THÔNG TƯ
CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN SỐ 15/2003/TT-BCA (V19)
NGÀY 10 THÁNG 9 NĂM 2003 HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ
TƯ PHÁP CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ HỖ TRỢ
TƯ PHÁP THUỘC CÔNG AN NHÂN DÂN
Để bảo đảm sự thống nhất trong hoạt động hỗ trợ tư
pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp
thuộc Công an nhân dân, Bộ Công an hướng dẫn hoạt
động hỗ trợ tư pháp của lực lượng này như sau:
1. Lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc
Công an nhân dân (sau đây viết gọn là lực lượng Cảnh
sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp) là lực lượng được giao
trách nhiệm bảo vệ các phiên toà hình sự và khi có
yêu cầu thì bảo vệ các phiên toà dân sự, hành chính,
kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình (sau đây
viết gọn là các phiên toà); dẫn giải người làm chứng,
bắt giữ, áp giải bị can, bị cáo, người đã có quyết
định thi hành án theo yêu cầu của cơ quan tiến hành
tố tụng có thẩm quyền; bảo vệ nhà tạm giữ, trại tạm
giam thuộc Công an nhân dân; hỗ trợ thi hành bản án,
quyết định hình sự, dân sự và bản án, quyết định
khác do pháp luật quy định theo yêu cầu của cơ quan
thi hành án có thẩm quyền; trực tiếp thi hành án tử
hình; quản lý kho vật chứng thuộc Công an nhân dân.
Việc bảo vệ nhà tạm giữ, trại tạm giam thuộc Công an
nhân dân thực hiện theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP
ngày 07/11/1998 của Chính phủ ban hành Quy chế về
tạm giữ, tạm giam.
Việc quản lý kho vật chứng thuộc Công an nhân dân thực
hiện theo Thông tư số 06/2003/TT-BCA(V19) ngày
12/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực
hiện một số điều của Quy chế quản lý kho vật chứng
(ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày
18/2/2002 của Chính phủ) trong lực lượng Công an
nhân dân.
2. Hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo
vệ và hỗ trợ tư pháp phải bảo đảm yêu cầu nhanh
chóng, kịp thời, chính xác, hiệu quả. Nghiêm cấm
việc lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi
thi hành nhiệm vụ để xâm phạm quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Cán bộ, chiến sĩ
Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp phải được đào tạo,
huấn luyện về chuyên môn nghiệp vụ cần thiết về hoạt
động hỗ trợ tư pháp.
3. Người chỉ huy lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ
tư pháp ở Bộ Công an là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục
Cảnh sát được Tổng cục trưởng phân công; người chỉ
huy lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp ở
Công an cấp tỉnh là Phó Giám đốc Công an cấp tỉnh
phụ trách Cảnh sát; người chỉ huy lực lượng Cảnh sát
bảo vệ và hỗ trợ tư pháp ở Công an cấp huyện là Phó
trưởng Công an cấp huyện phụ trách Cảnh sát. Lực
lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp làm nhiệm vụ
bảo vệ các trại tạm giam thuộc Công an nhân dân đặt
dưới sự quản lý, chỉ huy trực tiếp của giám thị trại
tạm giam.
Người chỉ huy lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư
pháp các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện các
yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân,
Toà án nhân dân (sau đây viết gọn là các cơ quan
tiến hành tố tụng) cùng cấp hoặc cấp trên trong việc
bảo vệ các phiên toà, dẫn giải người làm chứng, bắt
giữ, áp giải bị can, bị cáo, người đã có quyết định
thi hành án; hỗ trợ thi hành bản án, quyết định hình
sự, dân sự và bản án, quyết định khác do pháp luật
quy định theo yêu cầu của cơ quan thi hành án có
thẩm quyền; tổ chức lực lượng để thi hành án tử hình
theo yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử hình.
4. Thẩm quyền trong hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực
lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp được phân
công như sau:
a) Lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp ở Bộ
Công an có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của các cơ
quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương và cơ quan thi
hành án có thẩm quyền trong việc bảo vệ phiên toà,
bắt giữ, áp giải bị can, bị cáo, người đã có quyết
định thi hành án, dẫn giải người làm chứng, hỗ trợ
thi hành bản án, quyết định hình sự, dân sự và bản
án, quyết định khác do pháp luật quy định; chỉ đạo,
hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị Cảnh sát bảo vệ
và hỗ trợ tư pháp cấp dưới; hướng dẫn nghiệp vụ bảo
vệ cho lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp
làm nhiệm vụ bảo vệ các nhà tạm giữ, trại tạm giam
thuộc Công an nhân dân.
b) Lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc
Công an cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện yêu cầu
của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh hoặc cấp
trên và cơ quan thi hành án có thẩm quyền trong việc
bảo vệ các phiên toà, bắt giữ, áp giải bị can, bị
cáo, người đã có quyết định thi hành án, dẫn giải
người làm chứng, hỗ trợ thi hành bản án, quyết định
hình sự, dân sự và bản án, quyết định khác do pháp
luật quy định; tổ chức thực hiện bảo vệ trại tạm
giam thuộc Công an cấp tỉnh; trực tiếp thi hành án
tử hình theo yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử
hình cấp tỉnh và chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho
các đơn vị Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp cấp
huyện.
c) Lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc
Công an cấp huyện có trách nhiệm thực hiện yêu cầu
của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện hoặc cấp
trên và cơ quan thi hành án có thẩm quyền trong việc
bảo vệ các phiên toà, bắt giữ, áp giải bị can, bị
cáo, người đã có quyết định thi hành án, dẫn giải
người làm chứng, hỗ trợ thi hành bản án, quyết định
hình sự, dân sự và bản án, quyết định khác do pháp
luật quy định; tổ chức thực hiện bảo vệ nhà tạm giữ
thuộc Công an cấp huyện; phối hợp với lực lượng Cảnh
sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp cấp tỉnh trong việc thi
hành án tử hình và tổ chức chôn cất thi thể người bị
thi hành án, nếu bản án tử hình được thi hành tại
địa phương.
5. Khi có yêu cầu hỗ trợ tư pháp của các cơ quan có
thẩm quyền, đơn vị Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp
có trách nhiệm tiếp nhận các văn bản theo quy định
tại các mục 6, 7, 8, và 9 Thông tư này và đề xuất kế
hoạch, phương án giải quyết, trình cán bộ có thẩm
quyền theo quy định tại mục 3 Thông tư này phê
duyệt.
6. Khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử và
công văn đề nghị của Toà án có yêu cầu bảo vệ phiên
toà, lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp có
trách nhiệm:
a) Bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương
tiện bảo vệ phiên toà theo kế hoạch, phương án đã
được phê duyệt;
b) Phòng ngừa, ngăn chặn việc tiếp xúc trái phép với
bị cáo trong thời gian xét xử;
c) Giữ gìn trật tự nơi tổ chức phiên toà theo lệnh của
chủ toạ phiên toà; bảo vệ an toàn những người tiến
hành tố tụng, tham gia tố tụng và tham dự phiên toà;
ngăn chăn, bắt giữ và xử lý kịp thời người có hành
vi chiếm đoạt, huỷ hoại tài liệu, hồ sơ, vật chứng
đang sử dụng tại phiên toà phục vụ cho việc xét xử;
bắt giữ hoặc buộc người có hành vi gây mất trật tự
ra khỏi phòng xử án theo lệnh của chủ toạ phiên toà;
d) Phòng ngừa, ngăn chặn bị cáo thông cung, tự sát, bỏ
trốn hoặc có hành vi nguy hiểm;
đ) Phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tấn công, gây cản trở
phiên toà; giải tán, bắt giữ những người có hành vi
tấn công, gây cản trở phiên toà hoặc đánh tháo bị
cáo hoặc người bị bắt tại phiên toà theo lệnh của
chủ toạ phiên tòa;
e) Chủ trì phối hợp với cơ quan, đơn vị hữu quan tổ
chức di chuyển khẩn cấp bị cáo và những người khác
tham dự phiên toà đến nơi an toàn trong trường hợp
có nguy cơ đe doạ sự an toàn của phiên toà;
g) Tổ chức truy bắt ngay bị cáo hoặc người có lệnh bắt
giữ của chủ toạ phiên toà mà bỏ trốn và thông báo
ngay cho Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát cùng cấp;
h) Có kế hoạch, phương án phối hợp với lực lượng vũ
trang nhân dân và chính quyền địa phương để chủ động
triển khai lực lượng hỗ trợ trong trường hợp cần
thiết.
7. Trường hợp bắt giữ, áp giải bị can, bị cáo, người
đã có quyết định thi hành án hình sự thì cần phải có
lệnh bắt, lệnh trích xuất bị can, bị cáo và công văn
yêu cầu bắt giữ, áp giải của cơ quan yêu cầu bắt
giữ, áp giải.
Sau khi nhận được lệnh trích xuất của Toà án, lực
lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp phải thông
báo ngay cho trại tạm giam hoặc nhà tạm giữ nơi đang
giam, giữ bị can, bị cáo biết để có kế hoạch phối
hợp thực hiện.
Thủ tục bắt giữ người thực hiện theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự.
Trường hợp dẫn giải người làm chứng thì cần phải có
giấy triệu tập người làm chứng, quyết định dẫn giải
người làm chứng và công văn yêu cầu dẫn giải người
làm chứng của cơ quan yêu cầu dẫn giải.
Lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thực hiện
yêu cầu bắt giữ, áp giải bị can, bị cáo, người đã có
quyết định thi hành án hình sự, dẫn giải người làm
chứng có trách nhiệm:
a) Bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương
tiện và tiến hành bắt giữ, dẫn giải, áp giải bị can,
bị cáo, người đã có quyết định thi hành án hình sự,
dẫn giải người làm chứng theo kế hoạch, phương án đã
được phê duyệt;
b) Phòng ngừa, ngăn chặn việc bỏ trốn, thông cung, tự
sát, tiếp xúc trái phép hoặc hành vi chống đối của
người bị bắt giữ, bị dẫn giải, áp giải;
c) Phòng ngừa, ngăn chặn, giải tán hoặc bắt giữ những
người có hành vi tấn công, đánh tháo người bị bắt
giữ, bị dẫn giải, áp giải;
d) Tổ chức truy bắt ngay bị can, bị cáo bỏ trốn khi bị
bắt giữ, bị dẫn giải, áp giải hoặc người bị kết án
phạt tù, tử hình bỏ trốn;
đ) Chủ trì phối hợp với lực lượng khác trong ngành
Công an, chính quyền địa phương tổ chức bắt giữ, áp
giải bị can, bị cáo, người đã có quyết định thi hành
án hình sự.
8. Khi nhận được quyết định thi hành bản án, quyết
định hình sự, dân sự và bản án, quyết định khác do
pháp luật quy định và công văn của cơ quan thi hành
án yêu cầu hỗ trợ thi hành án, lực lượng Cảnh sát
bảo vệ và hỗ trợ tư pháp có trách nhiệm:
a) Bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương
tiện bảo đảm trật tự an toàn cho việc thi hành án
theo kế hoạch, phương án đã được phê duyệt;
b) Giải tán, bắt giữ người có hành vi cản trở, chống
đối, tấn công người có trách nhiệm thi hành án;
c) Bảo vệ an toàn tài sản thu giữ, ngăn ngừa người
phải chấp hành án hoặc người nào khác thực hiện hành
vi tẩu tán, huỷ hoại, chiếm đoạt tài sản cần thu
giữ.
9. Khi nhận được công văn yêu cầu thi hành án của Hội
đồng thi hành án tử hình kèm theo quyết định thi
hành án tử hình của Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm,
lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp có trách
nhiệm:
a) Bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương
tiện để thực hiện nhiệm vụ thi hành án tử hình theo
kế hoạch, phương án đã được phê duyệt và thông báo
cho cơ quan Công an địa phương nơi có pháp trường để
phối hợp bảo vệ trật tự, an toàn việc thi hành án;
b) Tổ chức áp giải người bị kết án tử hình từ trại
giam đến pháp trường;
c) Phòng ngừa, ngăn chặn người bị kết án tử hình bỏ
trốn, tự sát, hoặc có hành động gây nguy hiểm cho
người thi hành nhiệm vụ và những người khác trong
quá trình bị áp giải, chấp hành án. Chủ trì phối hợp
với cơ quan, đơn vị hữu quan bảo vệ trật tự, an toàn
pháp trường; phòng ngừa, ngăn chặn, giải tán hoặc
bắt giữ những người có hành vi tấn công, gây cản trở
việc thi hành án hoặc đánh tháo người bị kết án tử
hình;
d) Chủ trì phối hợp với cơ quan, đơn vị hữu quan tổ
chức di chuyển khẩn cấp người bị kết án tử hình đến
nơi an toàn trong trường hợp có nguy cơ đe doạ sự an
toàn của việc thi hành án. Yêu cầu lực lượng vũ
trang nhân dân và chính quyền địa phương hỗ trợ bảo
vệ pháp trường trong trường hợp cần thiết;
đ) Chấp hành quyết định hoãn thi hành án của Hội đồng
thi hành án tử hình và tổ chức dẫn giải người bị kết
án tử hình về nơi giam giữ;
e) Trực tiếp thi hành án tử hình và tổ chức chôn cất
thi thể người bị thi hành án tử hình.
10. Lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ nhà tạm giữ, trại tạm giam có
trách nhiệm:
a) Bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương
tiện bảo vệ nhà tạm giữ, trại tạm giam theo kế
hoạch, phương án đã được phê duyệt;
b) Phòng ngừa, ngăn chặn việc tiếp xúc trái phép với
người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trong khu vực
bảo vệ;
c) Ngăn chặn, truy bắt ngay người bị tạm giữ, tạm giam,
phạm nhân bỏ trốn hoặc có hành động nguy hiểm;
d) Phòng ngừa, ngăn chặn, bắt giữ những người tấn công
hoặc có hành vi nguy hiểm đối với nhà tạm giữ, trại
tạm giam;
đ) Bảo vệ, hỗ trợ việc di chuyển khẩn cấp người bị tạm
giữ, tạm giam, phạm nhân đến nơi an toàn trong
trường hợp có nguy cơ đe doạ sự an toàn của họ;
e) Có kế hoạch, phương án phối hợp với lực lượng vũ
trang nhân dân và chính quyền địa phương để chủ động
triển khai lực lượng hỗ trợ trong trường hợp cần
thiết.
11. Trong khi thi hành nhiệm vụ, lực lượng Cảnh sát
bảo vệ và hỗ trợ tư pháp được sử dụng vũ khí, công
cụ hỗ trợ, phương tiện đặc chủng và các phương tiện
cần thiết khác theo quy định của pháp luật.
Kinh phí để trang bị và phục vụ cho các hoạt động hỗ
trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ
tư pháp do ngân sách Nhà nước bảo đảm, được bố trí
trong dự toán ngân sách của Bộ Công an và các nguồn
kinh phí khác theo quy định của pháp luật.
12. Giao cho Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm chủ trì
phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương có liên
quan kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này.
Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các đơn vị
trực thuộc Bộ trưởng, Giám đốc Công an các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm
triển khai thi hành Thông tư này.
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ
ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện nếu có
vướng mắc hoặc vấn đề mới nảy sinh, Công an các đơn
vị, địa phương cần báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh
sát) để có hướng dẫn kịp thời.