bị ràng buộc bởi khoản 2 của điều này
đối với quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu
như vậy.
4. Các quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu như
quy định tại khoản 3 của điều này có thể hủy
bảo lưu bất cứ lúc nào bằng cách gửi thông báo
cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.
Điều 16. Ký, phê chuẩn, chấp thuận,
phê duyệt và gia nhập 1. Nghị định thư này sẽ được để cho tất cả
các quốc gia ký từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 12
năm 2000 tại Pa-léc-mô (Italia) và sau đó tại trụ
sở của Tổ chức Liên hợp quốc ở New York (Mỹ)
đến ngày 12 tháng 12 năm 2002.
2. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực cũng có
thể ký vào Nghị định thư này với điều kiện
phải có ít nhất một quốc gia thành viên của tổ
chức đó đã ký Nghị định thư theo quy định tại
khoản 1 của điều này.
3. Công ước này phải được phê chuẩn, chấp thuận
hay phê duyệt. Các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận
hay phê duyệt sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng
thư ký Liên hợp quốc. Một tổ chức hội nhập
kinh tế khu vực có thể nộp lưu chiểu văn kiện
phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt nếu ít nhất
một trong số các quốc gia thành viên của tổ chức
đó đã phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt. Trong
văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt, tổ
chức nói trên phải chỉ rõ phạm vi thẩm quyền
liên quan đến các vấn đề được Nghị định thư
này điều chỉnh. Tổ chức đó phải thông báo với
cơ quan lưu chiểu mọi thay đổi có giá trị về
phạm vi thẩm quyền của mình.
4. Mọi quốc gia và mọi tổ chức hội nhập kinh
tế khu vực có ít nhất một quốc gia thành viên
đang là thành viên của Nghị định thư đều có
thể gia nhập Nghị định thư. Các văn kiện gia nhập
sẽ được gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc.
Khi gia nhập, tổ chức hội nhập kinh tế khu vực
phải tuyên bố phạm vi thẩm quyền của mình đối
với các vấn đề được Nghị định thư này điều
chỉnh. Tổ chức đó phải thông báo với cơ quan
lưu chiểu mọi thay đổi có giá trị về phạm vi
thẩm quyền của mình.
Điều 17. Thời điểm có hiệu lực 1. Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực vào
ngày thứ 90 kể từ ngày nhận được văn kiện phê
chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40,
đương nhiên Nghị định thư chưa được tính hiệu
lực nếu bản thân Công ước chưa có hiệu lực.
Theo quy định tại khoản này, các văn kiện do một
tổ chức hội nhập kinh tế khu vực không được
tính thêm vào số lượng các văn kiện đã được
các quốc gia thành viên của tổ chức này nộp.
2. Đối với các quốc gia hay tổ chức hội nhập
kinh tế khu vực phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt
hay gia nhập Công ước này sau ngày văn kiện phê
chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40
đã được nộp và có giá trị, thì Công ước sẽ
có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày quốc
gia hoặc tổ chức đó nộp văn kiện phê chuẩn,
chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập có giá trị,
hoặc vào ngày Nghị định thư bắt đầu có hiệu
lực theo quy định tại khoản 1 của điều này, nếu
vào thời điểm đó hiệu lực của Nghị định thư
chưa được tính.
Điều 39. Sửa đổi, bổ sung 1. Sau thời hạn 5 năm từ khi Công ước có hiệu
lực, bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể
đề nghị sửa đổi, bổ sung và nộp văn bản đề
nghị của mình cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Tổng
thư ký Liên hợp quốc gửi văn bản đề nghị đó
cho tất cả các quốc gia thành viên và cho Hội nghị
các quốc gia thành viên của Công ước để xem xét
và quyết định. Các quốc gia thành viên của Nghị
định thư tập hợp thành Hội nghị các quốc gia
thành viên phải thực hiện mọi nỗ lực để đạt
được sự đồng thuận về đề xuất sửa đổi,
bổ sung. Nếu mọi có gắng đã được thực hiện
mà không đạt được thoả thuận chung, giải pháp
cuối cùng để đề xuất được thông qua là phải
tiến hành bỏ phiếu và phải có ít nhất 2/3 các
quốc gia thành viên có mặt và có tham gia biểu quyết
tại Hội nghị tán thành.
2. Để thực hiện quyền bỏ phiếu theo quy định
của điều này trong những lĩnh vực thuộc thẩm
quyền của mình, các tổ chức hội nhập kinh tế
khu vực có số phiếu bằng số lượng thành viên
của mình đã tham gia vào Nghị định thư này. Các
tổ chức hội nhập kinh tế khu vực không thực hiện
quyền bỏ phiếu của mình nếu các quốc gia thành
viên của họ đã tự thực hiện quyền này, và ngược
lại.
3. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông
qua theo quy định tại khoản 1 của điều này phải
được các quốc gia thành viên phê chuẩn, chấp thuận
hoặc phê duyệt.
4. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông
qua theo quy định tại khoản 1 của điều này sẽ
bắt đầu có hiệu lực đối với một quốc gia
thành viên 90 ngày sau ngày quốc gia đó nộp văn kiện
phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt phần sửa đổi,
bổ sung cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.
5. Quyết định sửa đổi, bổ sung khi đã có hiệu
lực thì sẽ có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối
với các quốc gia thành viên đã đồng ý chịu sự
ràng buộc của phần sửa đổi, bổ sung đó. Các
quốc gia thành viên còn lại vẫn phải áp dụng các
quy định của Nghị định thư và các quy định sửa
đổi, bổ sung trước đó mà họ đã phê chuẩn,
chấp thuận hay phê duyệt.
Điều 19. Rút khỏi Công ước 1. Một quốc gia thành viên có thể rút khỏi Công
ước bằng cách gửi thông báo bằng văn bản cho
Tổng thư ký Liên hợp quốc. Quyết định rút khỏi
Công ước có hiệu lực sau một năm kể từ ngày
Tổng thư ký Liên hợp quốc nhận được thông báo.
2. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực sẽ không
còn tư cách là thành viên của Nghị định thư khi
tất cả các thành viên của tổ chức đó đã rút
lui khỏi Nghị định thư.
Điều 20. Cơ quan lưu chiểu và ngôn
ngữ được sử dụng 3. Tổng thư ký Liên hợp quốc là người được
chỉ định giữ lưu chiểu Nghị định thư này.
4. Bản gốc của Nghị định thư này được lập
bằng tiếng Anh, tiếng A-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng
Tây Ban Nha, tiếng Pháp và tiếng Nga đều có giá
trị pháp lý như nhau và sẽ do Tổng thư ký Liên
hợp quốc giữ lưu chiểu.
để làm bằng, đại diện toàn quyền của các Chính
phủ ký tên dưới đây đã ký vào Nghị định thư
này.
Các quốc gia thành viên của Nghị
định thư,
Tuyên bố rằng để thực hiện những hành động
hiệu quả nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống
lại việc đưa người nhập cư trái phép bằng
đường bộ, đường hàng không và đường biển
thì cần phải tìm ra một cách tiếp cận chung giữa
các quốc gia trên thế giới, kể cả việc thực
hiện các hoạt động hợp tác, trao đổi thông
tin và các biện pháp thích hợp khác, đặc biệt
trên các phương diện kinh tế và xã hội, trên
phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế,
Căn cứ Nghị quyết số 54/212 của Đại hội đồng
ngày 22 tháng 12 năm 1999, trong đó Đại hội đồng
đã nhấn mạnh yêu cầu các quốc gia thành viên
và các tổ chức của Liên hợp quốc tăng cường
hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý việc
di cư giữa các quốc gia và hoạt động phát triển
nhằm đấu tranh chống lại các nguyên nhân sâu
xa dẫn đến việc di cư, đặc biệt là những nguyên
nhân có liên quan đến đói nghèo, và làm cho việc
di cư giữa các quốc gia có thể đem lại cho người
di cư nhiều lợi ích nhất, và Đại hội đồng
cũng đã khuyến khích các cơ quan liên khu vực,
khu vực và tiểu khu vực tiếp tục quan tâm đến
vấn đề di cư cùng với vấn đề phát triển,
Tin tưởng rằng cần phải đối xử với những
người nhập cư một cách nhân đạo và phải bảo
vệ một cách đầy đủ các quyền của họ,
Nhận thức được rằng mặc dù nhiều tổ chức
quốc tế đã thực hiện những công trình nghiên
cứu trong lĩnh vực này, nhưng chưa có một công
cụ chung nào quy định về mọi khía cạnh của
nạn đưa người nhập cư trái phép và những vấn
đề khác có liên quan,
Quan ngại trước sự gia tăng mạnh mẽ hoạt động
của các nhóm tội phạm có tổ chức trong việc
đưa người nhập cư trái phép và các hoạt động
tội phạm khác có liên quan, được nêu trong Nghị
định thư này, gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng
cho các quốc gia có liên quan,
Lo lắng trước thực tế việc đưa người nhập
cư trái phép có thể gây nguy hiểm cho cuộc sống
và sự an toàn của những người có liên quan,
Căn cứ Nghị quyết số 53/111 của Đại hội đồng
ngày 9 tháng 12 năm 1998 trong đó Đại hội đồng
đã quyết định thành lập một uỷ ban liên chính
phủ đặc biệt với thành phần không giới hạn,
có nhiệm vụ soạn thảo một công ước quốc tế
chống lại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
và nhất là xem xét khả năng soạn thảo một văn
bản quốc tế chống lại nạn đưa người nhập
cư trái phép, kể cả bằng đường biển,
Tin tưởng rằng việc đưa thêm vào Công ước của
Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia, một văn bản quốc tế chống lại nạn
đưa người nhập cư trái phép bằng đường bộ,
đường hàng không, đường biển sẽ giúp ngăn
ngừa và đấu tranh chống lại loại tội phạm
này,
Đã thoả thuận những điều sau đây:
Điều 1. Quan hệ với Công ước
của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia 1. Nghị định thư này bổ sung cho Công ước của
Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia. Nghị định thư phải được giải thích
kết hợp với Công ước.
2. Các quy định của Công ước được áp dụng phù
hợp với Nghị định thư, trừ trường hợp Nghị
định thư có quy định khác.
3. Các tội phạm được xác lập theo quy định tại
điều 6 của Nghị định thư được coi là tội phạm
xác lập theo quy định của Công ước.
Điều 2. Mục tiêu Nghị định thư này nhằm các mục tiêu ngăn ngừa
và đấu tranh chống lại nạn đưa người nhập cư
trái phép và nhằm thúc đẩy sự hợp tác giữa các
quốc gia thành viên nhằm thực hiện mục đích này,
đồng thời để bảo vệ quyền của những người
di cư là đối tượng của nạn đưa người nhập
cư trái phép.
Điều 3. Giải thích thuật ngữ Theo quy định tại Nghị định thư này: a) Khái niệm "đưa người nhập cư trái phép"
chỉ việc đảm bảo việc đưa một người nhập
cảnh một cách trái phép vào một quốc gia thành
viên mà người đó không có quốc tịch mà cũng không
có nơi cư trú thường xuyên tại nước này, nhằm
thu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các lợi
ích bằng tiền hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Khái niệm "nhập cư trái phép" chỉ việc
một người vượt qua biên giới mà không đáp ứng
được đầy đủ các điều kiện nhập cảnh hợp
pháp của nước đến;
c) Khái niệm "giấy tờ thông hành hoặc giấy
tờ căn cước giả mạo" chỉ các loại giấy
tờ thông hành hoặc giấy tờ căn cước:
i) Đã bị làm giả hoặc sửa đổi nội dung bởi
một người không phải là người hoặc cơ quan có
đủ tư cách thẩm quyền thay mặt một quốc gia lập
hoặc cấp giấy tờ thông hành hoặc giấy tờ căn
cước; hoặc
ii) Đã được cấp hoặc có được một cách không
hợp lệ do khai man, mua chuộc, cưỡng ép hoặc bằng
bất kỳ biện pháp bất hợp pháp nào khác; hoặc
iii) Được sử dụng bởi một người không phải
là chủ sở hữu hợp pháp;
d) Thuật ngữ "tàu" chỉ các loại phương
tiện đường thủy, kể cả các phương tiện không
xác định độ mớm nước và thuỷ phi cơ, được
sử dụng hoặc có khả năng sử dụng làm phương
tiện vận tải trên mặt nước, trừ các loại tàu
chiến và tàu phục vụ tàu chiến hoặc các loại
tàu khác thuộc sở hữu của một chính phủ hoặc
do một chính phủ khai thác, nếu chúng chỉ được
sử dụng vào mục đích dịch vụ công không mang
tính thương mại.
Điều 4. Phạm vi áp dụng Nghị định thư này được áp dụng, trừ trường
hợp có quy định khác, để ngăn ngừa, điều tra
và truy cứu các tội phạm được quy định tại
điều 6, khi các tội phạm này có tính chất xuyên
quốc gia và có sự liên can của một nhóm tội phạm
có tổ chức và để bảo vệ quyền của những người
là đối tượng của loại tội phạm này.
Điều 5. Trách nhiệm hình sự của
những người di cư Những người di cư không trở thành đối tượng
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại
Nghị định thư này chỉ vì họ đã là đối tượng
của các hành vi nêu tại điều 6.
Điều 6. Quy định thành tội phạm
hình sự 1. Mỗi quốc gia thành viên phải ban hành các quy định
pháp luật và thực hiện các biện pháp cần thiết
khác để quy định các hành vi sau đây thành tội
phạm hình sự, nếu các hành vi đó đã được thực
hiện một cách cố ý và nhằm mục đích thu một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp các lợi ích bằng
tiền hoặc lợi ích vật chất khác: a) Hành vi đưa người nhập cư trái phép;
b) Các hành vi được thực hiện nhằm giúp đỡ việc
đưa người nhập cư trái phép:
i) Làm giấy tờ thông hành hoặc giấy tờ căn cước
giả mạo;
ii) Cung cấp, mang giữ giấy tờ đó;
c) Hành vi cho phép một người cư trú ở một quốc
gia nơi người đó không có quốc tịch mà cũng không
có quyền thường trú mà lại không đáp ứng các
điều kiện cần thiết để được lưu trú một
cách hợp pháp tại quốc gia đó, bằng các biện
pháp nêu tại điểm b) của khoản này hoặc bằng
bất cứ biện pháp bất hợp pháp nào khác.
2. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải ban hành các
quy định pháp luật và thực hiện các biện pháp
cần thiết khác để quy định thành tội phạm hình
sự: a) Hành vi mưu toan thực hiện một hành vi phạm tội
như quy định tại khoản 1 của điều này, nếu không
trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống
pháp luật nước mình;
b) Hành vi tiếp tay cho người thực hiện hành vi phạm
tội được quy định tại điểm b) i) hoặc điểm
c) khoản 1 của điều này và, nếu không trái với
các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật
nước mình, hành vi tiếp tay cho người thực hiện
hành vi phạm tội được quy định tại điểm b)
ii) thuộc khoản 1 của điều này;
c) Hành vi tổ chức thực hiện một hành vi phạm
tội quy định tại khoản 1 của điều này hoặc
việc chỉ dẫn người khác thực hiện hành vi phạm
tội đó.
3. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải ban hành các
quy định pháp luật và thực hiện các biện pháp
cần thiết khác để quy định thành tình tiết tăng
nặng cho các tội phạm được quy định tại điểm
a), b) i) và c) thuộc khoản 1 của điều này và, nếu
không trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống
pháp luật nước mình, cho các hành vi phạm tội được
quy định tại điểm b) và c) thuộc khoản 2 của
điều này: a) Việc gây nguy hiểm hoặc có nguy cơ gây nguy hiểm
cho sinh mạng và sự an toàn của những người di
cư có liên quan; hoặc
b) Hành vi đối xử vô nhân đạo hoặc đê tiện
đối với những người di cư đó, kể cả hành vi
nhằm mục đích bóc lột.
4. Quy định tại Nghị định thư này không ngăn cản
việc một quốc gia thành viên thực hiện các biện
pháp chống lại một người có hành vi cấu thành
tội phạm theo quy định của nội luật nước mình.
Điều 7. Hợp tác Các quốc gia thành viên hợp tác với nhau bằng tất
cả khả năng của mình nhằm ngăn ngừa, trấn áp
việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường
biển, phù hợp với luật biển quốc tế.
Điều 8. Các biện pháp chống lại
việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường
biển 1. Một quốc gia thành viên mà có căn cứ chính đáng
để nghi ngờ rằng một con tàu mang cờ nước mình
hoặc được đăng ký tại nước mình, không có quốc
tịch hay trên thực tế mang quốc tịch của một
quốc gia thành viên khác đang thực hiện việc đưa
người nhập cư trái phép bằng đường biển, mặc
dù con tàu đó đang mang cờ nước ngoài hoặc từ
chối treo cờ, thì có thể yêu cầu các quốc gia
thành viên khác thực hiện các biện pháp cấm sử
dụng con tàu đó vào mục đích kể trên. Các quốc
gia thành viên được yêu cầu phải giúp đỡ quốc
gia này trong khả năng có thể và bằng những phương
tiện mà mình có.
2. Một quốc gia thành viên mà có căn cứ chính đáng
để nghi ngờ rằng một con tàu đang thực hiện quyền
tự do đi lại theo quy định của luật pháp quốc
tế và mang cờ hoặc biển đăng ký của một quốc
gia thành viên khác đang thực hiện việc đưa người
nhập cư trái phép bằng đường biển, thì có thể
thông báo cho quốc gia này, yêu cầu quốc gia này
xác nhận đăng ký của con tàu. Nếu quốc tịch của
con tàu được xác nhận là đúng thì có thể yêu
cầu quốc gia thành viên đó cho phép thực hiện các
biện pháp thích hợp đối với con tàu.
Quốc gia mà con tàu mang cờ có thể cho phép quốc
gia có yêu cầu thực hiện các biện pháp sau: a) Khám hỏi tàu;
b) Khám xét tàu; và
c) Nếu có bằng chứng về việc con tàu đang thực
hiện việc đưa người nhập cư trái phép, thi hành
các biện pháp thích hợp đối với con tàu, con người
và hàng hoá trên tàu, theo như sự cho phép của nước
mà con tàu đó mang cờ.
3. Một quốc gia thành viên đã thực hiện các biện
pháp theo quy định tại khoản 2 của điều này phải
thông báo ngay với quốc gia mà con tàu mang cờ về
kết quả của việc thực hiện các biện pháp đó.
4. Khi một quốc gia thành viên yêu cầu một quốc
gia thành viên khác xác định xem một con tàu mang
biển hoặc treo cờ của nước đó có hợp lệ hay
không, hoặc yêu cầu cho phép thực hiện một số
biện pháp như quy định tại khoản 2 của điều
này, thì quốc gia thành viên được yêu cầu phải
có phúc đáp ngay.
5. Quốc gia mà tàu mang cờ, khi cho phép một quốc
gia thành viên khác thực hiện các biện pháp theo
quy định tại điều 7 của Nghị định thư này,
có thể kèm theo một số điều kiện được quyết
định theo thoả thuận chung với quốc gia có yêu
cầu, đặc biệt là các điều kiện liên quan đến
trách nhiệm và phạm vi của các biện pháp sẽ được
thực hiện. Một quốc gia thành viên không được
thực hiện bất kỳ biện pháp bổ sung nào mà không
được sự cho phép một cách rõ ràng của quốc gia
mà tàu mang cờ, trừ các biện pháp cần thiết để
tránh một mối nguy hiểm sắp xảy ra đối với sinh
mạng con người hoặc các biện pháp đã được quy
định trong các thoả thuận song phương hoặc đa phương
đang có hiệu lực.
6. Mỗi quốc gia thành viên chỉ định một hoặc,
nếu có thể, một số cơ quan có thẩm quyền tiếp
nhận các yêu cầu hỗ trợ, yêu cầu xác nhận đăng
ký tàu hoặc xác nhận quyền mang cờ của một con
tàu hoặc các yêu cầu cho phép thi hành một số biện
pháp thích hợp cũng như thẩm quyền phúc đáp các
yêu cầu đó. Tổng thư ký sẽ thông báo với tất
cả các quốc gia thành viên khác về cơ quan đã được
một quốc gia thành viên chỉ định, trong thời hạn
một tháng kể từ ngày cơ quan đó được chỉ định.
7. Một quốc gia thành viên mà có căn cứ chính đáng
để nghi ngờ rằng một con tàu đang thực hiện việc
đưa người nhập cư trái phép bằng đường biển
mà tàu này không có quốc tịch hoặc được coi là
không có quốc tịch thì có thể khám hỏi và khám
xét con tàu đó. Nếu có chứng cứ để khẳng định
các nghi ngờ trên thì quốc gia thành viên này có
thể thi hành các biện pháp thích hợp theo quy định
của nội luật và pháp luật quốc tế.
Điều 9. Điều khoản bảo hộ 1. Khi thực hiện các biện pháp đối với một con
tàu theo quy định tại điều 8 của Nghị định thư
này, quốc gia thành viên phải: a) Đảm bảo an toàn và đối xử nhân đạo với
những người trên tàu;
b) Đảm bảo không gây hại đến quyền lợi thương
mại và các quyền của quốc gia mà tàu mang cờ hoặc
của các quốc gia có liên quan khác;
c) Trên cơ sở khả năng của mình, đảm bảo rằng
các biện pháp thực hiện đối với con tàu phải
hợp lý về mặt sinh thái.
2. Nếu các lý do dẫn đến việc thực hiện các
biện pháp theo quy định tại điều 8 của Nghị định
thư này không có căn cứ, thì các mất mát, thiệt
hại gây ra cho tàu sẽ được đền bù, với điều
kiện con tàu đó đã không phạm phải bất cứ hành
vi nào là nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện
các biện pháp đó.
3. Khi một biện pháp đã được đưa ra, được thông
qua và được áp dụng, cần phải lưu ý không làm
ảnh hưởng hoặc cản trở đến: a) Quyền của các quốc gia ven biển và việc thực
hiện thẩm quyền của họ theo quy định của luật
biển quốc tế; hoặc
b) Quyền hạn của quốc gia mà tàu mang cờ trong việc
thực hiện thẩm quyền của mình và sự kiểm soát
của quốc gia này đối với các vấn đề hành chính,
kỹ thuật, xã hội liên quan đến con tàu.
4. Các biện pháp thực hiện trên biển theo quy định
tại chương này chỉ được thực hiện bởi các
tàu chiến hoặc các máy bay quân sự, hoặc các loại
tàu, máy bay khác được trao thẩm quyền này, mang
biển hiệu rõ ràng bên ngoài và có thể xác định
được là đang thực hiện nhiệm vụ của quốc gia.
Điều 10. Thông tin 1. Để thực hiện được mục tiêu của Nghị định
thư này, các quốc gia thành viên, đặc biệt là các
quốc gia có biên giới chung hoặc nằm trên con đường
vận chuyển người nhập cư trái phép, trao đổi
thông tin với nhau phù hợp với hệ thống pháp luật
và hành chính của mỗi nước mà không vi phạm đến
quy định tại các điều 27 và 28 của Công ước,
đặc biệt là các thông tin liên quan đến: a) Địa điểm tập kết, nơi đến, lộ trình, người
vận chuyển và phương tiện vận chuyển mà mình
biết hoặc nghi ngờ rằng chúng được một nhóm
tội phạm có tổ chức sử dụng để thực hiện
các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư
này;
b) Các thông tin nhận dạng và phương thức hoạt
động của các nhóm tội phạm có tổ chức mà mình
biết hoặc nghi ngờ rằng chúng thực hiện các hành
vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này;
c) Tính xác thực và đặc trưng của các giấy tờ
thông hành được cấp bời một quốc gia thành viên
và việc mất cắp các giấy tờ thông hành hay giấy
tờ căn cước chưa ghi danh hoặc sự sử dụng vào
mục đích bất hợp pháp của các loại giấy tờ
này;
d) Các phương tiện và các biện pháp che dấu và
vận chuyển người, việc sửa chữa nội dung, sao
chép, mua bán trái phép hoặc mọi hành vi bất hợp
pháp khác đối với các giấy tờ thông hành, giấy
tờ căn cước để sử dụng trong các hành vi nêu
tại điều 6 của Nghị định thư này cũng như các
biện pháp phát hiện ra các loại giấy tờ đó;
e) Các kinh nghiệm lập pháp, thực tiễn và các biện
pháp được sử dụng nhằm ngăn ngừa và đấu tranh
chống lại các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị
định thư này; và
f) Các vấn đề khoa học, kỹ thuật có ích cho việc
phát hiện và việc trấn áp, nhằm giúp nhau tăng
cường khả năng phòng ngừa, phát hiện các hành
vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư, nhằm tiến
hành các cuộc điều tra về các hành vi và truy tố
những người thực hiện các hành vi đó.
2. Một quốc gia thành viên khi nhận được thông
tin phải thực hiện mọi yêu cầu của quốc gia thành
viên đã cung cấp thông tin đó, phải sử dụng các
thông tin đó theo những quy định chặt chẽ.
Điều 11. Các biện pháp áp dụng
ở biên giới 1. Trong khả năng có thể, các quốc gia thành viên
tăng cường các biện pháp kiểm soát cần thiết
tại biên giới nhằm ngăn ngừa và phát hiện việc
đưa người nhập cư trái phép mà không vi phạm các
cam kết quốc tế về sự tự do đi lại của con
người.
2. Mỗi quốc gia thành viên phải đưa ra các quy định
pháp luật hay thực hiện các biện pháp thích hợp
khác, trong khả năng có thể, để phòng ngừa việc
sử dụng các phương tiện vận tải đang được
khai thác bởi các doanh nghiệp vận tải thương mại
để thực hiện các hành vi tội phạm quy định tại
điểm a), khoản 1 thuộc điều 6 của Nghị định
thư này.
3. Các quốc gia thành viên khi áp dụng các biện pháp
này phải đặc biệt lưu ý quy định nghĩa vụ cho
các doanh nghiệp vận tải thương mại, bao gồm các
công ty vận tải và chủ sở hữu cũng như người
khai thác các phương tiện vận tải, phải kiểm tra
và bảo đảm rằng tất cả các hành khách đều
có giấy thông hành hợp lệ để nhập cảnh vào
nước đón tiếp, nhưng không được vi phạm các
công ước quốc tế có liên quan.
4. Mỗi quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp
cần thiết, phù hợp với quy định của nội luật
nước mình, để quy định hình phạt cho việc vi
phạm các nghĩa vụ nêu tại khoản 3 của điều này.
5. Mỗi quốc gia thành viên, theo quy định của nội
luật nước mình, dự kiến đưa ra các quy định
cho phép cấm nhập cảnh hoặc huỷ thị thực của
những người có liên can đến việc thực hiện những
hành vi tội phạm quy định tại Nghị định thư
này.
6. Các quốc gia thành viên dự kiến thực hiện các
biện pháp tăng cường sự hợp tác giữa các cơ
quan kiểm soát biên giới của mình, đặc biệt thông
qua việc thiết lập và duy trì các đường thông
tin liên lạc trực tiếp, mà không vi phạm quy định
tại điều 27 của Công ước.
Điều 12. An ninh và vấn đề kiểm
soát giấy tờ Mỗi quốc gia thành viên, tuỳ theo điều kiện của
mình, thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm:
c) Đảm bảo các giấy tờ thông hành hay giấy tờ
căn cước do mình cấp có chất lượng sao cho không
thể dễ dàng sử dụng vào mục đích không thích
đáng, làm giả hay sửa chữa nội dung, sao chụp hay
cấp một cách trái phép; và
d) Đảm bảo sự toàn vẹn và sự an toàn cho các
giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do mình
cấp hoặc cấp dưới danh nghĩa mình và ngăn chặn
việc các loại giấy tờ đó được làm, cấp và
sử dụng trái phép.
Điều 13. Tính hợp pháp và hiệu
lực của các giấy tờ Quốc gia thành viên khi được một quốc gia thành
viên khác yêu cầu phải xác minh, theo quy định của
nội luật nước mình và trong một thời hạn thích
hợp, tính hợp pháp và hiệu lực của các giấy
tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do hoặc xem
là đã được cấp dưới danh nghĩa của mình, bị
nghi ngờ là được sử dụng để thực hiện các
hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này.
Điều 14. Đào tạo và hợp tác
kỹ thuật 1. Các quốc gia thành viên tăng cường đào tạo chuyên
môn nhân viên của các cơ quan quản lý xuất nhập
cảnh và các cơ quan khác có thẩm quyền trong việc
ngăn ngừa các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị
định thư này và trong việc đối xử nhân đạo
đối với những người di cư là đối tượng của
các hành vi đó, và trong việc tôn trọng các quyền
mà Nghị định thư này đã thừa nhận cho họ.
2. Các quốc gia thành viên hợp tác với nhau và với
các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ,
các tổ chức khác có thẩm quyền và các thành phần
khác trong xã hội dân sự, tuỳ theo điều kiện cụ
thể, để đảm bảo tốt công tác đào tạo lực
lượng nhân viên trên lãnh thổ của mình, nhằm phòng
ngừa, đấu tranh và xoá bỏ các hành vi nêu tại
điều 6 của Nghị định thư này và nhằm bảo vệ
quyền của những người di cư là đối tượng của
các hành vi đó. Công tác đào tạo phải đặc biệt
tập trung vào: a) Cải thiện sự an toàn và chất lượng của các
loại giấy tờ thông hành;
b) Nhận biết và phát hiện các loại giấy tờ thông
hành hoặc giấy tờ căn cước giả mạo;
c) Hoạt động trinh sát mang tính hình sự, đặc biệt
liên quan đến việc nhận dạng các nhóm tội phạm
có tổ chức đã thực hiện hoặc bị nghi ngờ là
đã thực hiện các hành vi nêu tại điều 6 của
Nghị định thư này, liên quan đến các phương thức
vận chuyển người nhập cư trái phép, đến việc
sử dụng bất hợp pháp các loại giấy tờ thông
hành hoặc giấy tờ căn cước để thực hiện các
hành vi nêu tại điều 6 và liên quan đến các biện
pháp che giấu được sử dụng trong việc đưa người
nhập cư trái phép;
d) Cải thiện thủ tục khám xét phát hiện tại các
điểm vào, điểm ra truyền thống và không truyền
thống của những người nhập cư là đối tượng
của việc đưa người nhập cư trái phép; và
e) Đối xử nhân đạo với những người nhập cư
và bảo vệ các quyền của họ đã được Nghị
định thư này thừa nhận.
3. Các quốc gia thành viên có kinh nghiệm sẽ xem xét
các biện pháp trợ giúp kỹ thuật các quốc gia thành
viên khác đặc biệt là những quốc gia xuất phát
hoặc quốc gia trung chuyển của những người đã
là đối tượng của các hành vi nêu tại điều 6
của Nghị định thư này. Các quốc gia thành viên
nỗ lực hết sức mình để cung cấp các phương
tiện cần thiết, như xe cộ, hệ thống tin học,
máy đọc tài liệu, nhằm đấu tranh chống lại các
hành vi nêu tại điều 6.
Điều 14. Các biện pháp phòng ngừa
khác 1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ đưa ra các biện pháp
nhằm xây dựng hoặc củng cố các chương trình phổ
biến thông tin để cho nhân dân nhận thức được
rằng các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định
thư này là những hành vi phạm tội thường được
các nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện nhằm
thu lợi và rằng các tổ chức đó gây nguy hiểm
cho những người di cư có liên quan.
2. Theo quy định của điều 31 của Công ước, các
quốc gia thành viên hợp tác với nhau trong lĩnh vực
phổ biến thông tin nhằm ngăn chặn những người
có dự định di cư trở thành nạn nhận của các
nhóm tội phạm có tổ chức.
3. Các quốc gia thành viên khuyến khích, tăng cường
phát triển các chương trình phát triển và hợp tác
ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế trên
cơ sở thực tế kinh tế - xã hội của việc di cư,
đồng thời đặc biệt lưu ý đến các vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nhằm giải quyết
các nguyên nhân kinh tế - xã hội sâu xa của nạ
đưa người nhập cư trái phép, như tình trạng đói
nghèo và chậm phát triển.
Điều 16. Các biện pháp bảo hộ
và trợ giúp 1. Khi áp dụng quy định tại Nghị định thư này,
phù hợp với nghĩa vụ của mình theo quy định của
pháp luật quốc tế, mỗi quốc gia thành viên phải
đưa ra các biện pháp thích hợp để, kể cả các
việc ban hành các quy định pháp luật nếu có thể,
để bảo vệ quyền của những người đã là đối
tượng của những hành vi nêu tại điều 6 của Nghị
định thư, đó là các quyền theo quy định của luật
pháp quốc tế có liên quan, đặc biệt là quyền
được sống và quyền không bị áp dụng các hình
thức tra tấn hoặc các hình phạt hay đối xử dã
man, vô nhân đạo, hèn hạ khác.
2. Mỗi quốc gia thành viên đưa ra các biện pháp
thích hợp để bảo vệ những người nhập cư chống
lại các hình thức bạo lực mà họ có thể phải
gánh chịu từ phía các cá nhân cũng như từ phía
các nhóm người, do họ đã là đối tượng của
các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư
này.
3. Mỗi quốc gia thành viên có những biện pháp thích
đáng để trợ giúp những người nhập cư có tính
mạng hoặc sự an toàn bị đe doạ do họ đã là
đối tượng của những hành vi nêu tại điều 6
của Nghị định thư.
4. Khi áp dụng quy định tại điều này, các quốc
gia thành viên phải tính đến những nhu cầu đặc
thù của phụ nữ và trẻ em.
5. Trong trường hợp thực hiện biện giam giữ một
người đã là đối tượng của các hành vi nêu tại
điều 6 của Nghị định thư, mỗi quốc gia thành
viên phải tôn trọng các nghĩa vụ mà họ đã cam
kết theo quy định của Công ước Viên về quan hệ
ngoại giao lãnh sự, trong những trường hợp Công
ước này được áp dụng, kể cả nghĩa vụ phải
thông tin ngay cho người có liên quan về các quy định
áp dụng trong việc thông tin cho cơ quan lãnh sự và
về việc liên hệ với cơ quan đó.
Điều 17. Thoả ước Các quốc gia thành viên xem xét việc ký kết các
hiệp ước hoặc thoả thuận song phương hay đa phương
trong khu vực nhằm: a) Thiết lập các biện pháp thích hợp nhất và hiệu
quả nhất để phòng ngừa và đấu tranh chống lại
các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư;
hoặc
b) Cùng nhau triển khai các quy định của Nghị định
thư.
Điều 14. Hồi hương những người
là đối tượng của việc đưa người nhập cư
trái phép 1. Mỗi quốc gia thành viên, không được chậm chễ
mà không có lý do, phải đưa ra các biện pháp tạo
điều kiện thuận lợi cho việc hồi hương những
người đã là đối tượng của một hành vi nêu
tại điều 6 của Nghị định thư và mang quốc tịch
hoặc có quyền thường trú trên lãnh thổ nước
mình vào thời điểm hồi hương.
2. Mỗi quốc gia thành viên, theo quy định của nội
luật nước mình, nghiên cứu khả năng tạo điều
kiện thuận lợi và chấp thuận cho việc hồi hương
của người đã là đối tượng của một hành vi
nêu tại điều 6 của Nghị định thư và có quyền
thường trú trên lãnh thổ nước mình vào thời điểm
người đó nhập cảnh vào nước đón tiếp.
3. Theo yêu cầu của quốc gia thành viên đón tiếp,
quốc gia thành viên được yêu cầu, không được
chậm chễ mà không có lý do hoặc có lý do không
chính đáng, xác minh xem một người đã là đối
tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị
định thư có phải là công dân của nước mình hoặc
có quyền thường trú trên lãnh thổ nước mình không.
4. Để tạo điều kiện cho sự hồi hương của một
người đã là đối tượng của một hành vi nêu
tại điều 6 của Nghị định thư mà không có đầy
đủ giấy tờ theo yêu cầu, quốc gia thành viên nơi
người này mang quốc tịch hoặc có quyền thường
trú, theo yêu cầu của quốc gia tiếp nhận, phải
chấp thuận việc cấp các giấy tờ thông hành hoặc
các giấy phép cần thiết khác cho phép người này
được trở lại lãnh thổ của nước mình.
5. Mỗi quốc gia thành viên có liên quan đến việc
hồi hương một người đã là đối tượng của
một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư
này sẽ thực hiện các biện pháp thích hợp để
tổ chức việc hồi hương này một cách có trật
tự và trên cơ sở bảo đảm sự an toàn và phẩm
giá của người hồi hương.
6. Các quốc gia thành viên có thể hợp tác với các
tổ chức quốc tế có thẩm quyền để áp dụng
quy định tại điều này.
7. Quy định tại điều này không làm ảnh hưởng
đến các quyền mà luật pháp của quốc gia thành
viên tiếp nhận đã dành cho những người đã là
đối tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của
Nghị định thư này.
8. Quy định tại điều này không làm ảnh hưởng
đến các hiệp ước hay thoả thuận song phương hay
đa phương đang có hiệu lực điều chỉnh toàn bộ
hay một phần việc hồi hương của những người
đã là đối tượng của một hành vi nêu tại điều
6 của Nghị định thư này.
Điều 19. Điều khoản tự vệ 1. Quy định tại Nghị định thư này không được
tác động đến các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
của các quốc gia và các cá nhân theo quy định của
luật pháp quốc tế, kể cả luật nhân đạo quốc
tế và pháp luật quốc tế liên quan đến quyền
con người và đặc biệt là Công ước năm 1951 và
Nghị định thư năm 1967 về quy chế những người
tị nạn và về nguyên tắc không được từ chối
tiếp nhận người tị nạn đã được nêu trong các
văn bản đó, trong những trường hợp các văn bản
đó được áp dụng.
2. Các biện pháp nêu trong Nghị định thư này được
giải thích và áp dụng sao cho mọi người không bị
phân biệt đối xử chỉ vì họ là đối tượng
của các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định
thư này. Việc giải thích và áp dụng các biện pháp
này phải phù hợp với các nguyên tắc không phân
biệt đối xử đã được quốc tế công nhận.
Điều 20. Giải quyết tranh chấp 1. Các quốc gia thành viên nỗ lực giải quyết các
tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay việc
áp dụng Nghị định thư này thông qua thương lượng.
2. Mọi tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia thành
viên liên quan đến việc giải thích hoặc việc áp
dụng Nghị định thư này mà không thể giải quyết
thông qua thương lượng trong thời hạn thích hợp
thì sẽ được giải quyết bằng trọng tài theo đề
nghị của một trong số các quốc gia thành viên đó.
Sau thời hạn sáu tháng, kể từ khi có đề nghị
giải quyết bằng trọng tài, nếu các quốc gia thành
viên không thoả thuận được về phương thức tổ
chức trọng tài thì bất kỳ quốc gia nào trong số
các quốc gia thành viên đó có thể đề nghị đưa
tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án quốc tế, phù
hợp với Quy chế của Tòa án.
3. Khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc
gia nhập Nghị định thư này, mỗi quốc gia thành
viên có thể tuyên bố không bị ràng buộc bởi khoản
2 của điều này. Các quốc gia thành viên khác sẽ
không bị ràng buộc bởi khoản 2 của điều này
đối với quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu
như vậy.
4. Các quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu như
quy định tại khoản 3 của điều này có thể hủy
bảo lưu bất cứ lúc nào bằng cách gửi thông báo
cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.
Điều 21. Ký, phê chuẩn, chấp thuận,
phê duyệt và gia nhập 1. Nghị định thư này sẽ được để cho tất cả
các quốc gia ký từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 12
năm 2000 tại Pa-léc-mô (Italia) và sau đó tại trụ
sở của Tổ chức Liên hợp quốc ở New York (Mỹ)
đến ngày 12 tháng 12 năm 2002.
2. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực cũng có
thể ký vào Nghị định thư này với điều kiện
phải có ít nhất một quốc gia thành viên của tổ
chức đó đã ký Nghị định thư theo quy định tại
khoản 1 của điều này.
3. Công ước này phải được phê chuẩn, chấp thuận
hay phê duyệt.
Các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt
sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên hợp
quốc. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có
thể nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, chấp thuận
hay phê duyệt nếu ít nhất một trong số các quốc
gia thành viên của tổ chức đó đã phê chuẩn, chấp
thuận hay phê duyệt. Trong văn kiện phê chuẩn, chấp
thuận hay phê duyệt, tổ chức nói trên phải chỉ
rõ phạm vi thẩm quyền liên quan đến các vấn đề
được Nghị định thư này điều chỉnh. Tổ chức
đó phải thông báo với cơ quan lưu chiểu mọi thay
đổi có giá trị về phạm vi thẩm quyền của mình.
4. Mọi quốc gia và mọi tổ chức hội nhập kinh
tế khu vực có ít nhất một quốc gia thành viên
đang là thành viên của Nghị định thư đều có
thể gia nhập Nghị định thư. Các văn kiện gia nhập
sẽ được gửi lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên hợp
quốc. Khi gia nhập, tổ chức hội nhập kinh tế khu
vực phải tuyên bố phạm vi thẩm quyền của mình
đối với các vấn đề được Nghị định thư này
điều chỉnh. Tổ chức đó phải thông báo với cơ
quan lưu chiểu mọi thay đổi có giá trị về phạm
vi thẩm quyền của mình.
Điều 17. Thời điểm có hiệu lực 3. Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực vào
ngày thứ 90 kể từ ngày nhận được văn kiện phê
chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40,
nhưng Nghị định thư chưa được tính hiệu lực
nếu bản thân Công ước chưa có hiệu lực. Theo
quy định tại khoản này, văn kiện của một tổ
chức hội nhập kinh tế khu vực không được tính
thêm vào số lượng các văn kiện đã được các
quốc gia thành viên của tổ chức này nộp.
4. Đối với các quốc gia hay tổ chức hội nhập
kinh tế khu vực phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt
hay gia nhập Công ước này sau ngày văn kiện phê
chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40
đã được nộp và có giá trị, thì Công ước sẽ
có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày quốc
gia hoặc tổ chức đó nộp văn kiện phê chuẩn,
chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập có giá trị,
hoặc vào ngày Nghị định thư bắt đầu có hiệu
lực theo quy định tại khoản 1 của điều này, nếu
vào thời điểm đó hiệu lực của Nghị định thư
chưa được tính.
Điều 39. Sửa đổi, bổ sung 1. Sau thời hạn 5 năm từ khi Nghị định thư này
có hiệu lực, bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng
có thể đề nghị sửa đổi, bổ sung và nộp văn
bản đề nghị của mình cho Tổng thư ký Liên hợp
quốc. Tổng thư ký Liên hợp quốc gửi văn bản
đề nghị đó cho tất cả các quốc gia thành viên
và cho Hội nghị các quốc gia thành viên của Công
ước để xem xét và quyết định. Các quốc gia thành
viên của Nghị định thư này được tập hợp thành
Hội nghị các quốc gia thành viên, phải thực hiện
mọi nỗ lực để đạt được sự đồng thuận
về đề xuất sửa đổi, bổ sung. Nếu mọi có gắng
đã được thực hiện mà không đạt được thoả
thuận chung, giải pháp cuối cùng để đề xuất
được thông qua là phải tiến hành bỏ phiếu và
phải đạt được sự tán thành của ít nhất 2/3
các quốc gia thành viên có mặt tại Hội nghị và
có tham gia biểu quyết.
2. Để thực hiện quyền bỏ phiếu theo quy định
của điều này trong những lĩnh vực thuộc thẩm
quyền của mình, các tổ chức hội nhập kinh tế
khu vực có số phiếu bằng số lượng thành viên
của mình đã tham gia vào Nghị định thư này. Các
tổ chức hội nhập kinh tế khu vực không thực hiện
quyền bỏ phiếu của mình nếu các quốc gia thành
viên của họ đã tự thực hiện quyền này, và ngược
lại.
3. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông
qua theo quy định tại khoản 1 của điều này phải
được các quốc gia thành viên phê chuẩn, chấp thuận
hoặc phê duyệt.
4. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông
qua theo quy định tại khoản 1 của điều này sẽ
bắt đầu có hiệu lực đối với một quốc gia
thành viên 90 ngày sau ngày quốc gia đó nộp văn kiện
phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt phần sửa đổi,
bổ sung cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.
5. Quyết định sửa đổi, bổ sung khi đã có hiệu
lực thì sẽ có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối
với các quốc gia thành viên đã đồng ý chịu sự
ràng buộc của phần sửa đổi, bổ sung đó. Các
quốc gia thành viên còn lại vẫn phải áp dụng các
quy định của Nghị định thư này và các quy định
sửa đổi, bổ sung trước đó mà họ đã phê chuẩn,
chấp thuận hay phê duyệt.
Điều 24. Rút khỏi Công ước 1. Một quốc gia thành viên có thể rút khỏi Công
ước bằng cách gửi thông báo bằng văn bản cho
Tổng thư ký Liên hợp quốc. Quyết định rút khỏi
Công ước có hiệu lực sau một năm kể từ ngày
Tổng thư ký Liên hợp quốc nhận được thông báo.
2. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực sẽ không
còn tư cách là thành viên của Nghị định thư khi
tất cả các thành viên của tổ chức đó đã rút
lui khỏi Nghị định thư.
Điều 20. Cơ quan lưu chiểu và ngôn
ngữ được sử dụng 1. Tổng thư ký Liên hợp quốc là người được
chỉ định giữ lưu chiểu Nghị định thư này.
2. Bản gốc của Nghị định thư này được lập
bằng tiếng Anh, tiếng A-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng
Tây Ban Nha, tiếng Pháp và tiếng Nga đều có giá
trị pháp lý như nhau và sẽ do Tổng thư ký Liên
hợp quốc giữ lưu chiểu.
để làm bằng, đại diện toàn quyền của các Chính
phủ ký tên dưới đây đã ký vào Nghị định thư
này. |