|
PHÁP LỆNH
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 29/2000/PL-UBTVQH10
NGÀY 28 THÁNG 12 NĂM 2000 VỀ THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Để xây dựng, phát triển Hà Nội - Thủ
đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trái tim của cả
nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại; kế thừa và phát
huy truyền thống lịch sử ngàn năm văn hiến Thăng Long - Hà
Nội, góp phần xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội
khoá X, kỳ họp thứ 6 về Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh năm 2000;
Pháp lệnh này quy định về Thủ đô Hà
Nội.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Vị trí Thủ đô Hà Nội
Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính
trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa
học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước; là
nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương của Đảng và Nhà
nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện
ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động
đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước.
Điều 2. Phạm vi điều chỉnh
Pháp lệnh này quy định mục tiêu, cơ chế
chính sách, phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý nhà
nước trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô.
Điều 3. Mục tiêu xây dựng,
phát triển Thủ đô
1. Xây dựng, phát triển Thủ đô xã hội chủ
nghĩa giàu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểu
cho cả nước.
2. Có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đô thị đồng bộ, hiện đại, môi trường bền vững.
3. Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị,
quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ nhân dân và bảo
đảm tuyệt đối an toàn cho hoạt động của các cơ quan lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ
quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế.
4. Bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá
truyền thống của Thủ đô ngàn năm văn hiến, góp phần xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc; xây dựng con người Thủ đô văn minh, thanh lịch,
tiêu biểu cho trí tuệ và truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam; thiết lập các cơ sở hàng đầu của đất nước về
nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, văn hoá, giáo dục,
y tế, thể dục thể thao.
5. Phát triển kinh tế Thủ đô với tốc độ
tăng trưởng cao, bền vững, cơ cấu hợp lý; đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế trong nước và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế.
6. Tập trung làm lành mạnh, trong sạch
môi trường văn hoá - xã hội; ngăn chặn, đẩy lùi các tiêu cực
và tệ nạn xã hội.
Điều 4. Nhiệm vụ xây dựng,
phát triển và bảo vệ Thủ đô
1. Xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô
là quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân Thủ đô, là nhiệm vụ
thường xuyên, trực tiếp của các cấp chính quyền thành phố Hà
Nội.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động, sinh
sống trên địa bàn có trách nhiệm góp phần xây dựng, phát
triển và bảo vệ Thủ đô.
2. Xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô
là nhiệm vụ của nhân dân cả nước.
Chính phủ chỉ đạo, phân công, tổ chức
phối hợp các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, các địa
phương trong cả nước huy động các nguồn lực phục vụ sự
nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô.
3. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm động viên mọi
tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở
nước ngoài tham gia xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô.
Điều 5. Chính sách đầu tư xây
dựng, phát triển Thủ đô
1. Nhà nước xác định Thủ đô là địa bàn
trọng điểm được tập trung đầu tư đặc biệt các nguồn lực để
bảo đảm thực hiện các mục tiêu quy định tại Điều 3 của Pháp
lệnh này.
2. Nhà nước có chính sách ưu đãi, khuyến
khích tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng,
phát triển Thủ đô.
Điều 6. Hợp tác quốc tế xây
dựng, phát triển Thủ đô
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện mở
rộng các hoạt động giao lưu và hợp tác quốc tế, tranh thủ
các nguồn lực bên ngoài, chủ động hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới để xây dựng, phát triển Thủ đô.
CHƯƠNG II
PHÁT TRIỂN KINH TẾ, GIÁO DỤC, KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ, VĂN HOÁ - XÃ HỘI CỦA THỦ ĐÔ
Điều 7. Phát triển kinh tế
1. Chiến lược phát triển kinh tế Thủ đô
được hoạch định dài hạn và cho từng giai đoạn, bảo đảm nhanh
chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng dịch vụ -
công nghiệp - nông nghiệp, đạt mức tăng trưởng kinh tế cao,
bền vững; phát huy thế mạnh của Thủ đô làm động lực cho vùng
kinh tế trọng điểm phía Bắc và cả nước.
2. Nhà nước có chính sách:
a) Phát triển đa dạng và nâng cao trình
độ, chất lượng các ngành dịch vụ, tập trung đầu tư phát
triển dịch vụ thông tin, du lịch, thương mại, tài chính,
ngân hàng, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, bảo
hiểm, hàng không, bưu chính, viễn thông và các dịch vụ khác;
xây dựng Thủ đô trở thành trung tâm hàng hoá bán buôn, xuất
- nhập khẩu, trung tâm tài chính - ngân hàng hàng đầu ở khu
vực phía Bắc và có vai trò quan trọng của cả nước;
b) Ưu tiên phát triển các ngành công
nghiệp sử dụng công nghệ cao nhằm tạo ra sản phẩm mới, có
hiệu quả kinh tế, có sức cạnh tranh, ít gây ô nhiễm môi
trường; tập trung đầu tư phát triển các ngành hàng có khả
năng phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế của các tỉnh phía
Bắc và cả nước; đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng xuất khẩu và
thay thế hàng nhập khẩu;
c) Phát triển nông nghiệp và kinh tế
ngoại thành theo hướng nông nghiệp đô thị, sinh thái; thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn;
ưu tiên phát triển nông nghiệp sạch, các nghề, làng nghề
truyền thống, làng nông nghiệp du lịch sinh thái; đầu tư
phát triển công nghệ mới, tạo giống mới phục vụ sản xuất
nông nghiệp; chú trọng công nghệ bảo quản, chế biến sau thu
hoạch.
3. Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội ban hành các quy định ưu đãi đối với các
ngành trọng điểm, khuyến khích phát triển cho từng thời kỳ,
từng ngành dịch vụ và sản xuất hàng hoá.
Điều 8. Phát triển giáo dục và
đào tạo
1. Phát triển đồng bộ hệ thống giáo dục
và đào tạo ở Thủ đô với cơ sở vật chất hiện đại để Thủ đô
trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho
đất nước; phấn đấu trở thành một trung tâm đào tạo có uy tín
ở khu vực và có dân trí cao.
2. Nhà nước có chính sách:
a) Đầu tư xây dựng một số trường đại học,
cao đẳng chất lượng cao đạt tiêu chuẩn khu vực và thế giới;
b) Phát triển đa dạng các loại hình giáo
dục, các loại hình đào tạo; đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản
lý, cán bộ khoa học, công nghệ, công nhân kỹ thuật.
3. Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội ban hành các quy định khuyến khích, tạo
điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển sự
nghiệp giáo dục và đào tạo ở Thủ đô.
Điều 9. Phát triển khoa học và
công nghệ
1. Phát triển khoa học và công nghệ của
Thủ đô theo hướng ưu tiên phát triển công nghệ cao trong các
lĩnh vực công nghệ thông tin - điện tử, sinh học, cơ khí -
tự động hoá, công nghệ sản xuất và sử dụng vật liệu mới.
2. Nhà nước có chính sách:
a) Đầu tư xây dựng một số cơ sở nghiên
cứu, phòng thí nghiệm hiện đại đạt tiêu chuẩn khu vực và thế
giới;
b) Phát triển và mở rộng thị trường công
nghệ; ưu tiên chuyển giao, ứng dụng công nghệ hiện đại vào
sản xuất, kinh doanh và hoạt động quản lý.
3. Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội ban hành các quy định ưu đãi, khuyến khích
tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển sự nghiệp khoa học và
công nghệ ở Thủ đô, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tài
năng, trí tuệ và khả năng sáng tạo của các nhà khoa học đầu
ngành, các chuyên gia giỏi.
Điều 10. Phát triển văn hoá -
xã hội
1. Phát triển văn hoá - xã hội của Thủ đô
nhằm tạo lập môi trường văn hoá - xã hội văn minh, lành
mạnh.
2. Nhà nước có chính sách:
a) Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử,
văn hoá, danh lam thắng cảnh, khu phố cổ tiêu biểu ở Thủ đô;
xây dựng các viện bảo tàng, tượng đài văn hoá, lịch sử, cách
mạng, công viên, khu vui chơi giải trí, thư viện hiện đại và
các công trình văn hoá nghệ thuật khác để đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt tinh thần ngày càng cao của nhân dân;
b) Phát triển hệ thống y tế, khám chữa
bệnh đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng
của nhân dân; đẩy mạnh công tác y học dự phòng chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng; cải tạo, nâng cấp các trung tâm y tế; xây
dựng một số bệnh viện đa khoa và chuyên khoa hiện đại, chất
lượng cao;
c) Đầu tư xây dựng khu liên hợp thể thao
hiện đại, các trung tâm thể dục thể thao đủ điều kiện phục
vụ các hoạt động thể dục thể thao trong nước và quốc tế;
phát triển thể dục thể thao quần chúng và xây dựng mạng lưới
thể dục thể thao cơ sở.
3. Chính phủ phân công trách nhiệm và chỉ
đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội xây dựng quy
chế quản lý, đầu tư và sử dụng các cơ sở văn hoá, y tế, thể
dục thể thao trên địa bàn; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu
tư phát triển sự nghiệp văn hoá - xã hội của Thủ đô.
CHƯƠNG III
QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ CỦA THỦ ĐÔ
Điều 11. Quản lý quy hoạch Thủ
đô
1. Thủ đô được xây dựng, phát triển theo
quy hoạch chung do Chính phủ phê duyệt.
Căn cứ vào quy hoạch chung của Thủ đô, Uỷ
ban nhân dân thành phố Hà Nội lập quy hoạch chi tiết các
quận, huyện, các khu dân cư và các khu vực phát triển mới;
chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ có liên quan trong việc xây dựng quy hoạch
chuyên ngành trên địa bàn, quản lý chặt chẽ việc thực hiện
quy hoạch đã được phê duyệt.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội
lập kế hoạch hàng năm để tổ chức thực hiện quy hoạch.
2. Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ
đạo thực hiện quy hoạch chi tiết, bảo đảm xây dựng đồng bộ
các khu đô thị mới theo quy hoạch; ban hành các quy định
quản lý xây dựng và trật tự đô thị.
Trong trường hợp cần thiết và được Chính
phủ cho phép, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội được điều
chỉnh cục bộ quy hoạch chung nhằm bảo đảm sự phát triển đồng
bộ của Thủ đô.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đầu tư xây
dựng trên địa bàn phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định của
pháp luật và các quy định của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà
Nội về quy hoạch, quản lý xây dựng và trật tự đô thị.
Điều 12. Quản lý tài nguyên,
đất đai, sông, hồ
1. Tài nguyên, đất đai, sông, hồ trên địa
bàn Thủ đô được khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả, phù
hợp với quy hoạch chung.
2. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm:
a) Trực tiếp quản lý việc khai thác, sử
dụng tài nguyên, đất đai, sông, hồ trên địa bàn;
b) Xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn
và hàng năm về sử dụng tài nguyên, đất đai, sông, hồ phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội, đô thị và dân sinh;
c) Ban hành các quy định để bảo vệ và
tổ chức khai thác có hiệu quả tài nguyên, đất đai, sông, hồ
trên địa bàn;
d) Quản lý, theo dõi và xử lý kịp thời
các biến động về tài nguyên, đất đai, sông, hồ trên địa bàn.
3. Người sử dụng đất phải sử dụng đúng
mục đích được giao, thực hiện nghĩa vụ theo quy định của
pháp luật và quy định của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội
về đất đai.
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất
để sử dụng vào mục đích xây dựng, phát triển Thủ đô theo quy
hoạch, người sử dụng đất có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành
và được đền bù theo quy định của pháp luật.
Điều 13. Quản lý và xây dựng,
phát triển nhà
1. Xây dựng, phát triển nhà trên địa bàn
phải phù hợp với quy hoạch, đáp ứng nhu cầu phát triển đô
thị hiện đại và nâng cao đời sống của nhân dân.
2. Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội có
trách nhiệm:
a) Hàng năm công bố công khai các quy
hoạch, kế hoạch đầu tư của Nhà nước về cải tạo các khu đô
thị cũ và xây dựng các khu đô thị mới;
b) Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư,
lựa chọn mô hình kinh doanh, phát triển nhà ở, các khu dân
cư, các khu đô thị mới phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ,
từng loại đối tượng; chú trọng xây dựng nhà ở cho người có
thu nhập thấp; mở rộng thị trường kinh doanh bất động sản;
c) Quản lý các loại quỹ nhà trên địa bàn.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng nhà
thuộc các hình thức sở hữu phải nghiêm chỉnh chấp hành quy
định của pháp luật và quy định của Uỷ ban nhân dân thành phố
Hà Nội về quản lý nhà.
Điều 14. Quản lý và xây dựng,
phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
1. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô
thị của Thủ đô được Nhà nước xếp vào loại đặc biệt quan
trọng và tập trung đầu tư xây dựng đi trước một bước so với
yêu cầu xây dựng, phát triển Thủ đô.
Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, hiện đại, phù
hợp với quy hoạch chung; ưu tiên phát triển hệ thống giao
thông đô thị, xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới thông tin, hệ
thống cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải và vệ
sinh môi trường ở Thủ đô.
2. Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội có
trách nhiệm:
a) Lập kế hoạch đầu tư, tổ chức quản lý
thống nhất hoạt động đầu tư, khai thác, sử dụng hệ thống kết
cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn theo sự phân cấp
của Chính phủ;
b) Phân công, phân cấp quản lý theo thẩm
quyền và ban hành các quy định khuyến khích đầu tư; xây dựng
quy chế khai thác, sử dụng cho từng loại công trình hạ tầng
kỹ thuật đô thị.
Điều 15. Quản lý và bảo vệ môi
trường
1. Môi trường của Thủ đô được bảo vệ,
phát triển bền vững, bảo đảm đô thị xanh, sạch, đẹp, cân
bằng sinh thái, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi ở, nơi làm việc và
các khu vực công cộng.
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm hướng dẫn và phối hợp với Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội:
a) Đầu tư đồng bộ hệ thống trang thiết bị
quan trắc môi trường;
b) Hàng năm tổ chức đánh giá hiện trạng,
tác động môi trường và có giải pháp đầu tư phù hợp.
4. Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội có
trách nhiệm:
a) Ban hành các quy định bảo vệ môi
trường, quản lý những nguồn phát sinh gây tác hại đến môi
trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ môi
trường;
b) Tổ chức di chuyển các cơ sở sản xuất,
kinh doanh gây ô nhiễm môi trường đến nơi phù hợp; cải tạo
môi trường ở đường phố, làng, xã; khắc phục tại chỗ nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường;
c) Bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn cân bằng
sinh thái; phát triển mạng lưới công viên, vườn hoa, cây
xanh trên địa bàn.
Điều 16. Quản lý dân cư
1. Dân cư trên địa bàn được quản lý với
quy mô, mật độ, cơ cấu hợp lý theo quy hoạch chung, phù hợp
đặc điểm của Thủ đô.
2. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội có trách nhiệm:
a) Ban hành các quy định ưu đãi, tạo điều
kiện thuận lợi cho những người có trình độ cao, chuyên gia
giỏi sinh sống, làm việc trên địa bàn;
b) Ban hành các quy định về quản lý di
dân; quy định các biện pháp kiểm soát và hạn chế nhập cư tự
phát, trái pháp luật vào Thủ đô;
c) Ban hành các quy định về quản lý lao
động; có biện pháp tạo nhiều việc làm mới, giảm tỷ lệ thất
nghiệp; ưu đãi người có công với nước; đấu tranh phòng,
chống tội phạm và các tệ nạn xã hội;
d) Ban hành
quy chế quản lý dân cư trên địa bàn theo quy định của pháp
luật.
CHƯƠNG IV
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ
Điều 17. Ngân sách nhà nước
đầu tư cho xây dựng, phát triển Thủ đô
1. Nhà nước có cơ chế, chính sách đầu tư
đặc biệt về ngân sách và các nguồn tài chính khác cho Thủ đô;
bố trí nâng dần tỷ lệ phân bổ ngân sách trong từng giai đoạn
ổn định 3 năm.
Thủ đô được sử dụng toàn bộ khoản thu
ngân sách vượt kế hoạch hàng năm theo quy định của pháp luật
để đầu tư xây dựng, phát triển.
2. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả nguồn
ngân sách được Nhà nước phân bổ và thu hút các nguồn vốn đầu
tư trong nước và ngoài nước dưới nhiều hình thức để thực
hiện các chương trình, dự án xây dựng, phát triển Thủ đô.
Điều 18. Các nguồn vốn hỗ trợ
Chính phủ ưu tiên bố trí nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) cùng với vốn đối ứng trong nước,
vốn thực hiện các chương trình, dự án, nguồn tín dụng ưu đãi
cho Thủ đô trên cơ sở các chương trình, dự án xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, môi trường và phúc
lợi công cộng.
Điều 19.
Các biện pháp tài chính khác
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành
phố Hà Nội được thực hiện một số biện pháp tài chính sau đây
để xây dựng, phát triển Thủ đô:
1. Phát hành trái phiếu xây dựng Thủ đô;
2. Sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng
kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị và các công trình phúc lợi
công cộng theo quy định của pháp luật;
3. Lập Quỹ xây dựng, phát triển Thủ đô;
4. Trong trường hợp cần thiết, được vay
vốn từ các nguồn tài chính của Nhà nước, tổ chức, cá nhân
trong nước và ngoài nước để đầu tư xây dựng, phát triển Thủ
đô theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG V
TRÁCH NHIỆM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ THỦ ĐÔ
Điều 20. Trách nhiệm của Chính
phủ
1. Chính phủ có trách nhiệm:
a) Trực tiếp chỉ đạo xây dựng và thực
hiện quy hoạch chung, chương trình, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của Thủ đô; ưu tiên giải quyết kịp thời những
vấn đề có liên quan đến Thủ đô; quyết định đầu tư ngân sách
cho các nội dung được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8,
điểm a khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 14, điểm d khoản 1 Điều
20 và điểm a khoản 2 Điều 21 của Pháp lệnh này;
b) Chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ có liên quan phối hợp với Uỷ ban nhân
dân thành phố Hà Nội xây dựng, triển khai thực hiện chương
trình, kế hoạch phát triển Thủ đô; chỉ đạo xây dựng một số
cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển Thủ đô; huy động Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham
gia, phối hợp, hỗ trợ Thủ đô trong từng lĩnh vực cụ thể;
c) Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước
theo ngành và lãnh thổ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ có liên quan với Uỷ ban nhân dân thành
phố Hà Nội trong sự nghiệp xây dựng, phát triển Thủ đô;
d) Chỉ đạo quy hoạch xây dựng khu Trung
tâm hội nghị quốc tế, Trụ sở Quốc hội, Bảo tàng cách mạng,
Trung tâm thể dục thể thao quốc gia và trụ sở các cơ quan
trung ương để phục vụ các hoạt động chính trị, kinh tế, văn
hoá, đối ngoại của đất nước.
2. Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo
công tác xây dựng và quản lý đô thị của Thủ đô.
Điều 21. Trách nhiệm của các
cơ quan, tổ chức ở trung ương và các địa phương
trong cả nước
1. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm:
a) Lập kế hoạch đầu tư xây dựng, phát
triển Thủ đô phù hợp với quy hoạch chung và quy hoạch chuyên
ngành;
b) Phối hợp với Uỷ ban nhân dân thành phố
Hà Nội khi xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù cho
Thủ đô và triển khai các chương trình, dự án đầu tư trên địa
bàn để bảo đảm quản lý thống nhất theo quy hoạch;
c) Phối hợp, tạo điều kiện để Uỷ ban nhân
dân thành phố Hà Nội mở rộng các hoạt động giao lưu, hợp tác
quốc tế và phát triển kinh tế đối ngoại.
2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương có trách
nhiệm:
a) Căn cứ vào quy hoạch chung, tập trung
đầu tư xây dựng trụ sở làm việc tương xứng với vị thế Thủ
đô;
b) Phối hợp với Uỷ ban nhân dân thành phố
Hà Nội chăm lo điều kiện sinh sống của cán bộ, công chức
thuộc phạm vi quản lý của mình sống trên địa bàn.
3. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương chủ động mở rộng các hình thức liên
kết, hợp tác với Thủ đô phù hợp với nhu cầu và thế mạnh của
địa phương, góp phần đẩy nhanh tốc độ xây dựng, phát triển
Thủ đô.
Điều 22. Trách nhiệm của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội
1. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm:
a) Chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ nghiên cứu, đề xuất trình
Chính phủ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an
ninh quốc phòng và các cơ chế, chính sách đặc thù cho Thủ đô;
b) Phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cung cấp dịch vụ bảo đảm cho các hoạt động đối nội,
đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước;
c) Mở rộng hoạt động đối ngoại, xây dựng
các chương trình, kế hoạch để chủ động hội nhập kinh tế khu
vực và thế giới; xây dựng chiến lược đối ngoại của Thủ đô
trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước;
d) Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi
để tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động giao lưu và hợp
tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội,
giáo dục, khoa học và công nghệ.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà
Nội trực tiếp quản lý, điều hành công tác xây dựng và quản
lý đô thị của Thủ đô.
Điều 23. Trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân
1. Tổ chức, cá nhân hoạt động, sinh sống
ở Thủ đô có trách nhiệm tham gia xây dựng nếp sống văn minh,
thanh lịch, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn;
nghiêm chỉnh chấp hành quy định của Pháp lệnh này, các quy
định khác của pháp luật có liên quan và các quy định của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội.
2. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm phối hợp
với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội bảo
đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ
đô.
Điều 24. Trách nhiệm bảo vệ
Thủ đô
1. Bảo vệ Thủ đô là trách nhiệm của mọi
cơ quan, tổ chức và công dân.
2. Căn cứ vào nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng,
an ninh, Chính phủ chỉ đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an phối
hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
xây dựng kế hoạch bảo vệ, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho Thủ
đô trong mọi tình huống.
3. Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo
thực hiện và tổ chức lực lượng bảo đảm quốc phòng, an ninh
và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn gắn với việc thực
hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.
CHƯƠNG VI
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 25. Khen thưởng
Tổ chức, cá nhân có đóng góp xuất sắc cho
sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô được khen
thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 26. Xử lý vi phạm
Tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của
Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo
quy định của pháp luật.
CHƯƠNG VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 27. Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày 03
tháng 02 năm 2001.
Những quy định trước đây trái với Pháp
lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 28. Hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành Pháp lệnh này.
|