CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC
VỀ TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC XUYÊN QUỐC GIA

Điều 1. Mục đích của công ước


Mục đích của Công ước này là thúc đẩy hợp tác nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả hơn với các hoạt động tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Điều 2. Giải thích thuật ngữ

Một số thuật ngữ sử dụng trong Công ước này được hiểu như sau:

a) "Nhóm tội phạm có tổ chức" là một nhóm đã tồn tại được một thời gian và có cơ cấu bao gồm từ ba người trở lên, cùng phối hợp hành động nhằm thực hiện một hoặc nhiều tội phạm nghiêm trọng hoặc các hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước này, để trực tiếp hoặc gián tiếp ...

b) thành không ngẫu nhiên để thực hiện tức thì một hành vi phạm tội, trong đó các thành viên không nhất thiết phải được xác định rõ vai trò; nhóm người này cũng không nhất thiết phải duy trì ổn định thành phần hoặc phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

c) "Tài sản" bao gồm tài sản hữu hình và vô hình, động sản và bất động sản, vật chất và phi vật chất cũng như toàn bộ các văn bản pháp lý hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý chứng nhận quyền sở hữu và các quyền có liên quan đối với những
tài sản đó;

d) "Tài sản do phạm tội mà có" là tài sản có nguồn gốc trực tiếp hay gián tiếp từ một hành vi tội phạm hoặc thu được một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội;

e) "Tạm giữ" hay "kê biên" có nghĩa là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hoặc chuyển dịch tài sản. Các thuật ngữ trên còn chỉ việc tạm thời đảm nhận việc giám sát, quản lý tài sản theo quyết định của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;

f) "Tịch thu" là việc vĩnh viễn tước bỏ quyền sở hữu đối với tài sản theo quyết định của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;

g) "Tội phạm chính" là tất cả những tội phạm làm phát sinh những tài sản có thể trở thành đối tượng của một trong những hành vi phạm tội được quy định tại điều 6 của Công ước này;

h) "Giao hàng có kiểm soát" là một biện pháp nghiệp vụ cảnh sát theo đó các cơ quan có thẩm quyền cho phép một khối lượng hàng hoá bất hợp pháp hoặc có dấu hiệu là bất hợp pháp được đi qua lãnh thổ của một hoặc nhiều quốc gia nhưng có sự theo dõi, giám sát để điều tra một hành vi phạm tội và xác định những đối tượng có liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội đó;

i) "Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực" là mọi tổ chức do những quốc gia có chủ quyền trong một khu vực nhất định thành lập nên và được các quốc gia thành viên đó trao cho thẩm quyền đối với những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này, được uỷ quyền hợp lệ theo đúng các thủ tục nội bộ của tổ chức đó để ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập Công ước này; thuật ngữ " quốc gia thành viên" được sử dụng trong Công ước này cũng được hiểu là bao gồm cả những tổ chức hội nhập kinh tế khu vực đó trong phạm vi thẩm quyền của chúng.

Điều 3. Phạm vi áp dụng

1. Trừ trường hợp có quy định khác, Công ước này được áp dụng đối với công tác ngăn ngừa, điều tra, truy tố liên quan đến :

a) Các tội phạm được quy định tại các điều 5, 6, 8 và 23 của Công ước này; và
b) Các tội phạm nghiêm trọng được định nghĩa tại điều 2 của Công ước này nếu những tội phạm đó có tính chất xuyên quốc gia hoặc có liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức.

2. Theo quy định tại khoản 1 điều này, tội phạm có tính chất xuyên quốc gia là tội phạm:

a) Được thực hiện tại hơn một quốc gia
b) Được thực hiện tại một quốc gia nhưng đã được chuẩn bị, lập kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển một phần chủ yếu tại một quốc gia khác;

c) Được thực hiện tại một quốc gia nhưng liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia những hoạt động tội phạm tại hơn một quốc gia; hoặc
d) Được thực hiện tại một quốc gia nhưng gây ảnh hưởng lớn tại một quốc gia khác.

Điều 4. Bảo vệ chủ quyền

1. Các quốc gia thành viên của Công ước thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định tại Công ước này sao cho phù hợp với những nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia cũng như với nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác.

2. Công ước này không có quy định nào cho phép một quốc gia thành viên được thực thi trên lãnh thổ quốc gia khác những thẩm quyền và chức năng chỉ dành riêng cho các cơ quan quyền lực của quốc gia khác đó theo quy định của pháp luật quốc gia.

Điều 5. Quy định thành tội phạm hình sự việc tham gia vào nhóm tội phạm có tổ chức

1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự những hành vi sau đây nếu những hành vi này được thực hiện một cách cố ý :

a) Một hoặc cả hai hành vi sau đây có thể bị quy định thành tội phạm hình sự với tính chất là những tội phạm riêng biệt với tội phạm chưa đạt hoặc tội phạm hoàn thành:
i) Thoả thuận với một hoặc nhiều người khác để thực hiện một tội phạm nghiêm trọng nhằm mục đích liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc đạt được lợi ích tài chính hoặc một khoản lợi vật chất khác và liên quan đến một hành vi do một trong số những người tham gia thực hiện theo thoả thuận hoặc liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức, nếu pháp luật quốc gia có quy định như vậy;

ii) ii) Hành vi của một người nhận thức được hoặc mục đích và hoạt động tội phạm nói chung của một nhóm tội phạm có tổ chức hoặc ý định phạm tội của nhóm đó nhưng vẫn tham gia tích cực vào :
b) Những hoạt động tội phạm của nhóm tội phạm có tổ chức;

c) Những hoạt động khác của nhóm tội phạm có tổ chức với nhận thức rằng sự tham gia của mình sẽ góp phần thực hiện mục đích phạm tội nói trên;

d) Tổ chức, chỉ đạo, hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện hoặc xúi giục việc thực hiện tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức.

2. Sự nhận thức, ý định, mục đích, động cơ hoặc thỏa thuận được đề cập tại khoản 1 điều này có thể được suy ra từ những tình tiết khách quan liên quan đến tội phạm.

3. Các quốc gia thành viên mà nội luật quy định phải có yếu tố liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức khi xác định các hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 a) i) điều này đảm bảo rằng nội luật của họ điều chỉnh tất cả các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức. Những quốc gia thành viên này cũng như các quốc gia mà nội luật quy định phải có hành vi xúc tiến thỏa thuận khi xác định các hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 a) i) điều này sẽ thông báo về vấn đề trên cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc khi các quốc gia ddó ký hoặc lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt hoặc gia nhập Công ước.

Điều 6. Quy định thành tội phạm hình sự hành vi hợp pháp hoá tài sản do phạm tội mà có

1. Trên cơ sở phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự những hành vi sau đây nếu những hành vi này được thực hiện một cách cố ý:

a) i) Chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản mặc dù biết rằng tài sản đó là do phạm tội mà có nhằm mục đích che đậy hoặc che dấu tính chất bất hợp pháp đích thực của tài sản hoặc nhằm tiếp tay cho người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chính lẩn tránh những hệ qủa pháp lý của hành vi phạm tội ; ii) Che đậy hoặc làm thay đổi bản chất đích thực, nguồn gốc, nơi cất giữ, việc định đoạt, vận chuyển của tài sản hoặc quyền sở hữu hay những quyền khác có liên quan đến tài sản mặc dù biết rằng tài sản đó là do phạm tội mà có;

b) Không trái với những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật quốc gia, mỗi quốc gia thành viên có thể quy định thành tội phạm hình sự các hành vi sau : i) Mua, cất giữ hoặc sử dụng tài sản mặc dù vào thời điểm nhận được tài sản biết rằng tài sản là do phạm tội mà có; ii) Tham gia thực hiện một trong những hành vi tội phạm theo quy định tại điều này hoặc tham gia vào mọi hình thức liên kết, thỏa thuận, ý đồ hoặc âm mưu phạm tội bằng cách hỗ trợ, xúi giục, tạo điều kiện và hướng dẫn thực hiện hành vi tội phạm đó.


2. Về việc áp dụng các quy định tại khoản 1 điều này:

a) Mỗi quốc gia thành viên cố gắng áp dụng ở phạm vi rộng nhất các quy định tại khoản 1 điều này đối với các tội phạm chính;

b) Mỗi quốc gia thành viên đưa vào danh sách tội phạm chính tất cả các tội phạm nghiêm trọng theo quy định tại điều 2 của Công ước này cũng như các tội phạm theo quy định tại các điều 5, 8 và 23. Đối với các quốc gia thành viên mà nội luật có quy định rõ một danh sách tội phạm chính cụ thể thì ít nhất các quốc gia này cũng phải ghi vào trong danh sách đó một tập hợp đầy đủ các tội phạm có liên quan đến các nhóm tội phạm có tổ chức;

c) Những tội phạm chính theo quy định tại điểm b) bao gồm những tội phạm được thực hiện ở bên trong và bên ngoài lãnh thổ thuộc thẩm quyền quản lý của quốc gia thành viên có liên quan. Tuy nhiên, một hành vi phạm tội được thực hiện ở bên ngoài lãnh thổ thuộc thẩm quyền quản lý của một quốc gia thành viên chỉ có thể cấu thành hành vi phạm tội chính nếu như hành vi tương tự được quy định là tội phạm hình sự trong pháp luật của quốc gia nơi hành vi đó được thực hiện và đồng thời cũng được quy định là tội phạm hình sự trong pháp luật của quốc gia thành viên áp dụng điều này;

d) Mỗi quốc gia thành viên chuyển cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc bản sao của các đạo luật quốc gia quy định việc áp dụng điều này và bản sao của mọi sửa đổi bổ sung liên quan đến các đạo luật đó hoặc bản miêu tả chi tiết các đạo luật đó và những sửa đổi bổ sung về sau;

e) Trong trường hợp các nguyên tắc cơ bản trong nội luật của một quốc gia thành viên đòi hỏi, có thể quy định rằng những hành vi phạm tội nêu tại khoản 1 điều này không được áp dụng đối với những người đã phạm vào tội phạm chính;

f) Những yếu tố cấu thành hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 điều này như sự nhận thức về tội phạm, ý định phạm tội và động cơ phạm tội là những yếu tố có thể được suy ra từ những tình tiết khách quan liên quan đến tội phạm.

Điều 7. Các biện pháp chống rửa tiền

1. Mỗi quốc gia thành viên:

a) Trong phạm vi thẩm quyền của mình, thiết lập một cơ chế quản lý và giám sát tổng thể trong nước đối với các ngân hàng và các định chế tài chính phi ngân hàng, cũng như đối với các cơ quan tổ chức khác dễ liên quan đến việc rửa tiền nếu cần, nhằm phòng ngừa và phát hiện mọi hình thức rửa tiền. Cơ chế quản lý và giám sát đó phải tập trung vào việc nhận dạng khách hàng, đăng ký giao dịch và khai báo các giao dịch có nghi vấn;

b) Không trái với các quy định tại các điều 18 và 27 của Công ước này, đảm bảo cho các cơ quan hành chính, điều tiết, điều tra, trấn áp tội phạm và các cơ quan chống rửa tiền khác (kể cả các cơ quan tư pháp nếu pháp luật quốc gia có quy định) có thể hợp tác và trao đổi thông tin với nhau ở cấp quốc gia và quốc tế theo các điều kiện do pháp luật quốc gia quy định. Với mục tiêu đó, mỗi quốc gia thành viên nghiên cứu thành lập một cơ quan thông tin tài chính có nhiệm vụ như một trung tâm quốc gia chuyên thu thập, phân tích và phổ biến những thông tin có thể có liên quan đến các hoạt động rửa tiền.

2. Các quốc gia thành viên sẽ cân nhắc áp dụng những giải pháp khả thi để phát hiện, kiểm soát việc chuyển tiền mặt và các giấy tờ có giá trị thanh toán qua biên giới nhưng phải đảm bảo cho phép sử dụng thông tin đúng mục đích và tuyệt đối không làm cản trở đến việc lưu thông các luồng vốn hợp pháp. Các biện pháp này có thể bao gồm cả việc ra quy định buộc các cá nhân và doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp chuyển một số lượng lớn tiền mặt và một số loại giấy tờ có giá trị thanh toán qua biên giới .

3. Không trái với bất kỳ điều khoản nào của Công ước, khi thiết lập cơ chế quản lý và giám sát quốc gia theo quy định tại điều này, các quốc gia thành viên cần căn cứ vào những sáng kiến thích hợp về chông rửa tiền của các tổ chức khu vực, liên khu vực và các tổ chức đa phương, coi đó là những sáng kiến mang tính phương hướng.

4. Các quốc gia thành viên cố gắng phát triển và thúc đẩy hợp tác quốc tế, hợp tác khu vực và tiểu khu vực cũng như hợp tác song phương giữa các cơ quan tư pháp, các cơ quan điều tra và trấn áp tội phạm và các cơ quan quản lý tài chính nhằm đấu tranh chống rửa tiền.

Điều 8. Quy định thành tội phạm hình sự các hành vi tham nhũng

1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự những hành vi sau đây nếu những hành vi này được thực hiện một cách cố ý:

a) Hứa hẹn trao tặng, trực tiếp hay gián tiếp tặng hoặc dành một lợi ích không chính đáng cho bản thân một nhân viên công quyền hoặc cho bất cứ một người hoặc thực thể nào khác nhằm mục đích để nhân viên công quyền đó thực hiện hoặc từ chối thực hiện một hành vi trong khi thi hành công vụ;

b) Việc một nhân viên công quyền trực tiếp hoặc gián tiếp yêu cầu hay chấp nhận một lợi ích không chính đáng cho bản thân mình hoặc cho bất kỳ người hay thực thể nào khác để thực hiện hoặc từ chối thực hiện một hành vi trong khi thi hành công vụ.

2. Mỗi quốc gia nghiên cứu ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự những hành vi theo quy định tại khoản 1 điều này khi những hành vi đó có liên quan đến một nhân viên công quyền nước ngoài hoặc một cán bộ của tổ chức quốc tế. Tương tự như vậy, mỗi quốc gia thành viên nghiên cứu quy định thành tội phạm hành sự đối với các loại hành vi tham nhũng khác.

3. Mỗi quốc gia thành viên cũng sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để quy định thành tội phạm hình sự đối với những hành vi đồng phạm với một trong những tội phạm theo quy định tại điều này.

4. Tại khoản 1 điều này và tại điều 9 của Công ước này, thuật ngữ "nhân viên công quyền" chỉ một nhân viên nhà nước hoặc một người thực hiện công vụ, theo đúng ý nghĩa của thuật ngữ này trong pháp luật quốc gia và pháp luật hình sự của quốc gia thành viên nơi mà người có liên quan đang thực thi nhiệm vụ.

Điều 9. Các biện pháp chống tham nhũng

1. Ngoài những biện pháp được nêu tại điều 8 Công ước này, mỗi quốc gia thành viên sẽ đưa ra sao cho phù hợp với hoàn cảnh và quy định của hệ thống pháp luật quốc gia những quy định pháp luật, những biện pháp hành chính hoặc những biện pháp có hiệu quả khác để phát huy sự liêm khiết và ngăn ngừa, phát hiện cũng như trừng trị những hành vi tham nhũng của các nhân viên công quyền.

2. Mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo cho các cơ quan quyền lực của mình có thể hoạt động hiệu quả trong việc ngăn ngừa, phát hiện và trừng trị những hành vi tham nhũng của các nhân viên công quyền, bảo gồm cả biện pháp đảm bảo sự độc lập cần thiết của các cơ quan đó để chống lại mọi tác động sai trái đến hoạt động của các cơ quan này.

Điều 10. Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân

1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành những biện pháp cần thiết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc tham gia vào các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức và trong việc thực hiện những hành vi phạm tội theo quy định tại các điều 5, 6, 8 và 23 của Công ước này.

2. Với điều kiện không trái với các nguyên tắc pháp luật của quốc gia thành viên, pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, dân sự hoặc hành chính.

3. Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân không ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của những thể nhân đã thực hiện hành vi phạm tội.

4. Đặc biệt là mỗi quốc gia thành viên phải đảm bảo áp dụng đối với những pháp nhân bị quy kết trách nhiệm pháp lý theo quy định tại điều này những biện pháp chế tài hiệu quả, tương ứng với tính chất và mức độ của tội phạm và đủ sức răn đe, có thể là chế tài hình sự , chế tài phi hình sự hoặc phạt tiền.

Điều 11. Truy tố trước pháp luật, xét xử và chế tài

1. Mỗi quốc gia thành viên đảm bảo rằng mọi hành vi phạm tội theo quy định tại các điều 5, 6, 8, 23 của Công ước này phải bị trừng phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.

2. Mỗi quốc gia thành viên cố gắng đảm bảo rằng bất cứ quyền tự do pháp lý nào theo quy định trong nội luật của họ về việc truy tố các cá nhân vì các hành vi phạm tội được quy định trong Công ước này phải được thực hiện để tối đa hóa hiệu quả của các biện pháp hành pháp đối với những hành vi phạm tội và có tính đến sự cần thiết phải ngăn chặn việc thực hiện những hành vi phạm tội như vậy.

3. Đối với những tội phạm được quy định tại các điều 5, 6, 8 và 23 của Công ước này, mỗi quốc gia thành viên áp dụng những biện pháp thích hợp, phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia và trên cơ sở có tính đến quyền tự bào chữa của đương sự nhằm đảm bảo sao cho các điều kiện thực hiện các quyết định cho tại ngoại trong khi chờ xét xử hoặc chờ phúc thẩm được phù hợp với yêu cầu đảm bảo sự hiện diện của bị cáo trong quá trình tố tụng hình sự về sau này.

4. Mỗi quốc gia thành viên đảm bảo rằng các tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của quốc gia mình ý thức được tính chất nghiêm trọng của những tội phạm quy định tại Công ước này khi các tòa án hoặc cơ quan đó cân nhắc tạm tha sớm hoặc phóng thích có điều kiện những người bị kết án về những tội phạm này.

5. Nếu cần thiết, mỗi quốc gia thành viên sẽ quy định trong nội luật một khung thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự kéo dài. Trong khung thời hiệu này, bất cứ tội phạm nào theo quy định của Công ước này đều có thể bị truy cứu. Thời hiệu này được quy định lâu hơn nếu người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội lẩn tránh pháp luật.

6. Công ước này không có quy định nào trái với nguyên tắc theo đó việc xác định các tội phạm theo quy định tại Công ước này cũng như việc xác định các phương tiện bào chữa về mặt pháp lý có thể áp dụng và các nguyên tắc pháp lý khác điều chỉnh tính hợp pháp của việc quy định thành tội phạm hình sự đều phải tuân theo pháp luật quốc gia của quốc gia thành viên. Tương tự như vậy, Công ước này cũng không có quy định nào trái với nguyên tắc theo đó việc truy tố và trừng trị những tội phạm trên phải được thực hiện theo quy định của pháp luật của quốc gia thành viên đó.

Điều 12. Tịch thu và tạm giữ

1. Trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc gia và trong khả năng lớn nhất có thể, các quốc gia thành viên sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết để cho phép tịch thu :

a) Tài sản do phạm tội mà có bắt nguồn từ những hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước này hoặc các tài sản có giá trị tương đương với giá trị của tài sản do phạm tội mà có.

b) Tài sản, trang thiết bị và các công cụ khác được sử dụng hoặc được dự định sử dụng khi thực hiện các hành vi phạm tội được quy định trong Công ước này.

2. Các quốc gia thành viên sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết cho việc xác định, định vị, thu giữ hoặc kê biên tất cả những gì được nêu tại khoản 1 điều này nhằm phục vụ cho việc tịch thu nếu cần.

3. Nếu một phần hoặc toàn bộ tài sản do phạm tội mà có đã bị chuyển hoá hoặc chuyển đổi thành những tài sản khác thì có thể áp dụng những biện pháp theo quy định tại điều này đối với những tài sản khác đó như đối với tài sản do phạm tội mà có.

4. Trong trường hợp tài sản do phạm tội mà có đã bị gộp lẫn với những tài sản có nguồn gốc hợp pháp thì trên cơ sở không làm ảnh hưởng đến quyền thu giữ và kê biên, những tài sản này có thể bị tịch thu phần tương đương với phần giá trị ước tính của tài sản do phạm tội mà có đã được gộp lẫn trong đó.

5. Những khoản thu nhập hoặc các phần lợi ích khác có được từ tài sản do phạm tội mà có, từ tài sản được chuyển hoá hoặc chuyển đổi thành từ tài sản do phạm tội mà có hoặc từ tài sản trong đó tài sản do phạm tội mà có đã bị gộp lẫn cũng có thể bị áp dụng những biện pháp theo quy định tại điều này theo cùng cách thức và trong cùng chừng mực như đối với tài sản do phạm tội mà có.

6. Theo quy định tại điều này và điều 13 của Công ước này, mỗi quốc gia thành viên sẽ trao cho các tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác của quốc gia mình quyền ra lệnh giao nộp hay thu giữ các tài liệu về ngân hàng, tài chính, hoặc thương mại. Các quốc gia thành viên không được từ chối thực hiện các quy định tại khoản này vì lý do đảm bảo bí mật ngân hàng.

7. Các quốc gia thành viên có thể xem xét khả năng yêu cầu bị cáo chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản bị nghi là do phạm tội mà có hoặc những tài sản khác có thể bị tịch thu, trong chừng mực phù hợp với các nguyên tắc pháp luật quốc gia và với tính chất của thủ tục tư pháp và các thủ tục khác.

8. Trong bất cứ trường hợp nào, việc giải thích các quy định tại điều này không được làm phương hại đến quyền của bên thứ ba ngay tình.

9.

Điều này không có quy định nào làm ảnh hưởng đến nguyên tắc theo đó việc xác định và thực thi các biện pháp theo quy định tại điều này phải tuân theo và phù hợp với các quy định trong nội luật của mỗi quốc gia thành viên.

Điều 13. Hợp tác quốc tế trong việc tịch thu tài sản

1. Quốc gia thành viên khi nhận được yêu cầu của một quốc gia thành viên khác có quyền xét xử đối với một hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước này về việc tịch thu tài sản do phạm tội mà có, tài sản, trang thiết bị và những công cụ khác được nói đến tại khoản 2 điều 12 của Công ước này nằm trên lãnh thổ của quốc gia mình sẽ cố gắng hết sức trong phạm vi hệ thống pháp luật trong nước cho phép để :

a) Chuyển yêu cầu này đến các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mình để phát lệnh tịch thu và để thực hiện lệnh đó một khi nó được ban ra; hoặc :
b) Chuyển lệnh tịch thu của tòa án nằm trên lãnh thổ quốc gia có yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 12 Công ước này nếu lệnh tịch thu đó liên quan đến tài sản do phạm tội mà có, tài sản, trang thiết bị và các công cụ khác được nói tới tại khoản 1 điều 12 hiện nằm trên lãnh thổ của quốc gia thành viên được yêu cầu.

2. Khi thực hiện yêu cầu của một quốc gia thành viên khác có quyền tài phán đối với hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh, quốc gia thành viên được yêu cầu phải tiến hành các biện pháp xác định, truy nguyên và tạm giữ hoặc kê biên tài sản do phạm tội mà có, tài sản, trang thiết bị và các công cụ khác được nêu tại điều khoản 1 điều 12 của Công ước này nhằm thực hiện lệnh tịch thu do chính quốc gia thành viên có yêu cầu đưa ra hoặc do quốc gia thành viên được yêu cầu đưa ra theo lời yêu cầu quy định tại khoản 1 điều này.

3. Các quy định tại điều 18 Công ước này được áp dụng cho điều này với những sửa đổi cần thiết. Ngoài những thông tin được quy định tại khoản 15 điều 18, các yêu cầu được đưa ra theo quy định tại điều này còn bao gồm :

a) Một bản mô tả về tài sản sẽ bị tịch thu và một bản trình bày về các sự kiện ddược dùng làm căn cứ cho quốc gia đưa ra yêu cầu, để quốc gia thành viên được yêu cầu có đủ cơ sở cho phát lệnh tịch thu theo quy định của nội luật, trong trường hợp yêu cầu đó thuộc khoản 1, a) điều này.

b) Một bản sao lệnh tịch thu của quốc gia thành viên có yêu cầu, được chấp nhận là có giá trị pháp lý mà căn cứ vào đó quốc gia thành viên đưa ra yêu cầu, một bản trình bày về các tình tiết và thông tin liên quan đến yêu cầu thực hiện lệnh tịch thu, trong trường hợp yêu cầu đó thuộc khoản 1, b) điều này.

c) Một bản trình bày về các sự kiện làm căn cứ cho quốc gia thành viên đưa ra yêu cầu và một bản trình bày về các biện pháp được đề nghị tiến hành, trong trường hợp yêu cầu thuộc khoản 2 điều này.

4. Các quyết định hay biện pháp theo quy định tại khoản 1 và 2 của điều này sẽ được quốc gia thành viên được yêu cầu đưa ra sao cho phù hợp với nội luật và tuân thủ theo các quy định của nội luật quốc gia đó cũng như phù hợp với những nguyên tắc về thủ tục của quốc gia đó hay bất cứ điều ước, hiệp định, thoả thuận song phương hay đa phương nào mà quốc gia đó phải tuân theo trong quan hệ với quốc gia thành viên có yêu cầu.

5. Mỗi quốc gia thành viên cung cấp cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc bản sao các luật và quy định áp dụng điều này và bất cứ sửa đổi nào đối với những luật và quy định này hoặc các văn bản hướng dẫn.

6. Nếu một quốc gia thành viên quyết định thực hiện các biện pháp nói đến tại khoản 1 và 2 của điều này với điều kiện phải có điều ước quốc tế liên quan điều chỉnh thì quốc gia thành viên đó sẽ coi Công ước này là cơ sở cần và đủ cho điều kiện trên.

7. Quốc gia thành viên có thể từ chối hợp tác theo quy định tại điều này nếu hành vi phạm tội mà yêu cầu hợp tác đề cập không phải là một hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh.

8. Trong bất kỳ trường hợp nào, việc giải thích các quy định của điều này không được làm phương hại đến quyền của bên thứ ba ngay tình.

9. Các quốc gia thành viên sẽ nghiên cứu ký kết các điều ước, hiệp ước hiệp định hay thỏa thuận song phương và đa phương để tăng cường hiệu quả của hợp tác quốc tế được thực hiện theo quy định của điều này.

Điều 14. Xử lý tài sản do phạm tội mà có hoặc tài sản bị tịch thu

1. Tài sản do phạm tội mà có hay tài sản mà một quốc gia thành viên tịch thu theo điều 12 hoặc đieèu 13 khoản 1 của Công ước này sẽ do quốc gia đó xử lý phù hợp với nội luật và các thủ tục hành chính của quốc gia này.

2. Khi thực hiện yêu cầu của một quốc gia thành viên khác theo quy định tại điều 13 Công ước này, các quốc gia thành viên, trong chứng mực nội luật cho phép và nếu được đề nghị, sẽ ưu tiên xem xét việc trao trả lại tài sản do phạm tội mà có hay tài sản bị tịch thu cho quốc gia thành viên yêu cầu để quốc gia này có thể đền bù cho các nạn nhân hoặc trả lại những tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp của chúng.

3. Khi thực hiện yêu cầu của một quốc gia thành viên khác theo quy định tại các điều 12 và 13 Công ước này, một quốc gia thành viên có thể chú trọng xem xét ký kết các hiệp định hay thoả thuận về :

a) Nộp giá trị của tài sản do phạm tội mà có hay giá trị các tài sản tịch thu được hoặc tòan phần hay một phần số tiền có được từ việc bán các tài sản đó vào tài khoản được mở theo quy định tại điều 32, khonả 2, c) cura Công ước này cho các có quan liên Chính phủ chuyên trách chống tội phạm có tổ chức;

b) Chia xẻ với các quốc gia khác, đối với tất cả các vụ việc hay theo từng vụ việc, tài sản do phạm tội mà có hoặc tài sản hay những khoản tiền có được từ việc bán những tài sản đó phù hợp với quy định của nội luật và các thủ tục hành chính của quốc gia mình.

Điều 15. Thẩm quyền

1. Mỗi quốc gia thành viên áp dụng những biện pháp cần thiết để thiết lập thẩm quyền của mình đối với những hành vi phạm tội theo quy định taị các điều 5, 6, 8, và 23 của Công ước này trong những trường hợp sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ quốc gia thành viên đó; hoặc:
b) Hành vi phạm tội được thực hiện trên boong tàu mang cờ của quốc gia thành viên đó hoặc trên máy bay đăng ký theo luật của quốc gia thành viên đó vào thời điểm xảy ra hành vi phạm tội.

2. Không trái với các quy định tại điều 4 Công ước này, một quốc gia thành viên cũng có thể thiết lập thẩm quyền của mình đối với bất kỳ hành vi phạm tội nào trong số các hành vi phạm tội quy định tại các điều 5, 6, 8, và 23 khi:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện chống lại một công dân của quốc gia thành viên đó;

b) Hành vi phạm tội do một công dân của quốc gia thành viên đó hay một người không quốc tịch thường trú trên lãnh thổ của quốc gia đó thực hiện; hoặc
c) Hành vi phạm tội là:
i) Một trong những hành vi được quy định tại khoản 1 điều 5 của Công ước này và được thực hiện bên ngoài lãnh thổ của quốc gia đó nhằm thực hiện một tội phạm nghiêm trọng trong lãnh thổ của quốc gia đó;

ii) Một trong những hành vi được quy định tại điều 6, khoản 1, b), ii) Công ước này và được thực hiện bên ngoài lãnh thổ quốc gia đó nhằm thực hiện một hành vi phạm tội theo quy định tại điều 6, khoản 1 điểm a) i) hoặc ii) hay điểm b) i) Công ước này trong lãnh thổ quốc gia đó.

3. Theo quy định tại điều 16, khoản 10 Công ước này, mỗi quốc gia thành viên sẽ aps dụng những biện pháp cần thiết để thiết lập thẩm quyền của mình đối với những hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh khi người bị tình nghi là tội phạm có mặt trên lãnh thổ quốc gia đó và quốc gia đó không dẫn độ người này với lý do người này là công dân của quốc gia đó.

4. Mỗi quốc gia thành viên cũng có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để thiết lập thẩm quyền của mình đối với những hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh khi người bị tình nghi là tội phạm có mặt trên lãnh thổ quốc gia đó và quốc gia đó không dẫn độ người này.

5. Nếu một quốc gia thành viên thực hiện thẩm quyền của mình theo khoản 1 hoặc 2 của điều này đã được thông báo hoặc bằng cách nào đó biết được rằng một hay nhiều quốc gia thành viên khác đang tiến hành việc điều tra, truy tố hay xét xử đối với cùng hành vi đó thì các cơ quan có thẩm quyền của những quốc gia thành viên này sẽ tham khảo với nhau theo những điều kiện thích hợp để phối hợp hoạt động.

6. Không làm phương hại đến các chuẩn mực của pháp luật quốc tế chung, Công ước này không loại trừ việc thực hiện quyền tài phán hình sự của một quốc gia thành viên phù hợp với pháp luật của quốc gia đó.

Điều 16. Dẫn độ

1.

Điều này được áp dụng đối với các hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh hoặc đối với những trường hợp khi một nhóm tội phạm có tổ chức liên quan đến một hành vi phạm tội được đề cập đến trong điều 3 khoản 1 a) hoặc 1 b) và người là đối tượng của yêu cầu dẫn độ đang sống trên lãnh thổ quốc gia thành viên được yêu cầu, với điều kiện là hành vi phạm tội dẫn đến việc dẫn độ đáng bị trừng phạt theo nội luật của cả quốc gia yêu cầu lẫn quốc gia được yêu cầu.

2. Nếu nội dung yêu cầu dẫn độ bao gồm nhiều tội phạm nghiêm trọng riêng biệt với nhau trong đó có một số tội không được Công ước này điều chỉnh thì quốc gia thành viên được yêu cầu cũng có thể áp dụng điều này đối với những tội đó.

3. Trong bất cứ điều ước dẫn độ tội phạm nào đã có giữa các quốc gia thành viên, mỗi hành vi phạm tội là đối tượng áp dụng của điều này cũng sẽ đương nhiên được coi là hành vi mà người thực hiện nó có thể bị dẫn độ. Các quốc gia thành viên cam kết quy định những hành vi phạm tội này thành những hành vi phạm tội mà người thực hiện có thể bị dẫn độ trong mọi điều ước về dẫn độ sẽ được ký kết giữa các quốc gia đó.

4. Khi một quốc gia thành viên quy định việc ký kết điều ước là điều kiện để dẫn độ nhận được yêu cầu dẫn độ từ một quốc gia thành viên khác mà giữa họ chưa có điều ước về dẫn độ nào thì quốc gia thành viên được yêu cầu có thể coi Công ước này như là cơ sở pháp lý cho việc dẫn độ đối với bất cứ hành vi phạm tội nào mà điều này áp dụng.

5. Các quốc gia thành viên có quy định việc ký kết điều ước là điều kiện để dẫn độ sẽ :

a) Thông báo cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, vào thời điểm nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay ra nhập Công ước này, việc họ có lấy Công ước này làm cơ sở pháp lý cho việc hợp tác với các quốc gia khác trong lĩnh vực dẫn độ hay không ; và
b) Cố gắng ký kết các điều ước về dẫn độ với các quốc gia thành viên khác của Công ước này để thực hiện điều này khi cần thiết, nếu họ không lấy Công ước này làm cơ sở pháp lý cho việc hợp tác dẫn độ.

6. Những quốc gia thành viên không quy định việc dẫn độ theo điều ước sẽ cùng công nhận các hành vi phạm tội mà điều này áp dụng là những hành vi phạm tội mà người thực hiện chúng có thể bị dẫn độ.

7. Việc dẫn độ phải tuân theo các điều kiện được quy định trong nội luật của quốc gia thành viên được yêu cầu hoặc trong các điều ước về dẫn độ có hiệu lực, bao gồm cả những điều kiện liên quan đến mức phạt tối thiểu được yêu cầu để dẫn độ và những lý do vì đó quốc gia thành viên được yêu cầu từ chối dẫn độ.

8. Trên cơ sở không trái với pháp luật quốc gia của họ, các quốc gia thành viên sẽ cố gắng tiến hành các thủ tục dẫn độ và đơn giản hoá các yêu cầu về bằng chứng có liên quan đối với bất kỳ hành vi phạm tội nào thuộc phạm vi áp dụng của điều này.

9. Nếu quốc gia thành viên được yêu cầu nhận thấy hoàn cảnh đòi hỏi và cấp thiết thì, theo đề nghị của quốc gia thành viên yêu cầu và trên cơ sở phù hợp với các quy định trong nội luật cũng như trong các điều ước về dẫn độ mà mình đã ký kết, có thể bắt giữ người cần được dẫn độ hiện đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia mình hoặc tiến hành những biện pháp thích hợp khác để đảm bảo sự có mặt của người này khi thực hiện thủ tục dẫn độ.

10. Nếu một quốc gia thành viên nơi một bị can về một tội phạm thuộc phạm vi áp dụng của điều này đang cư trú không dẫn độ người này với lý do rằng người đó là công dân của mình thì khi nhận được yêu cầu của quốc gia thành viên muốn dẫn độ, sẽ phải chuyển ngay vụ việc này cho các cơ quan có thẩm quyền truy tố. Cơ quan có thẩm quyền đó sẽ đưa ra quyết định của họ và tiến hành truy tố theo một trình tự thủ tục giống như đối với những hành vi phạm tội khác có cùng mức độ nghiêm trọng theo quy định của pháp luật của quốc gia thành viên nói trên. Các quốc gia thành viên hữu quan sẽ hợp tác với nhau, đặc biệt là trong quá lĩnh vực tố tụng và chứng cứ, để đảm bảo truy tố có hiệu quả.

11. Khi một quốc gia thành viên, theo quy định của nội luật, chỉ được phép dẫn độ hoặc chuyển giao dưới bất kỳ hình thức nào khác công dân của mình với điều kiện sau khi xét xử công dân đó phải được trở về thi hành án tại quốc gia đó và quốc gia thành viên yêu cầu dẫn độ cũng đồng ý với điều kiện này cũng như những điều kiện thích hợp khác, thì việc dẫn độ hoặc chuyển giao có điều kiện nói trên coi như đã thỏa mãn các nghĩa vụ quy định tại khoản 10 điều này.

12. Nếu một quốc gia từ chối yêu cầu dẫn độ để thi hành án với lý do người bị dẫn độ là công dân của mình thì quốc gia đó, theo đề nghị của quốc gia yêu cầu dẫn độ và trên cơ sở phù hợp với các quy định của nội luật nước mình, sẽ xam xét việc cho thi hành tòan bộ hoặc một phần còn lại của hình phạt theo bản án của quốc gia yêu cầu.

13. Bất cứ người nào đang là đối tượng của việc truy tố vì một trong số những hành vi phạm tội thuộc phạm vi áp dụng của điều này sẽ được đảm bảo sự đối sử công bằng trong mọi giai đoạn tố tụng, kể cả việc hưởng đầy đủ các quyền và những đảm bảo theo quy định trong nội luật của quốc gia thành viên nơi người đó cư trú.

14. Công ước này không có quy định nào có thể được giải thích là áp đặt nghĩa vụ dẫn độ nếu quốc gia thành viên được yêu cầu có đầy đủ lý do để tin rằng yêu cầu được đưa ra là nhằm mục đích truy tố hay trừng trị một người vì lý do giới tính, tôn giáo, chủng tộc, quốc tịch, nguồn gốc dân tộc hay quan điểm chính trị của người đó hoặc rằng việc thực hiện yêu cầu sẽ làm phương hại đến người đó vì một trong những lý do trên.

15. các quốc gia thành viên có thể từ chối yêu cầu dẫn độ với lý do hành vi phạm tội cũng liên quan đến những vấn đề về thuế.

16. Trước khi từ chối dẫn độ, nếu cần thiết, quốc gia được yêu cầu sẽ tham khảo quốc gia yêu cầu để quốc gia này có thể bày tỏ quan điểm và cung cấp những thông tin làm cơ sở cho những nghi vấn của họ.

17. Các quốc gia thành viên sẽ cố gắng ký kết các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương hoặc đa phương để thực hiện việc dẫn độ hoặc để dẫn độ hiệu quả hơn.

Điều 17. Chuyển gia người bị kết án

Các quốc gia thành viên có thể nghiên cứu ký kết các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương hoặc đa phương về việc chuyển giao vào lãnh thổ của họ những người bị phạt tù hoặc những hình phạt tước bỏ quyền tự do khác vì những hành vi phạm tội được quy định tại Công ước này, để nhữung người này có thể chấp hành xong bản án của họ tại lãnh thổ đó.

Điều 18. Tương trợ pháp lý

1. Các quốc gia thành viên sẽ dành cho nhau sự tương trợ pháp lý đầy đủ nhất có thể trong việc điều tra, truy tố và xét xử liên quan đến các hành vi phạm tội được quy định tại điều 3 Công ước này và thỏa thuận thực hiện tương trợ pháp lý tương tự cho một quốc gia thành viên khác có yêu cầu nếu quốc gia thành viên đó có đầy đủ lý do chính đáng để nghi ngờ rằng hành vi phạm tội như được nêu tại điều 3, khoản 1 a) hoặc b) là có tính chất xuyên quốc gia, kể cả khi các nạn nhân, nhân chứng, tài sản, phương tiện hoặc chứng cứ của các hành vi phạm tội đó đang nằm tại quốc gia thành viên được yêu cầu và có liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức.

2. Quốc gia thành viên được yêu cầu sẽ thực hiện tương trợ pháp lý trong phạm vi khả năng của mình phù hợp với luật pháp, các hiệp ước, hiệp định và thỏa thuận có liên quan của nước đó đối với các thủ tục điều tra, tố tụng và xét xử liên quan đến các hành vi phạm tội mà một pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý theo điều 10 của Công ước này tại quốc gia thành viên yêu cầu.

3. Có thể yêu cầu tương trợ pháp lý theo quy định tại điều này nhằm những mục đích sau đây:

a) Lấy chứng cứ hoặc lời khai;

b) Thực hiện tống đạt giấy tờ tư pháp;

c) Thực hiện khám xét, tạm giữ và niêm phong;

d) Khám nghiệm đồ vật và hiện trường;

e) Cung cấp thông tin, vật chứng và đánh giá của người giám định;

f) Cung cấp các bản gốc hoặc bản sao có công chứng của các giấy tờ, hồ sơ cần thiết, kể cả các giấy tờ tài liệu hành chính, ngân hàng, tài chính hoặc thương mại cũng như các hồ sơ kinh doanh;

g) Nhận dạng hoặc xác định tài sản do phạm tội mà có, tài sản, công cụ hoặc các đồ vật khác để phục vụ mục đích thu thập chứng cứ;

h) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc trình diện tự nguyện của những cá nhân liên quan tại quốc gia thành viên yêu cầu;

i) Thực hiện bất cứ hình thức tương trợ nào khác phù hợp với pháp luật của quốc gia thành viên được yêu cầu.

4. Không trái với nội luật, các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên có thể chuyển các thông tin liên quan đến những vụ án hình sự đến cho cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia thành viên khác mà không cần báo trước nếu thấy rằng những thông tin đó có thể giúp ích cho cơ quan có thẩm quyền của quốc gia kia trong việc thực hiện hoặc hoàn thành công tác điều tra và truy tố hình sự hoặc có thể tác động để quốc gia thành viên kia thực hiện một yêu cầu phù hợp với công ước này.

5. Việc cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 4 của điều này không làm phương hại đến công tác điều tra và truy tố hình sự được thực hiện tại quốc gia của các cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin. Các cơ quan có thẩm quyền nhận thông tin sẽ tuân thủ yêu cầu về bảo mật ngay cả trong trường hợp tạm thời hoặc hạn chế những trường hợp được phép sử dụng thông tin đó. Tuy nhiên, điều này sẽ không ngăn cản quốc gia thành viên nhận thông tin tiết lộ thông tin đó khi tiến hành các thủ tục tư pháp nhằm bào chữa cho một người bị kết tội. Trong trường hợp này, quốc gia thành viên nhận thông tin sẽ thông báo cho quốc gia cung cấp thông tin trước khi tiết lộ những thông tin đó và sẽ tham khảo ý kiến của quốc gia cung cấp thông tin nếu được yêu cầu như vậy. Trong trường hợp đặc biệt, nếu không thể thông báo trước thì quốc gia thành viên nhận thông tin sẽ thông báo cho quốc gia thành viên cung cấp thông tin về việc tiết lộ thông tin mà không có bất cứ sự trì hoãn nào.

6. Các quy định tại điều này tuyệt đối không ảnh hưởng đến những nghĩa vụ theo bất cứ điều ước song phương hoặc đa phương nào khác điều chỉnh hoặc sẽ điều chỉnh toàn bộ hoặc một phần vấn đề tương trợ pháp lý.

7. Các khoản từ 9 đến 29 của điều này sẽ được áp dụng cho các yêu cầu tương trợ pháp lý được đưa ra theo quy định của điều này nếu các quốc gia thành viên liên quan không bị ràng buộc bởi một điều ước quốc tế khác về vấn đề tương trợ pháp lý. Trong trường hợp các quốc gia thành viên bị ràng buộc bởi một điều ước như vậy thì các quy định tương đương của điều ước sẽ được áp dụng trừ khi các quốc gia thành viên đó thỏa thuận áp dụng các khoản 9 đến 29 của điều này thay cho các quy định của điều ước đó. Các quốc gia thành viên được khuyến khích áp dụng các khoản này nếu chúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa các quốc gia thành viên.

8. Các quốc gia thành viên không thể từ chối thực hiện tương trợ pháp lý theo quy định tại điều này vì lý do bảo mật ngân hàng.

9. Các quốc gia thành viên có thể từ chối tương trợ pháp lý theo quy định tại điều này với lý do tội phạm hình sự tại quốc gia này không phải là tội phạm hình sự tại quốc gia kia. Tuy nhiên, nếu quốc gia thành viên được yêu cầu thấy thích hợp thì có thể thực hiện việc tương trợ pháp lý theo chừng mực tuỳ ý bất kể việc hành vi đó có cấu thành một hành vi phạm tội theo nội luật của quốc gia đó hay không.

10. Một người đang bị giam giữ hoặc chấp hành án trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên được yêu cầu trình diện tại một quốc gia thành viên khác để nhận dạng, đưa ra lời khai hoặc trợ giúp trong việc thu thập chứng cứ cho các hoạt động điều tra, truy tố, hoặc cho các thủ tục tư pháp liên quan đến các hành vi phạm tội được công ước này điều chỉnh có thể được dẫn giải sang quốc gia thành viên yêu cầu nếu các điều kiện sau đây được đáp ứng đầy đủ:

a) Người đó hoàn toàn đồng ý;

b) Các cơ quan có thẩm quyền của cả hai quốc gia thành viên đồng ý, theo các điều kiện mà các quốc gia thành viên đó thấy thích đáng.

11. Theo quy định tại khoản 10 của điều này:

a) Quốc gia thành viên nơi người đó được dẫn giải tới có quyền và nghĩa vụ giam giữ người đó, trừ khi quốc gia thành viên từ đó người đó được dẫn giải đi có yêu cầu hoặc uỷ quyền khác;

b) Quốc gia thành viên nơi người đó được dẫn giải tới sẽ không chậm trễ thực hiện nghĩa vụ trao trả người đó lại cho quốc gia thành viên nơi người đó được dẫn giải đi như đã thỏa thuận trước hoặc theo thỏa thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của cả hai quốc gia thành viên.

c) Quốc gia thành viên nơi người đó được dẫn giải tới sẽ không yêu cầu quốc gia thành viên nơi người đó được dẫn giải đi phải tiến hành các thủ tục dẫn độ để trao trả lại người đó;

d) Thời gian bị giam giữ của người đó tại quốc gia thành viên nơi được dẫn giải đến sẽ được tính vào thời gian của hình phạt mà người đó phải chấp hành tại quốc gia nơi họ được dẫn giải đi.

12. Trừ khi quốc gia thành viên nơi một người được dẫn giải đi theo quy định tại khoản 10 và 11 của điều này đồng ý thì dù mang quốc tịch của bất cứ nước nào, người đó cũng sẽ không bị bắt giam, truy tố, trừng phạt hoặc phải chịu bất kỳ sự hạn chế về tự do cá nhân nào tại lãnh thổ của quốc gia nơi người đó được dẫn giải tới liên quan đến các hành vi mà người đó thực hiện trước khi rời khỏi lãnh thổ của quốc gia nơi người đó được dẫn giải đi.

13. Mỗi quốc gia thành viên sẽ chỉ định một cơ quan cấp trung ương có trách nhiệm và quyền hạn tiếp nhận các yêu cầu tương trợ pháp lý và thực hiện các yêu cầu đó hoặc chuyển chúng cho các cơ quan có thẩm quyền của mình để thực hiện. Nếu một quốc gia thành viên có một vùng hoặc lãnh thổ đặc biệt với hệ thống tương trợ pháp lý riêng biệt, thì quốc gia đó có thể chỉ định một cơ quan trung ương chuyên biệt có chức năng tương tự cho vùng hoặc lãnh thổ đó. Các cơ quan trung ương nói trên sẽ đảm bảo việc thực hiện hoặc chuyển giao để thực hiện các yêu cầu tương trợ pháp lý mà họ nhận được một cách nhanh chóng và đúng thể thức. Quốc gia thành viên sẽ thông báo về cơ quan trung ương được chỉ định nhằm thực hiện các nhiệm vụ nói trên cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc vào thời điểm gửi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập của mình đối với công ước này. Các yêu cầu tương trợ pháp lý và bất kỳ thông tin nào liên quan đến các yêu cầu đó sẽ được chuyển đến các cơ quan trung ương mà quốc gia thành viên đã chỉ định. Quy định này không làm phương hại đến quyền của mỗi quốc gia thành viên được đề nghị chuyển các yêu cầu và thông tin qua đường ngoại giao và, trong các trường hợp khẩn cấp, qua tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế nếu các quốc gia thành viên đồng ý và nếu có thể.

14. Các yêu cầu tương trợ pháp lý phải được viết bằng văn bản hoặc, nếu có thể, bằng bất kỳ phương tiện nào tạo ra được văn bản, được lập bằng ngôn ngữ mà quốc gia thành viên được yêu cầu chấp thuận, theo các điều kiện cho phép quốc gia thành viên đo có thể chứng thực được yêu cầu tương trợ pháp lý. Quốc gia thành viên phải thông báo về một hoặc nhiều ngôn ngữ mà quốc gia đó có thể chấp thuận cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc vào thời điểm gửi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập công ước này. Trong các trường hợp khẩn cấp và nếu các quốc gia thành viên đồng ý, các yêu cầu có thể được đưa ra bằng miệng, nhưng sẽ được khẳng định bằng văn bản ngay sau đó.

15. Yêu cầu tương trợ pháp lý phải bao gồm các thông tin sau đây :

a) Tên cơ quan yêu cầu;

b) Nội dung và tính chất của việc điều tra, truy tố hoặc của thủ tục tư pháp được đề cập trong yêu cầu tương trợ pháp lý và tên, chức năng của cơ quan tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố và thủ tục tư pháp;

c) Tóm tắt các sự kiện liên quan, trừ trường hợp các yêu cầu tương trợ liên quan đến việc tống đạt giấy tờ tư pháp;

d) Nội dung tương trợ được yêu cầu và chi tiết về bất ky thủ tục đặc biệt nào mà quốc gia thành viên yêu cầu muốn yêu cầu áp dụng;

e) Nhận dạng, địa chỉ và quốc tịch của bất kỳ người nào có liên quan nếu có thể; và
f) Mục đích của việc yêu cầu tìm bằng chứng, thông tin hoặc của những biện pháp được yêu cầu thực hiện.

16. Quốc gia thành viên được yêu cầu có thể đề nghị được cung cấp thêm thông tin nếu những thông tin đó là cần thiết cho việc thực hiện yêu cầu phù hợp với nội luật của quốc gia này hoặc những thông tin đó có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện yêu cầu.

17. Mọi yêu cầu tương trợ pháp lý sẽ được thực hiện phù hợp với nội luật của quốc gia thành viên được yêu cầu và nếu có thể, phù hợp với các thủ tục được nêu trong yêu cầu trong chừng mực không trái với nội luật của quốc gia đó.

18. Khi một cá nhân đang cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên và phải đưa ra lời khai với tư cách là nhân chứng hoặc chuyên gia cho các cơ quan tư pháp của một quốc gia thành viên khác, thì quốc gia thành viên nơi người đó cư trú, theo yêu cầu của quốc gia thành viên kia, nếu có thể và nếu phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của nội luật, sẽ cho phép lấy lời khai qua video nếu quốc gia này không thể để hoặc không muốn cá nhân đó trinhf diện trên lãnh thổ của quốc gia thành viên yêu cầu. Các quốc gia thành viên sẽ đồng ý để cơ quan tư pháp của quốc gia thành viên yêu cầu tiến hành lấy lời khai với sự chứng kiến của cơ quan tư pháp của quốc gia thành viên được yêu cầu.

19. Quốc gia thành viên yêu cầu sẽ không chuyển giao và không sử dụng thông tin hay chứng cứ mà quốc gia thành viên được yêu cầu cung cấp nhằm phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố hoặc cho các thủ tục tư pháp vào những mục đích không được nêu trong yêu cầu nếu không có sự đồng ý trước của quốc gia được yêu cầu. Không quy định nào trong khoản này ngăn cản quốc gia thành viên yêu cầu tiết lộ các thông tin hoặc chứng cứ trong khi tiến hành thủ tục tố tụng nhằm bào chữa cho bị cáo. Trong trường hợp này, quốc gia thành viên yêu cầu sẽ thông báo cho quốc gia thành viên được yêu cầu trước khi đưa ra thông tin và bằng chứng và sẽ tham khảo ý kiến của n quốc gia thành viên được yêu cầu nếu quốc gia này đề nghị như vậy. Trong trường hợp ngoại lệ, nếu không thể báo trước thì quốc gia thành viên yêu cầu sẽ thông báo cho quốc gia thành viên được yêu cầu về việc tiết lộ thông tin hoặc chứng cứ mà không được phép trì hoãn.

20. Quốc gia thành viên yêu cầu có thể đề nghị quốc gia thành viên được yêu cầu giữ bí mật về yêu cầu và về nội dung yêu cầu, trừ trường hợp cần thiết để thực hiện yêu cầu đó. Nếu quốc gia thành viên được yêu cầu không thể đáp ứng được đề nghị về bảo mật thì quốc gia thành viên đó sẽ thông báo ngay lập tức cho quốc gia thành viên yêu cầu.

21. Có thể từ chối tương trợ pháp lý:

a) Nếu yêu cầu được đưa ra không phù hợp với những quy định tại khoản này;

b) Nếu quốc gia thành viên được yêu cầu thấy rằng việc đáp ứng yêu cầu có thể làm phương hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự công cộng hoặc các lợi ích thiết yêu của quốc gia thành viên đó.

c) Nếu nội luật của quốc gia thành viên được yêu cầu không cho phép các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó thực hiện những hoạt động theo yêu cầu nếu hành vi phạm tội là một hành vi tương tự đã được điều tra, truy tố hoặc tiến hành các thủ tục tư pháp trong khuôn khổ thẩm quyền của chính quốc gia đó;

d) Nếu việc chấp thuận đáp ứng yêu cầu tương trợ pháp lý là trái với hệ thống pháp luật của quốc gia thành viên được yêu cầu.

22. Các quốc gia thành viên không thể từ chối một yêu cầu tương trợ pháp lý với lý do hành vi phạm tội có liên quan đến các vấn đề về thuế.

23. Bất kỳ sự từ chối tương trợ pháp lý nào cũng phải có lý do.

24. Quốc gia thành viên được yêu cầu sẽ thực hiện yêu cầu tương trợ pháp lý càng sớm càng tốt và sẽ hết sức lưu ý đến bất kỳ thời hạn nào được quốc gia thành viên yêu cầu gợi ý kèm theo lý do được trình bày trong yêu cầu. Quốc gia thành viên được yêu cầu sẽ đáp ứng những đề nghị chính đáng của quốc gia thành viên yêu cầu về tiến trình thực hiện yêu cầu. Khi việc tương trợ pháp lý được yêu cầu không còn cần thiết nữa, quốc gia thành viên yêu cầu sẽ thông báo ngay lập tức cho quốc gia thành viên được yêu cầu.

25. Quốc gia thành viên được yêu cầu có thể trì hoãn thực hiện tương trợ pháp lý với lý do việc tương trợ pháp lý đó sẽ gây trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố hoặc một thủ tục tư pháp đang được tiến hành.

26. Trước khi từ chối đáp ứng yêu cầu tương trợ pháp lý theo khoản 21 của điều này hoặc trì hoãn việc thực hiện yêu cầu theo khoản 25 của điều này, quốc gia thành viên được yêu cầu sẽ cùng với quốc gia thành viên yêu cầu xem xét khả năng thực hiện tương trợ pháp lý với những điều kiện mà quốc gia thành viên được yêu cầu cho là cần thiết. Nếu quốc gia thành viên yêu cầu chấp nhận những điều kiện mà quốc gia thành viên được yêu cầu đưa ra thì quốc gia này sẽ thực hiện tương trợ pháp lý với những điều kiện đó.

27. Không làm phương hại đến việc áp dụng khoản 12 của điều này, nhân chứng, người giám định hay một người nào khác, theo đề nghị của quốc gia thành viên yêu cầu, đồng ý cung cấp chứng cứ trong một vụ kiện hoặc hỗ trợ các hoạt động điều tra, truy tố, hoặc tham gia vào một thủ tục tư pháp trên lãnh thổ quốc gia thành viên yêu cầu sẽ không bị truy tố, giam giữ, trừng phạt hoặc chịu bất kỳ hình thức hạn chế tự do nào khác trong lãnh thổ của quốc gia thành viên đó liên quan ddến các hành vi được thực hiện trước khi ra khỏi lãnh thổ của quốc gia thành viên được yêu cầu. Tình trạng an toàn này sẽ chấm dứt khi nhân chứng, người giám định hoặc một người nào khác, trong vòng 15 ngày liên tục hoặc trong một thời gian được thoả thuận giữa các quốc gia thành viên từ ngày người đó được chính thức thông báo rằng các cơ quan xét xử không yêu cầu người đó phải có mặt nữa, đã có cơ hội ra khỏi nhưng vẫn tự nguyện ở lại trong lãnh thổ của quốc gia thành viên yêu cầu, hoặc đã rời khỏi lãnh thổ quốc gia đó nhưng lại quay trở lại theo ý nguyện của chính họ.

28. Các chi phí thông thường cho việc thực hiện yêu cầu tương trợ pháp lý sẽ do quốc gia thành viên được yêu cần chi trả, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các quốc gia thành viên có liên quan. Nếu cần phải có những khoản chi phí đặc biệt hoặc những khoản chi phí lớn cho việc thực hiện yêu cầu thì các quốc gia thành viên sẽ cùng nhau tham khảo ý kiến để quyết định các điều kiện theo đó yêu cầu sẽ được thực hiện cũng như cách thức thanh toán chi phí.

29. Quốc gia thành viên được yêu cầu :

a) Sẽ cung cấp cho quốc gia thành viên yêu cầu bản sao các hồ sơ, tài liệu hoặc giấy tờ thông tin hành chính mình có nếu những hồ sơ, tài liệu, giấy tờ này là công khai theo quy định của nội luật;

b) Có thể tuỳ ý cung cấp cho quốc gia thành viên yêu cầu bản sao của toàn bộ, một phần hoặc với những điều kiện thích đáng những hồ sơ, tài liệu hoặc thông tin hành chính mình có nếu những hồ sơ, tài liệu hoặc thông tin đó là không công khai theo quy định của nội luật.

30. Các quốc gia thành viên sẽ xem xét, nếu cần thiết, khả năng ký kết các thỏa thuận song phương hoặc đa phương nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục đích và các quy định tại điều này và nhằm đem lại hiệu lực thực tế hoặc củng cố các quy định đó.

Điều 19.

Điều tra phối hợp

Các quốc gia thành viên thành viên sẽ xem xét việc ký kết các thoả thuận song phương hoặc đa phương nhằm tạo điều kiện để các cơ quan có thẩm quyền liên quan có thể thiết lập cơ chế điều tra phối hợp về những ván đề là đối tượng của các hoạt động điều tra, truy tố hoặc của các thủ tục tư pháp tại một hoặc nhiều quốc gia. Nếu không có các hiệp định hoặc thỏa thuận như vậy thì việc phối hợp điều tra có thể được thực hiện dựa trên thỏa thuận theo từng vụ việc. Các quốc gia thành viên liên quan đảm bảo rằng chủ quyền của quốc gia nơi tiến hành hoạt động điều tra sẽ hoàn toàn được tôn trọng.

Điều 20. Các kỹ thuật điều tra đặc biệt

1. Nếu các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật trong nước cho phép, trong phạm vi khả năng của mình và phù hợp với các quy định của nội luật, mỗi quốc gia thành viên sẽ thực thi các biện pháp cần thiết để cho phép các cơ quan có thẩm quyền trong lãnh thổ của mình áp dụng hợp lý các kỹ thuật giao hàng có kiểm soát và nếu thích hợp, áp dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt khác như kỹ thuật giám sát điện tử hoặc các hình thức giám sát khác và các hoạt động cài người nhằm đấu tranh chống tội phạm có tổ chức một cách có hiệu quả.

2. Nhằm mục đích điều tra các hành vi phạm tội được điều chỉnh tại Công ước này và nếu cần thết, các quốc gia thành viên được khuyến khích ký kết các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương hoặc đa phương thích hợp để sử dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt trong khuôn khổ hợp tác quốc tế. Các hiệp định hoặc thỏa thuận như vậy sẽ được ký kết và áp dụng phù hợp với nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và sẽ được thực hiện hoàn tòan phù hợp với các quy định trong các hiệp định hoặc thỏa thuận đó.

3. Nếu không có một hiệp định hay thỏa thuận như được nêu trong khoản 2 của điều này, quyết định sử dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt ở cấp độ quốc tế nói trên sẽ được đưa ra trên cơ sở từng vụ việc và, nếu cần có thể xem xét các thỏa thuận về tài chính liên quan đến việc thực hiện thẩm quyền của các quốc gia thành viên liên quan.

4. Các kỹ thuật điều tra dưới hình thức giao hàng có kiểm soát ở mức độ quốc tế theo sự đồng ý của các quốc gia thành viên liên quan sẽ bao gồm các phương pháp như chặn hàng hoá lại hoặc cho phép được tiếp tục vận chuyển mà vẫn giữ nguyên hàng hóa hoặc tiếp tục vận chuyển sau khi đã huỷ bỏ hoặc thay thế toàn bộ hay một phần số hàng hoá đó.

Điều 21. Chuyển giao vụ án hình sự

Mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét khả năng chuyển giao cho nhau các vụ án để truy tố một hành vi phạm tội được công ước này điều chỉnh trong trường hợp việc chuyển giao đó được đánh giá là có lợi cho việc thi hành công lý và đặc biệt là để tập trung việc truy tố trong trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền của nhiều tòa án.

Điều 22. Thiết lập hồ sơ tội phạm

Mỗi quốc gia thành viên có thể ban hành pháp luật hay các biện pháp cần thiết khác, theo những điều kiện và vì những mục đích mà quốc gia đó thấy phù hợp, để nắm bắt được thông tin về bất cứ bản án nào được đưa ra ở một quốc gia thành viên khác đối với một người bị nghi là thủ phạm của một hành vi tội phạm, nhằm sử dụng những thông tin này trong thủ tục tố tụng hình sự liên quan đến một hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước này.

Điều 23. Quy định thành tội phạm hình sự hành vi cản trở hoạt động tư pháp.

Mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự các hành vi sau đây nếu các hành vi này được thực hiện một cách cố ý:

a) Sử dụng vũ lực, đe doạ hoặc hăm dọa hoặc hứa hẹn, trao tặng hay dành một lợi ích không chính đáng để người làm chứng khai sai sự thật hoặc để cản trở việc đưa ra lời khai hay đưa ra chứng cứ trong một vụ án liên quan đến các hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước này.

b) Sử dụng vũ lực, đe doạ hay hăm dọa nhằm gây cản trở đối với nhân viên tư pháp hoặc nhân viên của các cơ quan điều tra, trấn áp tội phạm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của họ liên quan đến các hành vi phạm tội được điều chỉnh trong Công ước này. Không một quy định nào tại Điểm này làm phương hại đến quyền của các quốc gia thành viên được ban hành các quy định pháp luật để bảo vệ các loại viên chức khác.

Điều 24. Bảo vệ nhân chứng.

1. Trong khả năng của mình, mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện pháp phù hợp để bảo vệ nhân chứng trong các vụ án hình sự một cách hiệu quả khỏi nguy cơ bị trả thù hoặc đe doạ hay hăm dọa khi họ cung cấp chứng cứ liên quan đến các hành vi phạm tội theo quy định tại công ước này và, nếu cần thiết, bảo vệ họ hàng hay những người thân thích của họ.

2. Không làm phương hại đến các quyền của bị cáo, trong đó có quyền khiếu kiện chính đáng, các biện pháp được quy định tại khoản 1 điều này có thể là:

a) Thiết lập các thủ tục để bảo vệ về mặt thân thể cho những người nói trên, ví dụ như thay đổi chỗ ở cho họ trong chừng mực cần thiết và khả thi và cấm hoặc hạn chế tiết lộ thông tin liên quan đến nhận dạng và chỗ ở của họ nếu cần thiết;

b) Quy định các quy tắc về thu thập chứng cứ để có thể lấy được lời khai của nhân chứng mà vẫn đảm bảo được an toàn cho họ, như cho phép lấy lời khai thông qua các kỹ thuật thông tin như kết nối video hoặc các biện pháp thích hợp khác.

3. Các quốc gia thành viên sẽ xem xét việc ký kết các hiệp định hoặc thoả thuận với các quốc gia khác để thay đổi chỗ ở của những người như được nêu trong khỏan 1 điều này.

4. Các quy định tại điều này cũng được áp dụng đối với các nạn nhân khi họ đồng thời là nhân chứng.

Điều 25. Hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân.

1. Trong khả năng của mình, mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm hỗ trợ và bảo vệ các nạn nhân của các hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước này, đặc biệt là trong trường hợp họ bị đe dọa trả thù hoặc hăm dọa.

2. Mỗi quốc gia thành viên thiết lập các thủ tục phù hợp để ddền bù và bồi thường cho các nạn nhân của các hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước này.

3. Không trái với nội luật của mình, mỗi quốc gia thành viên sẽ đảm bảo để các ý kiến và những mối bận tâm của nạn nhân được trình bày và xem xét vào những giai đoạn thích hợp của quá trình truy tố bị cáo theo cách không làm phương hại đến quyền bào chữa.

Điều 26. Các biện pháp tăng cường hợp tác với các cơ quan điều tra và trấn áp tội phạm

1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện pháp phù hợp để khuyến khích những người tham gia hoặc đã từng tham vào các nhóm tội phạm có tổ chức :

a) Cung cấp những thông tin hữu ích cho các cơ quan có thẩm quyền để phục vụ cho việc điều tra và thu thập chứng cứ về những vấn đề như:
i) Thông tin nhận dạng, tính chất, thành phần, cơ cấu của các nhóm tội phạm có tổ chức hoặc địa điểm của các nhóm này;

ii) Các mối liên hệ, kể cả các mối liên hệ quốc tế, với các nhóm tội phạm có tổ chức khác;

iii) Các hành vi tội phạm mà các nhóm tội phạm có tổ chức đã thực hiện hoặc có thể sẽ thực hiện;

b) Giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền một cách thực chất và cụ thể để góp phần tịch thu các nguồn tài sản hoặc tài sản do phạm tội mà có của các nhóm tội phạm có tổ chức.

2. Trong những trường hợp thích đáng, mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét khả năng giảm hình phạt đối với người bị kết án nhưng đã hợp tác một cách hiệu quả trong việc điều tra hoặc truy tố một hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh.

3. Trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của nội luật của mình, mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét khả năng miễn tố đối với ngườ đã hợp tác hiệu quả trong việc điều tra hoặc truy tố một hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh.

4. Những người nói trên được bảo vệ theo quy định tại điều 24 Công ước này.

5. Nếu một người thuộc diện được nêu tại khoản 1 điều này và cư trú tại một quốc gia thành viên có thể hợp tác một cách có hiệu quả với các cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia thành viên khác, thì các quốc gia thành viên có liên quan có thể ký kết các điều ước và thỏa thuận phù hợp với nội luật của họ về khả năng quốc gia thành viên khác kia dành cho người đó sự đối xử như quy định tại các khoản 2 và 3 điều này.

Điều 27. Hợp tác với các cơ quan điều tra và trấn áp tội phạm

1. Trên cơ sở phù hợp với hệ thống tư pháp và hành chính của mỗi quốc gia, các quốc gia thành viên sẽ hợp tác chặt trẽ với nhau nhằm tăng cường hiệu quả của công tác điều tra và trấn áp tội phạm đối với các hành vi tội phạm theo quy định tại Công ước này. Đặc biệt, mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện pháp hiệu quả để :

a) Tăng cường hoặc, nếu cần thiết, thiết lập các kênh thông tin giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi nhanh chóng và an tòa các thông tin liên quan đến mọi khía cạnh của các hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh, bao gồm cả những mối liên hệ với các hoạt động tội phạm khác nếu các quốc gia thành viên thấy thích hợp;

b) Hợp tác với các quốc gia thành viên khác trong việc tiến hành các hoạt động điều tra liên quan đến các hành vi phạm tội theo quy định của Công ước này về các điểm sau :
i) Thông tin nhận dạng và các hoạt động của những người bị tình nghi có liên quan tới các hành vi phạm tội nói trên, nơi ở của những người đó cũng như của những người khác có liên quan;

ii) Việc chuyển dịch tài sản do phạm tội mà có hoặc các tài sản có nguồn gốc từ việc thực hiện các hành vi phạm tội trên;

iii) Việc chuyển dịch tài sản, thiết bị hay các phương tiện hay các phương tiện khác được sử dụng hoặc được dự định sử dụng để thực hiện các hành vi phạm tội nói trên;

c) Nếu thích hợp, cung cấp các giấy tờ, các vật cần thiết cho việc phân tích hay điều tra;

d) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền và cho việc trao đổi nhân sự và chuyên gia, kể cả việc gửi liên lạc viên theo các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương giữa các quốc gia thành viên có liên quan;

e) Trao đổi thông tin với các quốc gia thành viên về các phương pháp và phương thức hoạt động đặc biệt của các nhóm tội phạm có tổ chức, kể cả lộ trình, phương tiện vận chuyển và việc sử dụng thẻ căn cước giả, các giấy tờ bị sửa chữa hoặc làm giả hoặc những phương thức che dấu hoạt động khác của các nhóm này;

f) Trao đổi thông tin và phối hợp các biện pháp hành chính vầ các biện pháp khác phù hợp nhằm phát hiện sớm nhất có thể các hành vi tội phạm theo quy định tại Công ước này.

2. Để áp dụng Công ước này, các quốc gia thành viên xem xét ký kết các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương về hợp tác trực tiếp giữa các cơ quan điều tra và trấn áp tội phạm của họ và sửa đổi các hiệp ước hoặc thỏa thuận về vấn đề này nếu chúng đã được ký kết từ trước. Trong trường hợp không có các hiệp định hoặc thỏa thuận như vậy giữa các quốc gia thành viên liên quan thì các quốc gia thành viên đó có thể lấy Công ước này làm cơ sở cho việc hợp tác trong hoạt động điều tra và trấn áp những hành vi tội phạm được Công ước này điều chỉnh. Bất kỳ khi nào thích hợp, các quốc gia thành viên sẽ tận dụng tối đa các hiệp định hoặc thỏa thuận này, kể cả các tổ chức quốc tế và khu vực, nhằm tăng cường hợp tác giữa các cơ quan điều tra và trấn áp của họ.

3. Các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực hợp tác trong phạm vi khả năng của mình để đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có sử dụng kỹ thuật hiện đại.

Điều 28. Thu thập, trao đổi và phân tích những thông tin về tính chất của tội phạm có tổ chức

1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét phân tích, với sự tư vấn của các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu, những xu hướng của hoạt động tội phạm có tổ chức trong lãnh thổ của mình, các hoàn cảnh thực hiện tội phạm cũng như các nhóm tội phạm chuyên nghiệp và các kỹ thuật được sử dụng để thực hiện tội phạm.

2. Các quốc gia thành viên sẽ xem xét phát triển chuyên môn trong việc phân tích các hoạt động tội phạm có tổ chức và trao đổi chuyên môn đó một cách trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức khu vực và quốc tế. Để thực hiện mục đích này, các định nghĩa, các tiêu chuẩn và phương pháp luận chung sẽ được xây dựng và áp dụng sao cho phù hợp.

3. Mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét theo dõi các chính sách và các biện pháp được đưa ra để đấu tranh chống tội phạm có tổ chức và đánh giá việc thực thi và hiệu quả của các chính sách, biện pháp đó.

Điều 29. Đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật

1. Trong chừng mực cần thiết, mỗi quốc gia thành viên sẽ xây dựng, phát triển hoặc hoàn thiện các chương trình đào tạo đặc biệt dành cho nhân viên của các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra và trấn áp tội phạm, kể cả các công tố viên, thẩm phán điều tra và các nhân viên hải quan cũng như những nhân viên khác có nhiệm vụ ngăn ngừa, khám phá và xử lý các hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh. Các chương trình đào tạo đó có thể bao gồm cả việc gửi biệt phái hoặc trao đổi nhân viên. Trên cơ sở được pháp luật quốc gia cho phép, nội dung các chương trình đào tạo tập trung vào những vấn đề sau:

a) Các phương pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tội phạm được Công ước này điều chỉnh;

b) Các lộ trình và các kỹ thuật mà những người bị tình nghi có liên quan đến các hành vi phạm tội được công ước này điều chỉnh sử dụng, kể cả tại các quốc gia quá cảnh, và các biện pháp đối phó thích hợp;

c) Giám sát việc vận chuyển hàng buôn lậu;

d) Phát hiện và theo dõi việc vận chuyển tài sản do phạm tội mà có, tài sản, thiết bị hay các phương tiện khác, các phương thức dịch chuyển, che dấu hoặc nguỵ trang các tài sản, thiết bị hoặc phương tiện đó, cũng như các biện pháp đấu tranh chông rửa tiền và các tội phạm về tài chính khác;

e) Thu thập chứng cứ;

f) Kỹ thuật kiểm soát trong các khu vực tự do thương mại và tự do cầu cảng;

g) Phương tiện và kỹ thuật hiện đại được sử dụng cho công tác điều tra trấn áp tội phạm, bao gồm việc giám sát điện tử, giao hàng có kiểm soát và các hoạt động cài người; và
h) Các phương pháp được sử dụng để đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có sử dụng máy vi tính, các mạng lưới viễn thông hay các kỹ thuật hiện đại khác; và
i) Các phương pháp bảo vệ nạn nhân và nhân chứng.

2. Các quốc gia thành viên sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong việc lập kế hoạch và thực hiện các chương trình nghiên cứu và đào tạo nhằm trao đổi chuyên môn trong các lĩnh vực được nêu tại khoản 1 của điều này và , để làm được điều đó, các quốc gia khi cần thiết cũng sẽ tổ chức các hội nghị và hội thảo khu vực và quốc tế để tăng cường hợp tác và khuyến khích trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm, kể cả những vấn đề và nhu cầu đặc biệt của các quốc gia chung chuyển.

3. Các quốc gia thành viên khuyến khích các hoạt động đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc dẫn độ tội phạm và tương trợ pháp lý. các hoạt động đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật này có thể bao gồm đào tạo về ngôn ngữ, gửi biệt phái và trao đổi nhân sự trong các cơ quan cấp trung ương hoặc các tổ chức có trách nhiệm trong các lĩnh vực có liên quan.

4. Trong trường hợp đã ký các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương và đa phương, các quốc gia thành viên, trong chừng mực cần thiết, sẽ tăng cường các biện pháp đã được đưa ra để tối đa hóa hiệu quả các hoạt động nghiệp vụ và đào tạo trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế và khu vực và trong khuôn khổ của các hiệp ước hoặc thỏa thuận song phương và đa phương về các lĩnh vực này.

Điều 30. Các biện pháp khác : thực hiện công ước thông qua phát triển kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật

1. Các quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện pháp riêng nhằm đảm bảo việc thực hiện tối ưu nhất có thể Công ước này thông qua hợp tác quốc tế, có tính đến các tác động tiêu cực của tội phạm có tổ chức đối với xã hội nói chung và đối với sự phát triển bền vững nói riêng.

2. Các quốc gia thành viên sẽ có những nỗ lực cụ thể trong chừng mực có thể, cùng phối kết hợp với nhau và với các tổ chức khu vực và quốc tế để :

a) Phát triển hợp tác ở các cấp độ khác nhau với các nước đang phát triển nhằm tăng cường khả năng của các nước này trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia;

b) Tăng cường trợ giúp về mặt tài chính và phương tiện vật chất cho các nước đang phát triển để hỗ trợ cho những nỗ lực của các nước này trong việc đấu tranh hiệu quả đối với các hoạt động tội phạm có tổ chức và giúp các nước này thực hiện thành công Công ước;

c) Hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển tiếp để giúp đỡ các nước này đáp ứng được các yêu cầu nhằm thực hiện Công ước này. Để đạt được mục tiêu đó, các quốc gia thành viên sẽ cố gắng đóng góp tự nguyện đầy đủ và thường xuyên vào một tài khoản dành riêng cho mục tiêu nói trên trong khuôn khổ một cơ chế tài trợ của Liên Hợp Quốc. Trên cơ sở phù hợp với nội luật và với các quy định của Công ước này, các quốc gia thành viên cũng có thể chú trọng xem xét việc đóng góp vào tài khoản nói trên một phần tiền hoặc phần giá trị tương đương của tài sản do phạm tội mà có hoặc của những tài sản tịch thu được theo quy định tại Công ước này;

d) Khuyến khích và thuyết phục các quốc gia khác và các định chế tài chính thích hợp cùng tham gia và các hoạt động theo quy định tại điều này, cụ thể là tiến hành nhiều hơn nữa các chương trình đào tạo dành cho các nước phát triển và cung cấp thêm cho các nước này những thiết bị hiện đại để hỗ trợ họ đạt được những mục tiêu đặt ra trong Công ước này.

3. Trong chừng mực có thể, các biện pháp này sẽ không làm phương hại tới các cam kết hỗ trợ của nước ngoài hoặc tới các thoả thuận hợp tác tài chính khác ở các cấp độ song phương, khu vực và quốc tế.

4. Các quốc gia thành viên có thể ký kết các hiệp định hoặc thỏa thuận song phương hay đa phương về việc hỗ trợ phương tiện và hậu cần, có xem xét đến các thỏa thuận tài chính cần thiết để các biện pháp hợp tác quốc tế quy định trong công ước này được thực hiện một cách có hiệu quả và để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hoạt động tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Điều 31. Phòng ngừa

1. Các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực xây dựng và đánh giá các dự án quốc gia, thiết lập và thúc đẩy các hoạt động và chính sách tối ưu để phòng ngừa tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

2. Trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực giảm thiểu các cơ hội hiện có hoặc sẽ có mà các nhóm tội phạm có tổ chức có thể lợi dụng để tham gia vào hoạt động của các thị trường hợp pháp với số tài sản do phạm tội mà có, thông qua các biện pháp lập pháp, hành chính hoặc các biện pháp cần thiết khác. Các biện pháp này sẽ tập trung vào việc :

a) Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan điều tra và trấn áp tội phạm hoặc các công tố viên và các thực thể tư nhân có liên quan, đặc biệt là trong ngành công nghiệp;

b) Thúc đẩy việc xây dựng các tiêu chuẩn và thủ tục để giữ gìn tính chính trực của các thực thể nhà nước và tư nhân liên quan cũng như các quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho các nghề liên quan, đặc biệt là các nghề tư pháp, công chứng viên, chuyên viên tư vấn về thuế và kế toán;

c) Ngăn ngừa việc các nhóm tội phạm có tổ chức loựi dụng các thủ tục đấu thầu do các cơ quan nhà nước tiến hành cũng như các khoản trợ cấp và giấy phép được các cơ quan nhà nước cấp cho một hoạt động thương mại;

d) Ngăn ngừa việc các nhóm tội phạm có tổ chức lợi dụng các pháp nhân; các biện pháp này có thể bao gồm:
i) Lập hồ sơ đăng ký công khai về các pháp nhân và thể nhân tham gia vào việc thành lập, quản lý và tài trợ cho pháp nhân;

ii) Có thể bằng lệnh của tòa án hoặc bằng bất kỳ biện pháp thích hợp nào khác, không cho những người đã bị kết án về những hành vi phạm tội mà Công ước này điều chỉnh giữ chức vụ giám đốc các pháp nhân đã được thành lập trên lãnh thổ của họ trong một thời gian thích đáng;

iii) Lập hồ sơ quốc gia về những người không được phép giữ quyền lãnh đạo pháp nhân; và
iv) Trao đổi thông tin trong các hồ sơ nêu tại các điểm i) và ii) của mục này với các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thành viên khác.

3. Các quốc gia thành viên sẽ cố gắng tăng cường việc tái hòa nhập vào cộng đồng những người đã bị kết án về các hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh.

4. Các quốc gia thành viên sẽ cố gắng đánh giá một cách thường kỳ các công cụ pháp lý và các thực tiễn hành chính của họ nhằm phát hiện kịp thời những thiếu sót mà các nhóm tội phạm có tổ chức có thể lợi dụng.

5. Các quốc gia thành viên sẽ cố gắng làm cho người dân hiểu rõ hơn về sự tồn tại, các nguyên nhân, mức độ nghiêm trọng và sự đe dọa của các nhóm tội phạm có tổ chức. Nếu thích hợp, các quốc gia thành viên có thể thực hiện mục tiêu đó thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và bằng cách áp dụng những biện pháp nhằm khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động phòng chống tội phạm.

6. Mỗi quốc gia thành viên sẽ thông báo cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc về tên gọi và địa chỉ của cơ quan hoặc các cơ quan có thể giúp các quốc gia thành viên khác định ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

7. Các quốc gia thành viên sẽ hợp tác với nhau và với các tổ chức khu vực và quốc tế trong chừng mực phù hợp nhằm tăng cường và xây dựng các biện pháp theo quy định tại điều này. Với mục tiêu đó, các quốc gia thành viên sẽ tham gia vào các dự án quốc tế về phòng ngừa tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, ví dụ bằng cách giảm thiểu những yếu tố có thể làm cho những nhóm người ngoài lề xã hội tham gia vào các hoạt động tội phạm đó.

Điều 32. Hội nghị các thành viên của Công ước

1. Hội nghị các thành viên của Công ước được tổ chức nhằm tăng cường khả năng của các quốc gia thành viên trong việc đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và nhằm thúc đẩy và xem xét việc thực hiện Công ước này.

2. Không quá một năm kể từ khi Công ước có hiệu lực, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ triệu tập Hội nghị các thành viên của Công ước. Hội nghị các thành viên của Công ước sẽ thông qua một bản Quy định nội bộ và những quy tắc điều chỉnh các hoạt động được nêu tại khoản 3 và 4 của điều này (bao gồm cả các quy tắc liên quan đến việc thanh toán chi phí phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động này).

3. Hội nghị các thành viên sẽ thoả thuận về các cơ chế để đạt được những mục tiêu được nêu trong khoản 1 của điều này, đặc biệt là:

a) Tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các quốc gia thành viên như được nêu tại các điều 29, 30 và 31 của Công ước này, kể cả việc khuyến khích và huy động sự đóng góp tự nguyện;

b) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin giữa các quốc gia thành viên về các xu hướng của hoạt động tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh chống lại các hoạt động đó;

c) Hợp tác với các tổ chức khu vực và quốc tế cũng như với các tổ chức phi chính phủ có liên quan,
d) Xem xét định kỳ việc thực hiện Công ước này.

4. Nhằm thực hiện các quy định tại khoản 3 d) và 3 e) của điều này, Hội nghị các thành viên phải nắm bắt được các biện pháp mà các quốc gia thành viên tiến hành và những khó khăn mà các quốc gia thành viên gặp phải trong quá trình thực hiện Công ước, thông qua những thông tin do các quốc gia thành viên cung cấp và qua các cơ chế kiểm tra bổ sung mà Hội nghị các thành viên thiết lập.

5. Nếu được yêu cầu, mỗi quốc gia thành viên sẽ cung cấp cho Hội nghị các thành viên các thông tin về các chương trình, kế hoạch, thực tiễn cũng như về pháp luật và các biện pháp hành chính nhằm thực hiện Công ước này.

Điều 33. Ban Thư ký

1. Tổng thư ký của tổ chức Liên hợp quốc cung cấp những dịch vụ thư ký cần thiết cho Hội nghị các thành viên của Công ước.

2. Ban Thư ký có nhiệm vụ:

a) Giúp đỡ Hội nghị các thành viên thực hiện các hoạt động quy định tại điều 32 của Công ước này, đảm nhận công tác chuẩn bị và cung cấp các dịch vụ cần thiết cho các phiên họp của Hội nghị các thành viên;

b) Giúp đỡ các quốc gia thành viên, nếu được họ yêu cầu, cung cấp thông tin cho Hội nghị theo quy định tại khoản 5, điều 32 của Công ước này; và
c) Phối kết hợp khi cần thiết với ban thư ký của các tổ chức khu vực và tổ chức quốc tế có thẩm quyền.

Điều 34. áp dụng Công ước

1. Các quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp cần thiết, kể cả việc ban hành các quy định pháp luật hay áp dụng các biện pháp hành chính, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của nội luật nước mình, để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định tại Công ước này.

2. Các vi phạm theo quy định tại các điều 5, 6, 8 và 23 của Công ước này được quy định trong nội luật của các quốc gia thành viên một cách độc lập so với tính chất tội phạm xuyên quốc gia hay có sự tham gia của một nhóm tội phạm có tổ chức như quy định tại đoạn 1, điều 3 của Công ước này, trừ trường hợp buộc phải có sự tham gia của một nhóm tội phạm có tổ chức theo quy định tại điều 5 của Công ước.

3. Các quốc gia thành viên có thể đưa ra các quy định chặt chẽ hơn hay nghiêm khắc hơn so với các quy định được đưa ra trong Công ước nhằm ngăn ngừa và đấu tranh chống lại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Điều 35. Giải quyết tranh chấp

1. Các quốc gia thành viên cố gắng giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay việc áp dụng Công ước này bằng đàm phán.

2. Tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay việc áp dụng Công ước này, nếu không giải quyết được bằng đàm phán trong một thời hạn thích hợp, theo yêu cầu của một trong số các quốc gia thành viên đó, sẽ được đưa ra giải quyết bằng trọng tài. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày có yêu cầu trọng tài, nếu các quốc gia thành viên chưa thoả thuận được với nhau về phương thức tổ chức trọng tài thì một trong số các nước đó có thể đưa tranh chấp ra Tòa án quốc tế giải quyết, bằng cách gửi đơn yêu cầu phù hợp với Quy chế của Tòa án.

3. Vào thời điểm ký kết, phê chuẩn, phê duyệt hay gia nhập Công ước, các quốc gia thành viên có thể tuyên bố không áp dụng quy định tại khoản 2 của điều này. Các quốc gia thành viên còn lại không áp dụng quy định tại khoản 2 của điều này đối với các quốc gia thành viên đã tuyên bố bảo lưu như trên.

4. Các quốc gia thành viên đã tuyên bố bảo lưu như quy định tại khoản 3 của điều này có thể hủy bảo lưu bất cứ lúc nào bằng cách gửi thông báo cho Tổng thư ký của Tổ chức Liên hợp quốc.


Điều 36. Ký kết, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt và gia nhập

1. Tất cả các quốc gia đều có thể ký kết Công ước này từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 12 năm 2000 tại Pa-léc-mô (Italia) và sau đó tại trụ sở của Tổ chức Liên hợp quốc ở New York (Mỹ) đến ngày 12 tháng 12 năm 2002.

2. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực cũng có thể ký vào Công ước này với điều kiện phải có ít nhất một quốc gia thành viên của tổ chức đó đã ký Công ước theo quy định tại khoản 1 của điều này.

3. Công ước này phải được phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt. Các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt sẽ được gửi cho Tổng thư ký của Tổ chức Liên hợp quốc. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có thể nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt nếu một trong số các quốc gia thành viên của tổ chức đó đã phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt Công ước. Trong văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt, tổ chức đó phải chỉ rõ phạm vi thẩm quyền liên quan đến các vấn đề được Công ước này điều chỉnh. Tổ chức đó phải thông báo với cơ quan bảo quản Công ước mọi thay đổi về phạm vi thẩm quyền của mình.

Điều 37. Quan hệ với các nghị định thư

1. Công ước này có thể được bổ sung bằng một hay nhiều nghị định thư.

2. Để trở thành thành viên của một nghị định thư, quốc gia hay tổ chức hội nhập kinh tế khu vực phải là thành viên của Công ước.

3. Quốc gia thành viên của Công ước không bị ràng buộc bởi một nghị định thư, trừ khi quốc gia đó đã trở thành thành viên của nghị định thư theo quy định của nghị định thứ đó.

4. Mọi nghị định thư kèm theo Công ước này đều được giải thích cùng với Công ước, trong đó có tính đến mục tiêu của nghị định thư.

Điều 38. Thời điểm có hiệu lực

1. Công ước này bắt đầu có hiệu lực vào ngày thứ 90 kể từ ngày nhận được văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40. Theo quy định tại khoản này, các văn bản do một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực không được tính thêm vào số lượng các văn bản đã được các quốc gia thành viên của tổ chức này nộp.

2. Đối với các quốc gia hay tổ chức hội nhập kinh tế khu vực phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập Công ước này sau ngày văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40 đã được nộp và có giá trị thì Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày quốc gia hoặc tổ chức đó nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập.

Điều 39. Sửa đổi, bổ sung

1. Sau thời hạn 5 năm từ ngày Công ước có hiệu lực, bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể đề nghị sửa đổi, bổ sung và nộp văn bản đề xuất của mình cho Tổng thứ ký Liên hợp quốc. Tổng thứ ký Liên hợp quốc gửi văn bản đề xuất đó cho tất cả các quốc gia thành viên và cho Hội nghị các quốc gia thành viên của Công ước để xem xét và quyết định. Hội nghị các quốc gia thành viên phải thực hiện mọi nỗ lực để đạt được một thoả thuận chung về đề xuất sửa đổi, bổ sung. Nếu mọi có gắng đã được thực hiện mà không đạt được thoả thuận chung, giải pháp cuối cùng để đề xuất được thông qua là phải tiến hành bỏ phiếu và phải có ít nhất 2/3 các quốc gia thành viên có mặt tại Hội nghị và có tham gia bỏ phiếu tán thành.

2. Để thực hiện quyền bỏ phiếu theo quy định của điều này trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình, các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có số phiếu bằng số lượng thành viên của mình đã tham gia vào Công ước này. Các tổ chức này không thực hiện quyền bỏ phiếu của mình nếu các quốc gia thành viên của họ đã tự thực hiện quyền này, và ngược lại.

3. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông qua theo quy định tại khoản 1 của điều này phải được đưa ra cho các quốc gia thành viên phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt.

4. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông qua theo quy định tại khoản 1 của điều này sẽ bắt đầu có hiệu lực đối với một quốc gia thành viên 90 ngày sau ngày quốc gia đó nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt phần sửa đổi, bổ sung cho Tổng thư ký Liên hợp quốc
5. Quyết định sửa đổi, bổ sung khi đã có hiệu lực thì có giá trị áp dụng bắt buộc đối với các quốc gia thành viên đã chấp thuận phần sửa đổi, bổ sung đó. Các quốc gia thành viên còn lại vẫn phải áp dụng các quy định của Công ước và các quy định sửa đổi, bổ sung trước đó mà họ đã phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt.

Điều 40. Rút khỏi Công ước

1. Các quốc gia thành viên có thể rút khỏi Công ước bằng các thông báo bằng văn bản cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Quyết định rút khỏi Công ước có hiệu lực sau một năm, kể từ ngày Tổng thư ký Liên hợp quốc nhận được thông báo.

2. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực sẽ không còn là thành viên của Công ước khi tất cả các thành viên của tổ chức đó đã rút lui khỏi Công ước.

3. Quyết định rút lui khỏi Công ước theo quy định tại khoản 1 của điều này kéo theo việc rút lui khỏi tất cả các nghị định thư có liên quan.

Điều 41. Cơ quan lưu chiểu và ngôn ngữ được sử dụng

1. Tổng thư ký Liên hợp quốc đảm nhận công tác lưu chiểu Công ước này.

2. Bản gốc của Công ước này được lập bằng tiếng Anh, tiếng ả-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp và tiếng Nga đều có giá trị pháp lý như nhau và sẽ do Tổng thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu.

để làm bằng, đại diện toàn quyền của các Chính phủ ký tên dưới đây đã ký vào Công ước này.

Phụ lục II
Nghị định thư về việc ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn người,
đặc biệt là buôn bán phụ nữvà trẻ em, kèm theo Công ước của Liên
hợp quốc chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

Lời nói đầu

Các quốc gia thành viên của Nghị định thư,
Tuyên bố rằng để thực hiện những hành động hiệu quả nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống lại nạn buôn người, đặc biệt là nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em, các nước nơi có người bị mua, nước trung chuyển và nước đến của những người bị mua bán cần phải tìm ra một cách tiếp cận chung mang tính toàn cầu, bao gồm các biện pháp nhằm ngăn ngừa tệ nạn buôn người, trừng phạt những kẻ buôn người và bảo vệ các nạn nhân của tệ nạn này, đặc biệt là phải bảo vệ được các quyền cơ bản đã được công nhận trên toàn thế giới của họ,
Nhận thức được rằng mặc dù đã có nhiều văn bản quốc tế trong đó đưa ra những nguyên tắc, những quy định thiết thực nhằm đấu tranh chống lại sự bóc lột con người, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em, nhưng chưa có văn bản chung nào quy định về mọi khía cạnh của nạn buôn bán người,
Căn cứ Nghị quyết số 53/111 của Đại hội đồng ngày 9 tháng 12 năm 1998 trong đó Đại hội đồng đã quyết định thành lập một uỷ ban liên chính phủ đặc biệt với thành phần không giới hạn có nhiệm vụ soạn thảo một công ước quốc tế chống lại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và xem xét khả năng soạn thảo một văn bản quốc tế chống lại nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em,
Tin tưởng rằng việc đưa thêm vào Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, một văn bản quốc tế nhằm ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em, sẽ giúp ngăn ngừa và đấu tranh chống lại loại tội phạm này,

Đã thoả thuận những điều sau đây:

I. Quy định chung

Điều 1. Quan hệ với Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

1. Nghị định thư này bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Nghị định thư phải được giải thích kết hợp với Công ước.

2. Các quy định của Công ước được áp dụng phù hợp với Nghị định thư này, trừ trường hợp có quy định ngược lại của Nghị định thư.

3. Các tội phạm được xác lập theo quy định tại điều 5 của Nghị định thư này được coi là tội phạm xác lập theo quy định của Công ước.

Điều 2. Mục tiêu

Nghị định thư này nhằm các mục tiêu sau đây:

1. Ngăn ngừa và đấu tranh chống lại nạn buôn người, đặc biệt lưu ý đến phụ nữ và trẻ em;

2. Bảo vệ và giúp đỡ các nạn nhân của nạn buôn người, tôn trọng đầy đủ các quyền cơ bản của họ; và
3. Thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên nhằm thực hiện được các mục tiêu trên đây.

Điều 3. Giải thích thuật ngữ

Trong Nghị định thư này, các thuật ngữ sau đây được hiểu là:

a) "Buôn người" chỉ việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, cho cư trú hay tiếp nhận người bằng cách sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực hoặc thông qua các hình thức ép buộc khác, bằng cách bắt cóc, gian lận, lừa đảo, lạm dụng quyền lực hay lợi dụng tình huống khó khăn của người khác, bằng cách cho hay nhận tiền hoặc lợi ích khác để được một người đang có quyền lực với người khác cho phép bóc lột người này. Hành vi bóc lột bao gồm ít nhất việc bóc lột mại dâm người khác hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, bóc lột lao động hay ép buộc cung cấp các dịch vụ, bắt làm nô lệ hay các công việc khác tương tự nô lệ, bắt phục tùng hay lấy các bộ phận cơ thể;

b) Sự đồng ý của một người là nạn nhân của tội phạm buôn người về việc thực hiện một hành vi bóc lột quy định tại đoạn a) của điều này sẽ không có giá trị nếu một trong các cách thức thực hiện hành vi như nêu tại đoạn a) đã được sử dụng;

c) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, cho cư trú hay đón tiếp một trẻ em nhằm mục đích bóc lột cũng được coi là "buôn người" ngay cả khi các hành vi kể trên không được thực hiện bằng các cách thức nêu tại đoạn a) của điều này;

d) Thuật ngữ "trẻ em" chỉ những người chưa đủ 18 tuổi.

Điều 4. Phạm vi áp dụng

Nghị định thư này được áp dụng, trừ trường hợp có quy định khác, trong việc ngăn ngừa, điều tra và truy cứu các tội phạm được quy định tại điều 5, khi các tội phạm này có tính chất xuyên quốc gia và có sự liên can của một nhóm tội phạm có tổ chức. Ngoài ra, Nghị định thư còn được áp dụng trong việc bảo vệ những người là nạn nhân của tội phạm này.

Điều 5. Quy định thành tội phạm hình sự

1. Mỗi quốc gia thành viên phải ban hành quy định pháp luật và thực hiện các biện pháp cần thiết khác để quy định các hành vi nêu tại điều 3 của Nghị định thư này thành tội phạm hình sự, nếu các hành vi đó đã được thực hiện một cách cố ý.

2. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải ban hành quy định pháp luật và thực hiện các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự:

a) Việc mưu toan thực hiện một hành vi phạm tội như quy định tại khoản 1 của điều này, nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình;

b) Hành vi tiếp tay cho người thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại khoản 1 của điều này; và
c) Hành vi tổ chức thực hiện một hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 của điều này hoặc việc chỉ dẫn người khác thực hiện hành vi.

II. Bảo vệ các nạn nhân của tội phạm buôn bán người

Điều 6. Trợ giúp và bảo vệ các nạn nhân của tội phạm buôn bán người

1. Trong các trường hợp cần thiết và với điều kiện nội luật cho phép, mỗi quốc gia thành viên bảo vệ cuộc sống riêng tư và thông tin cá nhân của các nạn nhân của tội phạm buôn người, đặc biệt cần phải tiến hành các thủ tục tố tụng tư pháp không công khai đối với các hành vi liên quan đến tội phạm buôn người.

2. Mỗi quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng hệ thống tư pháp và hành chính của nước mình đã có các quy định cho phép cung cấp cho nạn nhân của tội phạm buôn người, trong trường hợp cần thiết:

a) Các thông tin về thủ tục tố tụng tư pháp và hành chính có thể áp dụng;

b) Sự trợ giúp sao cho ý kiến và các mối quan tâm của họ được nêu ra và được tính đến tại các thời điểm thích hợp khi tiến hành tố tụng hình sự xét xử các kẻ phạm tội, sao cho không làm ảnh hưởng đến quyền bào chữa của đương sự.

3. Mỗi quốc gia thành viên phải dự kiến thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo sự phục hồi về mặt thể chất, tinh thần và xã hội cho các nạn nhân của tội phạm buôn người, kể cả, nếu có, biện pháp hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức khác có thẩm quyền và các thành phần khác trong xã hội dân sự và đặc biệt cung cấp cho họ:

a) Nơi ở thích hợp;

b) Sự tư vấn và các thông tin bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được, đặc biệt là liên quan đến các quyền mà pháp luật đã công nhận cho họ;

c) Sự trợ giúp về mặt y tế, tâm lý và vật chất; và
d) Khả năng tìm việc làm, được giáo dục và đào tạo.

4. Khi áp dụng các quy định tại điều này, mỗi quốc gia thành viên phải tính đến độ tuổi, giới tính và các nhu cầu riêng của các nạn nhân của tội phạm buôn người, đặc biệt là các nhu cầu riêng của trẻ em, nhất là nhu cầu về nhà ở, giáo dục và điều kiện chăm sóc thích hợp.

5. Mỗi quốc gia thành viên nỗ lực đảm bảo sự an toàn về thể chất cho các nạn nhân của tội phạm buôn người khi những người này ở trên lãnh thổ của nước mình.

6. Mỗi quốc gia thành viên đảm bảo rằng hệ thống pháp luật của nước mình đã có những quy định cho phép các nạn nhân của tội phạm buôn người khả năng được bồi thường những thiệt hại mà họ đã phải chịu.

Điều 7. Quy chế dành cho các nạn nhân của tội phạm buôn người tại các nước tiếp nhận

1. Ngoài việc thực hiện các biện pháp theo quy định tại điều 6 của Nghị định thư, mỗi quốc gia thành viên phải dự kiến đưa ra các quy định pháp luật hoặc thực hiện các biện pháp thích hợp khác cho phép các nạn nhân của tội phạm buôn người được ở lại trên lãnh thổ nước mình một cách tạm thời hay lâu dài, nếu có yêu cầu.

2. Khi áp dụng quy định tại khoản 1 của điều này, mỗi quốc gia thành viên phải tính đến các yếu tố nhân đạo và nhân thân.

Điều 8. Hồi hương các nạn nhân của tội phạm buôn người

1. Quốc gia thành viên mà nạn nhân của tội phạm buôn người có quốc tịch, hoặc đã có quyền thường trú vào thời điểm đến nước tiếp nhận, phải tạo điều kiện thuận lợi và chấp thuận việc hồi hương của người này, trên cơ sở tính đến sự an toàn của họ, không được chậm chễ mà không có lý do chính đáng.

2. Khi một quốc gia thành viên gửi trả một nạn nhân của tội phạm buôn người về cho quốc gia thành viên nơi người này mang quốc tịch hoặc có quyền thường trú vào thời điểm đến nước tiếp nhận, việc gửi trả phải được thực hiện một cách bảo đảm trên cơ sở tính đến sự an toàn cho con người và tính đến thực trạng của các thủ tục tư pháp liên quan đến việc người này là nạn nhân của tội phạm buôn người, và tốt hơn hết là để cho nạn nhân tự quyết định việc hồi hương hay không.

3. Theo yêu cầu của một quốc gia thành viên là nước tiếp nhận, quốc gia thành viên được yêu cầu phải tiến hành kiểm tra ngay, không được chậm chễ mà không có lý do chính đáng, xem một nạn nhân nào đó của tội phạm buôn người có phải là công dân nước mình không hoặc người này có quyền thường trú trên lãnh thổ nước mình vào thời điểm đến quốc gia thành viên tiếp nhận kia không.

4. Để tạo điều kiện cho việc hồi hương một người là nạn nhân của tội phạm buôn người không có đầy đủ giấy tờ theo yêu cầu, quốc gia thành viên nơi nạn nhân của tội phạm buôn người mang quốc tịch hoặc có quyền thường trú vào thời điểm người này đến quốc gia thành viên tiếp nhận, theo yêu cầu của quốc gia tiếp nhận, phải chấp thuận việc cung cấp các giấy tờ thông hành hoặc các giấy phép cần thiết khác cho phép người này được trở lại lãnh thổ của nước mình.

5. Quy định tại điều này không làm ảnh hưởng đến các quyền mà quốc gia thành viên tiếp nhận đã dành cho các nạn nhân của tội phạm buôn người.

6. Quy định tại điều này không làm ảnh hưởng đến các hiệp ước hay thoả thuận song phương hay đa phương đang có hiệu lực điều chỉnh toàn bộ hay một phần việc hồi hương các nạn nhân của tội phạm buôn người.

III. phòng ngừa, hợp tác và các biện pháp khác

Điều 9. Phòng ngừa tội phạm buôn người

1. Các quốc gia thành viên thiết lập các chính sách, chương trình và các biện pháp tổng thể khác để:

a) Phòng ngừa và đấu tranh chống lại tội phạm buôn người; và
b) Bảo vệ các nạn nhân của tội phạm buôn người, đặc biệt đối với các nạn nhân là phụ nữ và trẻ em, tránh nguy cơ họ có thể trở thành nạn nhân một lần nữa.

2. Các quốc gia thành viên nỗ lực đưa ra các biện pháp như nghiên cứu, thực hiện chiến dịch thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, thực hiện các sáng kiến hoạt động kinh tế - xã hội nhằm ngăn ngừa và đấu tranh chống lại tội phạm buôn người.

3. Các chính sách, chương trình và các biện pháp khác được đưa ra theo quy định tại điều này, tuỳ theo điều kiện phù hợp cụ thể, bao gồm cả việc hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức khác có thẩm quyền và các thành phần khác trong xã hội dân sự.

4. Các quốc gia thành viên đưa ra hoặc tăng cường thực hiện các biện pháp, đặc biệt là thông qua phương thức hợp tác song phương hoặc đa phương, để điều chỉnh các nhân tố là nguyên nhân làm cho con người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, dễ dàng trở thành nạn nhân của tội phạm buôn người, như tình trạng đói nghèo, chậm phát triển và không bình đẳng trước các cơ hội.

5. Các quốc gia thành viên đưa ra hoặc tăng cường các quy định pháp luật hoặc các biện pháp khác, như những biện pháp trên các lĩnh vực giáo dục, xã hội, văn hoá, đặc biệt là thông qua phương thức hợp tác song phương và đa phương, nhằm ngăn chặn lượng cầu đang tạo điều kiện phát triển các hình thức bóc lột con người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, dẫn đến tội phạm buôn người.

Điều 10. Trao đổi thông tin và đào tạo

1. Các cơ quan điều tra, trấn áp, quản lý xuất nhập cảnh hoặc các cơ quan khác có thẩm quyền của các quốc gia thành viên hợp tác với nhau, tuỳ theo điều kiện phù hợp cụ thể và phù hợp với quy định nội luật của mỗi nước, để trao đổi thông tin cho phép xác định:

a) Một người đang đi qua hoặc có ý định đi quan biên giới quốc tế bằng giấy tờ thông hành của người khác hoặc không có giấy tờ thông hành có phải là thủ phạm hay nạn nhân của tội phạm buôn người không;

b) Các loại giấy tờ thông hành mà một người đã sử dụng hoặc có ý định sử dụng để đi qua biên giới quốc tế nhằm mục đích buôn người; và
c) Các phương tiện, biện pháp đã được các nhóm tội phạm có tổ chức sử dụng để buôn người, kể cả việc tuyển mộ và vận chuyển các nạn nhân, lộ trình và mối quan hệ giữa các cá nhân với các tổ chức có hoạt động buôn người, cũng như các biện pháp cho phép phát hiện ra chúng.

2. Các quốc gia thành viên tăng cường đào tạo các nhân viên của các cơ quan điều tra, trấn áp, quản lý xuất nhập cảnh và các cơ quan khác có thẩm quyền ngăn ngừa tội phạm buôn người. Chương trình đào tạo phải tập trung vào các biện pháp được sử dụng để ngăn ngừa tội phạm buôn người, đưa kẻ buôn người ra xét xử trước pháp luật và đảm bảo tôn trọng quyền của các nạn nhân, đặc biệt là việc bảo vệ họ chống lại các kẻ buôn người. Chương trình đào tạo còn phải tính đến sự cần thiết phải coi trọng các quyền dành cho con người và các vấn đề đặc trưng liên quan đến phụ nữ và trẻ em, tạo điều kiện thuận lợi để hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức khác có thẩm quyền và các thành phần khác trong xã hội dân sự.

3. Một quốc gia thành viên khi nhận được thông tin của một quốc gia thành viên khác thì phải thuận theo các yêu cầu của quốc gia đó và phải sử dụng các thông tin này một cách chặt chẽ.

Điều 11. Các biện pháp áp dụng ở biên giới

1. Trong khả năng có thể, các quốc gia thành viên tăng cường các biện pháp kiểm soát cần thiết tại biên giới nhằm ngăn ngừa và phát hiện tội phạm buôn người mà không vi phạm các cam kết quốc tế liên quan đến sự tự do đi lại của con người.

2. Mỗi quốc gia thành viên phải đưa ra các quy định pháp luật hay thực hiện các biện pháp thích hợp khác, trong khả năng có thể, để phòng ngừa việc sử dụng các phương tiện vận tải đang được khai thác bởi các doanh nghiệp vận tải thương mại để thực hiện các hành vi tội phạm quy định tại điều 5 của Nghị định thư này.

3. Các quốc gia thành viên khi áp dụng các biện pháp này phải đặc biệt lưu ý quy định nghĩa vụ cho các doanh nghiệp vận tải thương mại, bao gồm các công ty vận tải và chủ sở hữu cũng như người khai thác các phương tiện vận tải, phải kiểm tra và bảo đảm rằng tất cả các hành khách đều có giấy thông hành hợp lệ để nhập cảnh vào nước đón tiếp mà không vi phạm các công ước quốc tế có liên quan.

4. Mỗi quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của nội luật nước mình, để quy định hình phạt cho việc vi phạm các nghĩa vụ nêu tại khoản 3 của điều này.

5. Mỗi quốc gia thành viên, theo quy định của nội luật nước mình, dự kiến đưa ra các quy định cho phép cấm nhập cảnh những người có liên can đến việc thực hiện những hành vi tội phạm quy định tại Nghị định thư này, hoặc huỷ thị thực của họ.

6. Các quốc gia thành viên xem xét khả năng thực hiện các biện pháp tăng cường hợp tác giữa các cơ quan kiểm soát biên giới của mình, đặc biệt là thông qua việc thiết lập và duy trì các đường thông tin liên lạc trực tiếp, mà không vi phạm quy định tại điều 27 của Công ước.

Điều 12. An ninh và vấn đề kiểm soát giấy tờ

Mỗi quốc gia thành viên, tuỳ theo điều kiện của mình, thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm:

a) Đảm bảo các giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do mình cấp có chất lượng sao cho không thể dễ dàng sử dụng vào mục đích không thích đáng, làm giả hay sửa chữa nội dung, sao chụp hay cấp một cách trái phép; và
b) Đảm bảo sự toàn vẹn và sự an toàn cho các giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do mình cấp hoặc cấp dưới danh nghĩa mình và ngăn chặn việc các loại giấy tờ đó được làm, cấp và sử dụng trái phép.

Điều 13. Tính hợp pháp và hiệu lực của các giấy tờ

Quốc gia thành viên khi được một quốc gia thành viên khác yêu cầu phải xác minh, theo quy định của nội luật nước mình và trong một thời hạn thích hợp, tính hợp pháp và hiệu lực của các giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do hoặc xem là được cấp dưới danh nghĩa của mình, bị nghi ngờ là được sử dụng vào mục đích buôn người.

IV.

Điều khoản thi hành

Điều 14.

Điều khoản tự vệ

1. Quy định tại Nghị định thư này không được tác động đến các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các quốc gia và các cá nhân theo quy định của luật pháp quốc tế, kể cả luật nhân đạo quốc tế và pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người và đặc biệt là Công ước năm 1951 và Nghị định thư năm 1967 về quy chế những người tị nạn và về nguyên tắc không được từ chối tiếp nhận người tị nạn đã được nêu trong các văn bản đó, khi các văn bản đó được áp dụng.

2. Các biện pháp nêu trong Nghị định thư này được giải thích và áp dụng sao cho mọi người không bị phân biệt đối xử chỉ vì họ là nạn nhân của tội phạm buôn người. Việc giải thích và áp dụng các biện pháp này phải phù hợp với các nguyên tắc không phân biệt đối xử đã được quốc tế công nhận.

Điều 15. Giải quyết tranh chấp

1. Các quốc gia thành viên nỗ lực giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay việc áp dụng Nghị định thư này thông qua thương lượng.

2. Mọi tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hoặc việc áp dụng Nghị định thư này mà không thể giải quyết thông qua thương lượng trong thời hạn thích hợp thì sẽ được giải quyết bằng trọng tài, theo đề nghị của một trong số các quốc gia thành viên đó. Sau thời hạn sáu tháng, kể từ khi có đề nghị giải quyết bằng trọng tài, nếu các quốc gia thành viên không thoả thuận được về phương thức tổ chức trọng tài thì bất kỳ quốc gia nào trong số các quốc gia thành viên đó có thể đề nghị đưa tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án quốc tế, phù hợp với Quy chế của Tòa án.

3. Khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập Nghị định thư này, mỗi quốc gia thành viên có thể tuyên bố không bị ràng buộc bởi khoản 2 của điều này. Các quốc gia thành viên khác sẽ không bị ràng buộc bởi khoản 2 của điều này đối với quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu như vậy.

4. Các quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu như quy định tại khoản 3 của điều này có thể hủy bảo lưu bất cứ lúc nào bằng cách gửi thông báo cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

Điều 16. Ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt và gia nhập

1. Nghị định thư này sẽ được để cho tất cả các quốc gia ký từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 12 năm 2000 tại Pa-léc-mô (Italia) và sau đó tại trụ sở của Tổ chức Liên hợp quốc ở New York (Mỹ) đến ngày 12 tháng 12 năm 2002.

2. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực cũng có thể ký vào Nghị định thư này với điều kiện phải có ít nhất một quốc gia thành viên của tổ chức đó đã ký Nghị định thư theo quy định tại khoản 1 của điều này.

3. Công ước này phải được phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt. Các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có thể nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt nếu ít nhất một trong số các quốc gia thành viên của tổ chức đó đã phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt. Trong văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt, tổ chức nói trên phải chỉ rõ phạm vi thẩm quyền liên quan đến các vấn đề được Nghị định thư này điều chỉnh. Tổ chức đó phải thông báo với cơ quan lưu chiểu mọi thay đổi có giá trị về phạm vi thẩm quyền của mình.

4. Mọi quốc gia và mọi tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có ít nhất một quốc gia thành viên đang là thành viên của Nghị định thư đều có thể gia nhập Nghị định thư. Các văn kiện gia nhập sẽ được gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc. Khi gia nhập, tổ chức hội nhập kinh tế khu vực phải tuyên bố phạm vi thẩm quyền của mình đối với các vấn đề được Nghị định thư này điều chỉnh. Tổ chức đó phải thông báo với cơ quan lưu chiểu mọi thay đổi có giá trị về phạm vi thẩm quyền của mình.

Điều 17. Thời điểm có hiệu lực

1. Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực vào ngày thứ 90 kể từ ngày nhận được văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40, đương nhiên Nghị định thư chưa được tính hiệu lực nếu bản thân Công ước chưa có hiệu lực. Theo quy định tại khoản này, các văn kiện do một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực không được tính thêm vào số lượng các văn kiện đã được các quốc gia thành viên của tổ chức này nộp.

2. Đối với các quốc gia hay tổ chức hội nhập kinh tế khu vực phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập Công ước này sau ngày văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40 đã được nộp và có giá trị, thì Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày quốc gia hoặc tổ chức đó nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập có giá trị, hoặc vào ngày Nghị định thư bắt đầu có hiệu lực theo quy định tại khoản 1 của điều này, nếu vào thời điểm đó hiệu lực của Nghị định thư chưa được tính.

Điều 39. Sửa đổi, bổ sung

1. Sau thời hạn 5 năm từ khi Công ước có hiệu lực, bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể đề nghị sửa đổi, bổ sung và nộp văn bản đề nghị của mình cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Tổng thư ký Liên hợp quốc gửi văn bản đề nghị đó cho tất cả các quốc gia thành viên và cho Hội nghị các quốc gia thành viên của Công ước để xem xét và quyết định. Các quốc gia thành viên của Nghị định thư tập hợp thành Hội nghị các quốc gia thành viên phải thực hiện mọi nỗ lực để đạt được sự đồng thuận về đề xuất sửa đổi, bổ sung. Nếu mọi có gắng đã được thực hiện mà không đạt được thoả thuận chung, giải pháp cuối cùng để đề xuất được thông qua là phải tiến hành bỏ phiếu và phải có ít nhất 2/3 các quốc gia thành viên có mặt và có tham gia biểu quyết tại Hội nghị tán thành.

2. Để thực hiện quyền bỏ phiếu theo quy định của điều này trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình, các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có số phiếu bằng số lượng thành viên của mình đã tham gia vào Nghị định thư này. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực không thực hiện quyền bỏ phiếu của mình nếu các quốc gia thành viên của họ đã tự thực hiện quyền này, và ngược lại.

3. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông qua theo quy định tại khoản 1 của điều này phải được các quốc gia thành viên phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt.

4. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông qua theo quy định tại khoản 1 của điều này sẽ bắt đầu có hiệu lực đối với một quốc gia thành viên 90 ngày sau ngày quốc gia đó nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt phần sửa đổi, bổ sung cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

5. Quyết định sửa đổi, bổ sung khi đã có hiệu lực thì sẽ có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với các quốc gia thành viên đã đồng ý chịu sự ràng buộc của phần sửa đổi, bổ sung đó. Các quốc gia thành viên còn lại vẫn phải áp dụng các quy định của Nghị định thư và các quy định sửa đổi, bổ sung trước đó mà họ đã phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt.

Điều 19. Rút khỏi Công ước

1. Một quốc gia thành viên có thể rút khỏi Công ước bằng cách gửi thông báo bằng văn bản cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Quyết định rút khỏi Công ước có hiệu lực sau một năm kể từ ngày Tổng thư ký Liên hợp quốc nhận được thông báo.

2. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực sẽ không còn tư cách là thành viên của Nghị định thư khi tất cả các thành viên của tổ chức đó đã rút lui khỏi Nghị định thư.

Điều 20. Cơ quan lưu chiểu và ngôn ngữ được sử dụng

3. Tổng thư ký Liên hợp quốc là người được chỉ định giữ lưu chiểu Nghị định thư này.

4. Bản gốc của Nghị định thư này được lập bằng tiếng Anh, tiếng A-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp và tiếng Nga đều có giá trị pháp lý như nhau và sẽ do Tổng thư ký Liên hợp quốc giữ lưu chiểu.

để làm bằng, đại diện toàn quyền của các Chính phủ ký tên dưới đây đã ký vào Nghị định thư này.

Phụ lục III

Nghị định thư về việc chống việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường bộ, đường hàng không
và đường biển, kèm theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

Lời nói đầu

Các quốc gia thành viên của Nghị định thư,
Tuyên bố rằng để thực hiện những hành động hiệu quả nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống lại việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường bộ, đường hàng không và đường biển thì cần phải tìm ra một cách tiếp cận chung giữa các quốc gia trên thế giới, kể cả việc thực hiện các hoạt động hợp tác, trao đổi thông tin và các biện pháp thích hợp khác, đặc biệt trên các phương diện kinh tế và xã hội, trên phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế,
Căn cứ Nghị quyết số 54/212 của Đại hội đồng ngày 22 tháng 12 năm 1999, trong đó Đại hội đồng đã nhấn mạnh yêu cầu các quốc gia thành viên và các tổ chức của Liên hợp quốc tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý việc di cư giữa các quốc gia và hoạt động phát triển nhằm đấu tranh chống lại các nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc di cư, đặc biệt là những nguyên nhân có liên quan đến đói nghèo, và làm cho việc di cư giữa các quốc gia có thể đem lại cho người di cư nhiều lợi ích nhất, và Đại hội đồng cũng đã khuyến khích các cơ quan liên khu vực, khu vực và tiểu khu vực tiếp tục quan tâm đến vấn đề di cư cùng với vấn đề phát triển,
Tin tưởng rằng cần phải đối xử với những người nhập cư một cách nhân đạo và phải bảo vệ một cách đầy đủ các quyền của họ,
Nhận thức được rằng mặc dù nhiều tổ chức quốc tế đã thực hiện những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này, nhưng chưa có một công cụ chung nào quy định về mọi khía cạnh của nạn đưa người nhập cư trái phép và những vấn đề khác có liên quan,
Quan ngại trước sự gia tăng mạnh mẽ hoạt động của các nhóm tội phạm có tổ chức trong việc đưa người nhập cư trái phép và các hoạt động tội phạm khác có liên quan, được nêu trong Nghị định thư này, gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho các quốc gia có liên quan,
Lo lắng trước thực tế việc đưa người nhập cư trái phép có thể gây nguy hiểm cho cuộc sống và sự an toàn của những người có liên quan,
Căn cứ Nghị quyết số 53/111 của Đại hội đồng ngày 9 tháng 12 năm 1998 trong đó Đại hội đồng đã quyết định thành lập một uỷ ban liên chính phủ đặc biệt với thành phần không giới hạn, có nhiệm vụ soạn thảo một công ước quốc tế chống lại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và nhất là xem xét khả năng soạn thảo một văn bản quốc tế chống lại nạn đưa người nhập cư trái phép, kể cả bằng đường biển,
Tin tưởng rằng việc đưa thêm vào Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, một văn bản quốc tế chống lại nạn đưa người nhập cư trái phép bằng đường bộ, đường hàng không, đường biển sẽ giúp ngăn ngừa và đấu tranh chống lại loại tội phạm này,
Đã thoả thuận những điều sau đây:

II. Quy định chung

Điều 1. Quan hệ với Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

1. Nghị định thư này bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Nghị định thư phải được giải thích kết hợp với Công ước.

2. Các quy định của Công ước được áp dụng phù hợp với Nghị định thư, trừ trường hợp Nghị định thư có quy định khác.

3. Các tội phạm được xác lập theo quy định tại điều 6 của Nghị định thư được coi là tội phạm xác lập theo quy định của Công ước.

Điều 2. Mục tiêu

Nghị định thư này nhằm các mục tiêu ngăn ngừa và đấu tranh chống lại nạn đưa người nhập cư trái phép và nhằm thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên nhằm thực hiện mục đích này, đồng thời để bảo vệ quyền của những người di cư là đối tượng của nạn đưa người nhập cư trái phép.


Điều 3. Giải thích thuật ngữ

Theo quy định tại Nghị định thư này:

a) Khái niệm "đưa người nhập cư trái phép" chỉ việc đảm bảo việc đưa một người nhập cảnh một cách trái phép vào một quốc gia thành viên mà người đó không có quốc tịch mà cũng không có nơi cư trú thường xuyên tại nước này, nhằm thu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các lợi ích bằng tiền hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Khái niệm "nhập cư trái phép" chỉ việc một người vượt qua biên giới mà không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện nhập cảnh hợp pháp của nước đến;

c) Khái niệm "giấy tờ thông hành hoặc giấy tờ căn cước giả mạo" chỉ các loại giấy tờ thông hành hoặc giấy tờ căn cước:
i) Đã bị làm giả hoặc sửa đổi nội dung bởi một người không phải là người hoặc cơ quan có đủ tư cách thẩm quyền thay mặt một quốc gia lập hoặc cấp giấy tờ thông hành hoặc giấy tờ căn cước; hoặc
ii) Đã được cấp hoặc có được một cách không hợp lệ do khai man, mua chuộc, cưỡng ép hoặc bằng bất kỳ biện pháp bất hợp pháp nào khác; hoặc
iii) Được sử dụng bởi một người không phải là chủ sở hữu hợp pháp;

d) Thuật ngữ "tàu" chỉ các loại phương tiện đường thủy, kể cả các phương tiện không xác định độ mớm nước và thuỷ phi cơ, được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng làm phương tiện vận tải trên mặt nước, trừ các loại tàu chiến và tàu phục vụ tàu chiến hoặc các loại tàu khác thuộc sở hữu của một chính phủ hoặc do một chính phủ khai thác, nếu chúng chỉ được sử dụng vào mục đích dịch vụ công không mang tính thương mại.

Điều 4. Phạm vi áp dụng

Nghị định thư này được áp dụng, trừ trường hợp có quy định khác, để ngăn ngừa, điều tra và truy cứu các tội phạm được quy định tại điều 6, khi các tội phạm này có tính chất xuyên quốc gia và có sự liên can của một nhóm tội phạm có tổ chức và để bảo vệ quyền của những người là đối tượng của loại tội phạm này.

Điều 5. Trách nhiệm hình sự của những người di cư

Những người di cư không trở thành đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Nghị định thư này chỉ vì họ đã là đối tượng của các hành vi nêu tại điều 6.

Điều 6. Quy định thành tội phạm hình sự

1. Mỗi quốc gia thành viên phải ban hành các quy định pháp luật và thực hiện các biện pháp cần thiết khác để quy định các hành vi sau đây thành tội phạm hình sự, nếu các hành vi đó đã được thực hiện một cách cố ý và nhằm mục đích thu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các lợi ích bằng tiền hoặc lợi ích vật chất khác:

a) Hành vi đưa người nhập cư trái phép;

b) Các hành vi được thực hiện nhằm giúp đỡ việc đưa người nhập cư trái phép:
i) Làm giấy tờ thông hành hoặc giấy tờ căn cước giả mạo;

ii) Cung cấp, mang giữ giấy tờ đó;

c) Hành vi cho phép một người cư trú ở một quốc gia nơi người đó không có quốc tịch mà cũng không có quyền thường trú mà lại không đáp ứng các điều kiện cần thiết để được lưu trú một cách hợp pháp tại quốc gia đó, bằng các biện pháp nêu tại điểm b) của khoản này hoặc bằng bất cứ biện pháp bất hợp pháp nào khác.

2. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải ban hành các quy định pháp luật và thực hiện các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự:

a) Hành vi mưu toan thực hiện một hành vi phạm tội như quy định tại khoản 1 của điều này, nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình;

b) Hành vi tiếp tay cho người thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại điểm b) i) hoặc điểm c) khoản 1 của điều này và, nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình, hành vi tiếp tay cho người thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại điểm b) ii) thuộc khoản 1 của điều này;

c) Hành vi tổ chức thực hiện một hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 của điều này hoặc việc chỉ dẫn người khác thực hiện hành vi phạm tội đó.

3. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải ban hành các quy định pháp luật và thực hiện các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tình tiết tăng nặng cho các tội phạm được quy định tại điểm a), b) i) và c) thuộc khoản 1 của điều này và, nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình, cho các hành vi phạm tội được quy định tại điểm b) và c) thuộc khoản 2 của điều này:

a) Việc gây nguy hiểm hoặc có nguy cơ gây nguy hiểm cho sinh mạng và sự an toàn của những người di cư có liên quan; hoặc
b) Hành vi đối xử vô nhân đạo hoặc đê tiện đối với những người di cư đó, kể cả hành vi nhằm mục đích bóc lột.

4. Quy định tại Nghị định thư này không ngăn cản việc một quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp chống lại một người có hành vi cấu thành tội phạm theo quy định của nội luật nước mình.

II. đưa người nhập cư trái phép bằng đường biển

Điều 7. Hợp tác

Các quốc gia thành viên hợp tác với nhau bằng tất cả khả năng của mình nhằm ngăn ngừa, trấn áp việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường biển, phù hợp với luật biển quốc tế.

Điều 8. Các biện pháp chống lại việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường biển

1. Một quốc gia thành viên mà có căn cứ chính đáng để nghi ngờ rằng một con tàu mang cờ nước mình hoặc được đăng ký tại nước mình, không có quốc tịch hay trên thực tế mang quốc tịch của một quốc gia thành viên khác đang thực hiện việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường biển, mặc dù con tàu đó đang mang cờ nước ngoài hoặc từ chối treo cờ, thì có thể yêu cầu các quốc gia thành viên khác thực hiện các biện pháp cấm sử dụng con tàu đó vào mục đích kể trên. Các quốc gia thành viên được yêu cầu phải giúp đỡ quốc gia này trong khả năng có thể và bằng những phương tiện mà mình có.

2. Một quốc gia thành viên mà có căn cứ chính đáng để nghi ngờ rằng một con tàu đang thực hiện quyền tự do đi lại theo quy định của luật pháp quốc tế và mang cờ hoặc biển đăng ký của một quốc gia thành viên khác đang thực hiện việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường biển, thì có thể thông báo cho quốc gia này, yêu cầu quốc gia này xác nhận đăng ký của con tàu. Nếu quốc tịch của con tàu được xác nhận là đúng thì có thể yêu cầu quốc gia thành viên đó cho phép thực hiện các biện pháp thích hợp đối với con tàu.

Quốc gia mà con tàu mang cờ có thể cho phép quốc gia có yêu cầu thực hiện các biện pháp sau:

a) Khám hỏi tàu;

b) Khám xét tàu; và
c) Nếu có bằng chứng về việc con tàu đang thực hiện việc đưa người nhập cư trái phép, thi hành các biện pháp thích hợp đối với con tàu, con người và hàng hoá trên tàu, theo như sự cho phép của nước mà con tàu đó mang cờ.

3. Một quốc gia thành viên đã thực hiện các biện pháp theo quy định tại khoản 2 của điều này phải thông báo ngay với quốc gia mà con tàu mang cờ về kết quả của việc thực hiện các biện pháp đó.

4. Khi một quốc gia thành viên yêu cầu một quốc gia thành viên khác xác định xem một con tàu mang biển hoặc treo cờ của nước đó có hợp lệ hay không, hoặc yêu cầu cho phép thực hiện một số biện pháp như quy định tại khoản 2 của điều này, thì quốc gia thành viên được yêu cầu phải có phúc đáp ngay.

5. Quốc gia mà tàu mang cờ, khi cho phép một quốc gia thành viên khác thực hiện các biện pháp theo quy định tại điều 7 của Nghị định thư này, có thể kèm theo một số điều kiện được quyết định theo thoả thuận chung với quốc gia có yêu cầu, đặc biệt là các điều kiện liên quan đến trách nhiệm và phạm vi của các biện pháp sẽ được thực hiện. Một quốc gia thành viên không được thực hiện bất kỳ biện pháp bổ sung nào mà không được sự cho phép một cách rõ ràng của quốc gia mà tàu mang cờ, trừ các biện pháp cần thiết để tránh một mối nguy hiểm sắp xảy ra đối với sinh mạng con người hoặc các biện pháp đã được quy định trong các thoả thuận song phương hoặc đa phương đang có hiệu lực.

6. Mỗi quốc gia thành viên chỉ định một hoặc, nếu có thể, một số cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận các yêu cầu hỗ trợ, yêu cầu xác nhận đăng ký tàu hoặc xác nhận quyền mang cờ của một con tàu hoặc các yêu cầu cho phép thi hành một số biện pháp thích hợp cũng như thẩm quyền phúc đáp các yêu cầu đó. Tổng thư ký sẽ thông báo với tất cả các quốc gia thành viên khác về cơ quan đã được một quốc gia thành viên chỉ định, trong thời hạn một tháng kể từ ngày cơ quan đó được chỉ định.

7. Một quốc gia thành viên mà có căn cứ chính đáng để nghi ngờ rằng một con tàu đang thực hiện việc đưa người nhập cư trái phép bằng đường biển mà tàu này không có quốc tịch hoặc được coi là không có quốc tịch thì có thể khám hỏi và khám xét con tàu đó. Nếu có chứng cứ để khẳng định các nghi ngờ trên thì quốc gia thành viên này có thể thi hành các biện pháp thích hợp theo quy định của nội luật và pháp luật quốc tế.

Điều 9.

Điều khoản bảo hộ

1. Khi thực hiện các biện pháp đối với một con tàu theo quy định tại điều 8 của Nghị định thư này, quốc gia thành viên phải:

a) Đảm bảo an toàn và đối xử nhân đạo với những người trên tàu;

b) Đảm bảo không gây hại đến quyền lợi thương mại và các quyền của quốc gia mà tàu mang cờ hoặc của các quốc gia có liên quan khác;

c) Trên cơ sở khả năng của mình, đảm bảo rằng các biện pháp thực hiện đối với con tàu phải hợp lý về mặt sinh thái.

2. Nếu các lý do dẫn đến việc thực hiện các biện pháp theo quy định tại điều 8 của Nghị định thư này không có căn cứ, thì các mất mát, thiệt hại gây ra cho tàu sẽ được đền bù, với điều kiện con tàu đó đã không phạm phải bất cứ hành vi nào là nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện các biện pháp đó.

3. Khi một biện pháp đã được đưa ra, được thông qua và được áp dụng, cần phải lưu ý không làm ảnh hưởng hoặc cản trở đến:

a) Quyền của các quốc gia ven biển và việc thực hiện thẩm quyền của họ theo quy định của luật biển quốc tế; hoặc
b) Quyền hạn của quốc gia mà tàu mang cờ trong việc thực hiện thẩm quyền của mình và sự kiểm soát của quốc gia này đối với các vấn đề hành chính, kỹ thuật, xã hội liên quan đến con tàu.

4. Các biện pháp thực hiện trên biển theo quy định tại chương này chỉ được thực hiện bởi các tàu chiến hoặc các máy bay quân sự, hoặc các loại tàu, máy bay khác được trao thẩm quyền này, mang biển hiệu rõ ràng bên ngoài và có thể xác định được là đang thực hiện nhiệm vụ của quốc gia.

III. phòng ngừa, hợp tác và các biện pháp khác

Điều 10. Thông tin

1. Để thực hiện được mục tiêu của Nghị định thư này, các quốc gia thành viên, đặc biệt là các quốc gia có biên giới chung hoặc nằm trên con đường vận chuyển người nhập cư trái phép, trao đổi thông tin với nhau phù hợp với hệ thống pháp luật và hành chính của mỗi nước mà không vi phạm đến quy định tại các điều 27 và 28 của Công ước, đặc biệt là các thông tin liên quan đến:

a) Địa điểm tập kết, nơi đến, lộ trình, người vận chuyển và phương tiện vận chuyển mà mình biết hoặc nghi ngờ rằng chúng được một nhóm tội phạm có tổ chức sử dụng để thực hiện các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này;

b) Các thông tin nhận dạng và phương thức hoạt động của các nhóm tội phạm có tổ chức mà mình biết hoặc nghi ngờ rằng chúng thực hiện các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này;

c) Tính xác thực và đặc trưng của các giấy tờ thông hành được cấp bời một quốc gia thành viên và việc mất cắp các giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước chưa ghi danh hoặc sự sử dụng vào mục đích bất hợp pháp của các loại giấy tờ này;

d) Các phương tiện và các biện pháp che dấu và vận chuyển người, việc sửa chữa nội dung, sao chép, mua bán trái phép hoặc mọi hành vi bất hợp pháp khác đối với các giấy tờ thông hành, giấy tờ căn cước để sử dụng trong các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này cũng như các biện pháp phát hiện ra các loại giấy tờ đó;

e) Các kinh nghiệm lập pháp, thực tiễn và các biện pháp được sử dụng nhằm ngăn ngừa và đấu tranh chống lại các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này; và
f) Các vấn đề khoa học, kỹ thuật có ích cho việc phát hiện và việc trấn áp, nhằm giúp nhau tăng cường khả năng phòng ngừa, phát hiện các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư, nhằm tiến hành các cuộc điều tra về các hành vi và truy tố những người thực hiện các hành vi đó.

2. Một quốc gia thành viên khi nhận được thông tin phải thực hiện mọi yêu cầu của quốc gia thành viên đã cung cấp thông tin đó, phải sử dụng các thông tin đó theo những quy định chặt chẽ.

Điều 11. Các biện pháp áp dụng ở biên giới

1. Trong khả năng có thể, các quốc gia thành viên tăng cường các biện pháp kiểm soát cần thiết tại biên giới nhằm ngăn ngừa và phát hiện việc đưa người nhập cư trái phép mà không vi phạm các cam kết quốc tế về sự tự do đi lại của con người.

2. Mỗi quốc gia thành viên phải đưa ra các quy định pháp luật hay thực hiện các biện pháp thích hợp khác, trong khả năng có thể, để phòng ngừa việc sử dụng các phương tiện vận tải đang được khai thác bởi các doanh nghiệp vận tải thương mại để thực hiện các hành vi tội phạm quy định tại điểm a), khoản 1 thuộc điều 6 của Nghị định thư này.

3. Các quốc gia thành viên khi áp dụng các biện pháp này phải đặc biệt lưu ý quy định nghĩa vụ cho các doanh nghiệp vận tải thương mại, bao gồm các công ty vận tải và chủ sở hữu cũng như người khai thác các phương tiện vận tải, phải kiểm tra và bảo đảm rằng tất cả các hành khách đều có giấy thông hành hợp lệ để nhập cảnh vào nước đón tiếp, nhưng không được vi phạm các công ước quốc tế có liên quan.

4. Mỗi quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của nội luật nước mình, để quy định hình phạt cho việc vi phạm các nghĩa vụ nêu tại khoản 3 của điều này.

5. Mỗi quốc gia thành viên, theo quy định của nội luật nước mình, dự kiến đưa ra các quy định cho phép cấm nhập cảnh hoặc huỷ thị thực của những người có liên can đến việc thực hiện những hành vi tội phạm quy định tại Nghị định thư này.

6. Các quốc gia thành viên dự kiến thực hiện các biện pháp tăng cường sự hợp tác giữa các cơ quan kiểm soát biên giới của mình, đặc biệt thông qua việc thiết lập và duy trì các đường thông tin liên lạc trực tiếp, mà không vi phạm quy định tại điều 27 của Công ước.

Điều 12. An ninh và vấn đề kiểm soát giấy tờ

Mỗi quốc gia thành viên, tuỳ theo điều kiện của mình, thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm:
c) Đảm bảo các giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do mình cấp có chất lượng sao cho không thể dễ dàng sử dụng vào mục đích không thích đáng, làm giả hay sửa chữa nội dung, sao chụp hay cấp một cách trái phép; và
d) Đảm bảo sự toàn vẹn và sự an toàn cho các giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do mình cấp hoặc cấp dưới danh nghĩa mình và ngăn chặn việc các loại giấy tờ đó được làm, cấp và sử dụng trái phép.

Điều 13. Tính hợp pháp và hiệu lực của các giấy tờ

Quốc gia thành viên khi được một quốc gia thành viên khác yêu cầu phải xác minh, theo quy định của nội luật nước mình và trong một thời hạn thích hợp, tính hợp pháp và hiệu lực của các giấy tờ thông hành hay giấy tờ căn cước do hoặc xem là đã được cấp dưới danh nghĩa của mình, bị nghi ngờ là được sử dụng để thực hiện các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này.

Điều 14. Đào tạo và hợp tác kỹ thuật

1. Các quốc gia thành viên tăng cường đào tạo chuyên môn nhân viên của các cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và các cơ quan khác có thẩm quyền trong việc ngăn ngừa các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này và trong việc đối xử nhân đạo đối với những người di cư là đối tượng của các hành vi đó, và trong việc tôn trọng các quyền mà Nghị định thư này đã thừa nhận cho họ.

2. Các quốc gia thành viên hợp tác với nhau và với các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức khác có thẩm quyền và các thành phần khác trong xã hội dân sự, tuỳ theo điều kiện cụ thể, để đảm bảo tốt công tác đào tạo lực lượng nhân viên trên lãnh thổ của mình, nhằm phòng ngừa, đấu tranh và xoá bỏ các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này và nhằm bảo vệ quyền của những người di cư là đối tượng của các hành vi đó. Công tác đào tạo phải đặc biệt tập trung vào:

a) Cải thiện sự an toàn và chất lượng của các loại giấy tờ thông hành;

b) Nhận biết và phát hiện các loại giấy tờ thông hành hoặc giấy tờ căn cước giả mạo;

c) Hoạt động trinh sát mang tính hình sự, đặc biệt liên quan đến việc nhận dạng các nhóm tội phạm có tổ chức đã thực hiện hoặc bị nghi ngờ là đã thực hiện các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này, liên quan đến các phương thức vận chuyển người nhập cư trái phép, đến việc sử dụng bất hợp pháp các loại giấy tờ thông hành hoặc giấy tờ căn cước để thực hiện các hành vi nêu tại điều 6 và liên quan đến các biện pháp che giấu được sử dụng trong việc đưa người nhập cư trái phép;

d) Cải thiện thủ tục khám xét phát hiện tại các điểm vào, điểm ra truyền thống và không truyền thống của những người nhập cư là đối tượng của việc đưa người nhập cư trái phép; và
e) Đối xử nhân đạo với những người nhập cư và bảo vệ các quyền của họ đã được Nghị định thư này thừa nhận.

3. Các quốc gia thành viên có kinh nghiệm sẽ xem xét các biện pháp trợ giúp kỹ thuật các quốc gia thành viên khác đặc biệt là những quốc gia xuất phát hoặc quốc gia trung chuyển của những người đã là đối tượng của các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này. Các quốc gia thành viên nỗ lực hết sức mình để cung cấp các phương tiện cần thiết, như xe cộ, hệ thống tin học, máy đọc tài liệu, nhằm đấu tranh chống lại các hành vi nêu tại điều 6.

Điều 14. Các biện pháp phòng ngừa khác

1. Mỗi quốc gia thành viên sẽ đưa ra các biện pháp nhằm xây dựng hoặc củng cố các chương trình phổ biến thông tin để cho nhân dân nhận thức được rằng các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này là những hành vi phạm tội thường được các nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện nhằm thu lợi và rằng các tổ chức đó gây nguy hiểm cho những người di cư có liên quan.

2. Theo quy định của điều 31 của Công ước, các quốc gia thành viên hợp tác với nhau trong lĩnh vực phổ biến thông tin nhằm ngăn chặn những người có dự định di cư trở thành nạn nhận của các nhóm tội phạm có tổ chức.

3. Các quốc gia thành viên khuyến khích, tăng cường phát triển các chương trình phát triển và hợp tác ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế trên cơ sở thực tế kinh tế - xã hội của việc di cư, đồng thời đặc biệt lưu ý đến các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nhằm giải quyết các nguyên nhân kinh tế - xã hội sâu xa của nạ đưa người nhập cư trái phép, như tình trạng đói nghèo và chậm phát triển.

Điều 16. Các biện pháp bảo hộ và trợ giúp

1. Khi áp dụng quy định tại Nghị định thư này, phù hợp với nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật quốc tế, mỗi quốc gia thành viên phải đưa ra các biện pháp thích hợp để, kể cả các việc ban hành các quy định pháp luật nếu có thể, để bảo vệ quyền của những người đã là đối tượng của những hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư, đó là các quyền theo quy định của luật pháp quốc tế có liên quan, đặc biệt là quyền được sống và quyền không bị áp dụng các hình thức tra tấn hoặc các hình phạt hay đối xử dã man, vô nhân đạo, hèn hạ khác.

2. Mỗi quốc gia thành viên đưa ra các biện pháp thích hợp để bảo vệ những người nhập cư chống lại các hình thức bạo lực mà họ có thể phải gánh chịu từ phía các cá nhân cũng như từ phía các nhóm người, do họ đã là đối tượng của các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này.

3. Mỗi quốc gia thành viên có những biện pháp thích đáng để trợ giúp những người nhập cư có tính mạng hoặc sự an toàn bị đe doạ do họ đã là đối tượng của những hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư.

4. Khi áp dụng quy định tại điều này, các quốc gia thành viên phải tính đến những nhu cầu đặc thù của phụ nữ và trẻ em.

5. Trong trường hợp thực hiện biện giam giữ một người đã là đối tượng của các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư, mỗi quốc gia thành viên phải tôn trọng các nghĩa vụ mà họ đã cam kết theo quy định của Công ước Viên về quan hệ ngoại giao lãnh sự, trong những trường hợp Công ước này được áp dụng, kể cả nghĩa vụ phải thông tin ngay cho người có liên quan về các quy định áp dụng trong việc thông tin cho cơ quan lãnh sự và về việc liên hệ với cơ quan đó.

Điều 17. Thoả ước

Các quốc gia thành viên xem xét việc ký kết các hiệp ước hoặc thoả thuận song phương hay đa phương trong khu vực nhằm:

a) Thiết lập các biện pháp thích hợp nhất và hiệu quả nhất để phòng ngừa và đấu tranh chống lại các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư; hoặc
b) Cùng nhau triển khai các quy định của Nghị định thư.

Điều 14. Hồi hương những người là đối tượng của việc đưa người nhập cư trái phép

1. Mỗi quốc gia thành viên, không được chậm chễ mà không có lý do, phải đưa ra các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho việc hồi hương những người đã là đối tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư và mang quốc tịch hoặc có quyền thường trú trên lãnh thổ nước mình vào thời điểm hồi hương.

2. Mỗi quốc gia thành viên, theo quy định của nội luật nước mình, nghiên cứu khả năng tạo điều kiện thuận lợi và chấp thuận cho việc hồi hương của người đã là đối tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư và có quyền thường trú trên lãnh thổ nước mình vào thời điểm người đó nhập cảnh vào nước đón tiếp.

3. Theo yêu cầu của quốc gia thành viên đón tiếp, quốc gia thành viên được yêu cầu, không được chậm chễ mà không có lý do hoặc có lý do không chính đáng, xác minh xem một người đã là đối tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư có phải là công dân của nước mình hoặc có quyền thường trú trên lãnh thổ nước mình không.

4. Để tạo điều kiện cho sự hồi hương của một người đã là đối tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư mà không có đầy đủ giấy tờ theo yêu cầu, quốc gia thành viên nơi người này mang quốc tịch hoặc có quyền thường trú, theo yêu cầu của quốc gia tiếp nhận, phải chấp thuận việc cấp các giấy tờ thông hành hoặc các giấy phép cần thiết khác cho phép người này được trở lại lãnh thổ của nước mình.

5. Mỗi quốc gia thành viên có liên quan đến việc hồi hương một người đã là đối tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này sẽ thực hiện các biện pháp thích hợp để tổ chức việc hồi hương này một cách có trật tự và trên cơ sở bảo đảm sự an toàn và phẩm giá của người hồi hương.

6. Các quốc gia thành viên có thể hợp tác với các tổ chức quốc tế có thẩm quyền để áp dụng quy định tại điều này.

7. Quy định tại điều này không làm ảnh hưởng đến các quyền mà luật pháp của quốc gia thành viên tiếp nhận đã dành cho những người đã là đối tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này.

8. Quy định tại điều này không làm ảnh hưởng đến các hiệp ước hay thoả thuận song phương hay đa phương đang có hiệu lực điều chỉnh toàn bộ hay một phần việc hồi hương của những người đã là đối tượng của một hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này.

IV.

Điều khoản thi hành

Điều 19.

Điều khoản tự vệ

1. Quy định tại Nghị định thư này không được tác động đến các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các quốc gia và các cá nhân theo quy định của luật pháp quốc tế, kể cả luật nhân đạo quốc tế và pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người và đặc biệt là Công ước năm 1951 và Nghị định thư năm 1967 về quy chế những người tị nạn và về nguyên tắc không được từ chối tiếp nhận người tị nạn đã được nêu trong các văn bản đó, trong những trường hợp các văn bản đó được áp dụng.

2. Các biện pháp nêu trong Nghị định thư này được giải thích và áp dụng sao cho mọi người không bị phân biệt đối xử chỉ vì họ là đối tượng của các hành vi nêu tại điều 6 của Nghị định thư này. Việc giải thích và áp dụng các biện pháp này phải phù hợp với các nguyên tắc không phân biệt đối xử đã được quốc tế công nhận.

Điều 20. Giải quyết tranh chấp

1. Các quốc gia thành viên nỗ lực giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay việc áp dụng Nghị định thư này thông qua thương lượng.

2. Mọi tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hoặc việc áp dụng Nghị định thư này mà không thể giải quyết thông qua thương lượng trong thời hạn thích hợp thì sẽ được giải quyết bằng trọng tài theo đề nghị của một trong số các quốc gia thành viên đó. Sau thời hạn sáu tháng, kể từ khi có đề nghị giải quyết bằng trọng tài, nếu các quốc gia thành viên không thoả thuận được về phương thức tổ chức trọng tài thì bất kỳ quốc gia nào trong số các quốc gia thành viên đó có thể đề nghị đưa tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án quốc tế, phù hợp với Quy chế của Tòa án.

3. Khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập Nghị định thư này, mỗi quốc gia thành viên có thể tuyên bố không bị ràng buộc bởi khoản 2 của điều này. Các quốc gia thành viên khác sẽ không bị ràng buộc bởi khoản 2 của điều này đối với quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu như vậy.

4. Các quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu như quy định tại khoản 3 của điều này có thể hủy bảo lưu bất cứ lúc nào bằng cách gửi thông báo cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

Điều 21. Ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt và gia nhập

1. Nghị định thư này sẽ được để cho tất cả các quốc gia ký từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 12 năm 2000 tại Pa-léc-mô (Italia) và sau đó tại trụ sở của Tổ chức Liên hợp quốc ở New York (Mỹ) đến ngày 12 tháng 12 năm 2002.

2. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực cũng có thể ký vào Nghị định thư này với điều kiện phải có ít nhất một quốc gia thành viên của tổ chức đó đã ký Nghị định thư theo quy định tại khoản 1 của điều này.

3. Công ước này phải được phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt.

Các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có thể nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt nếu ít nhất một trong số các quốc gia thành viên của tổ chức đó đã phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt. Trong văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt, tổ chức nói trên phải chỉ rõ phạm vi thẩm quyền liên quan đến các vấn đề được Nghị định thư này điều chỉnh. Tổ chức đó phải thông báo với cơ quan lưu chiểu mọi thay đổi có giá trị về phạm vi thẩm quyền của mình.

4. Mọi quốc gia và mọi tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có ít nhất một quốc gia thành viên đang là thành viên của Nghị định thư đều có thể gia nhập Nghị định thư. Các văn kiện gia nhập sẽ được gửi lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Khi gia nhập, tổ chức hội nhập kinh tế khu vực phải tuyên bố phạm vi thẩm quyền của mình đối với các vấn đề được Nghị định thư này điều chỉnh. Tổ chức đó phải thông báo với cơ quan lưu chiểu mọi thay đổi có giá trị về phạm vi thẩm quyền của mình.

Điều 17. Thời điểm có hiệu lực

3. Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực vào ngày thứ 90 kể từ ngày nhận được văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40, nhưng Nghị định thư chưa được tính hiệu lực nếu bản thân Công ước chưa có hiệu lực. Theo quy định tại khoản này, văn kiện của một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực không được tính thêm vào số lượng các văn kiện đã được các quốc gia thành viên của tổ chức này nộp.

4. Đối với các quốc gia hay tổ chức hội nhập kinh tế khu vực phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập Công ước này sau ngày văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập thứ 40 đã được nộp và có giá trị, thì Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày quốc gia hoặc tổ chức đó nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập có giá trị, hoặc vào ngày Nghị định thư bắt đầu có hiệu lực theo quy định tại khoản 1 của điều này, nếu vào thời điểm đó hiệu lực của Nghị định thư chưa được tính.

Điều 39. Sửa đổi, bổ sung

1. Sau thời hạn 5 năm từ khi Nghị định thư này có hiệu lực, bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể đề nghị sửa đổi, bổ sung và nộp văn bản đề nghị của mình cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Tổng thư ký Liên hợp quốc gửi văn bản đề nghị đó cho tất cả các quốc gia thành viên và cho Hội nghị các quốc gia thành viên của Công ước để xem xét và quyết định. Các quốc gia thành viên của Nghị định thư này được tập hợp thành Hội nghị các quốc gia thành viên, phải thực hiện mọi nỗ lực để đạt được sự đồng thuận về đề xuất sửa đổi, bổ sung. Nếu mọi có gắng đã được thực hiện mà không đạt được thoả thuận chung, giải pháp cuối cùng để đề xuất được thông qua là phải tiến hành bỏ phiếu và phải đạt được sự tán thành của ít nhất 2/3 các quốc gia thành viên có mặt tại Hội nghị và có tham gia biểu quyết.

2. Để thực hiện quyền bỏ phiếu theo quy định của điều này trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình, các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực có số phiếu bằng số lượng thành viên của mình đã tham gia vào Nghị định thư này. Các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực không thực hiện quyền bỏ phiếu của mình nếu các quốc gia thành viên của họ đã tự thực hiện quyền này, và ngược lại.

3. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông qua theo quy định tại khoản 1 của điều này phải được các quốc gia thành viên phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt.

4. Quyết định sửa đổi, bổ sung đã được thông qua theo quy định tại khoản 1 của điều này sẽ bắt đầu có hiệu lực đối với một quốc gia thành viên 90 ngày sau ngày quốc gia đó nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt phần sửa đổi, bổ sung cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

5. Quyết định sửa đổi, bổ sung khi đã có hiệu lực thì sẽ có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với các quốc gia thành viên đã đồng ý chịu sự ràng buộc của phần sửa đổi, bổ sung đó. Các quốc gia thành viên còn lại vẫn phải áp dụng các quy định của Nghị định thư này và các quy định sửa đổi, bổ sung trước đó mà họ đã phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt.

Điều 24. Rút khỏi Công ước

1. Một quốc gia thành viên có thể rút khỏi Công ước bằng cách gửi thông báo bằng văn bản cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Quyết định rút khỏi Công ước có hiệu lực sau một năm kể từ ngày Tổng thư ký Liên hợp quốc nhận được thông báo.

2. Một tổ chức hội nhập kinh tế khu vực sẽ không còn tư cách là thành viên của Nghị định thư khi tất cả các thành viên của tổ chức đó đã rút lui khỏi Nghị định thư.

Điều 20. Cơ quan lưu chiểu và ngôn ngữ được sử dụng

1. Tổng thư ký Liên hợp quốc là người được chỉ định giữ lưu chiểu Nghị định thư này.

2. Bản gốc của Nghị định thư này được lập bằng tiếng Anh, tiếng A-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp và tiếng Nga đều có giá trị pháp lý như nhau và sẽ do Tổng thư ký Liên hợp quốc giữ lưu chiểu.

để làm bằng, đại diện toàn quyền của các Chính phủ ký tên dưới đây đã ký vào Nghị định thư này.

 


 
87 Nguyễn Chí Thanh - Hà Nội - Việt Nam
Tel: (84-4) 835 18 99 * Fax: (84-4) 835 20 90
Thực hiện bởi  Ringier Thong Nhat.