THÔNG TƯ
CỦA BỘ TƯ PHÁP SỐ 07/2002/TT-BTP NGÀY 16
THÁNG 12 NĂM 2002
VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA
NGHỊ ĐỊNH
SỐ 68/2002/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 7 NĂM 2002
CỦA CHÍNH PHỦ
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA
LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Căn cứ Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10
tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân
và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài.
Căn cứ Nghị định số 38/CP ngày 04 tháng 6
năm 1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp;
Sau khi trao đổi thống nhất ý kiến với Bộ
Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động Thương
binh và xã hội, Uỷ ban Dân số, gia đình và
trẻ em;
Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều
của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng
7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật hôn nhân và
gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài như sau:
I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1- Phạm vi, đối tượng áp dụng
1.1- Theo quy định tại Điều 1 và Điều 79 của
Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7
năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật hôn nhân và gia
đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài (sau đây gọi là Nghị định),
việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con và việc nuôi
con nuôi giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú
tại Việt Nam với nhau và giữa công dân Việt
Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định
cư ở nước ngoài phải tuân theo Nghị định và
Thông tư này.
Nghị định và Thông tư này cũng được áp dụng
đối với việc kết hôn giữa người nước ngoài
với nhau mà một bên hoặc cả hai bên không
thường trú tại Việt Nam, nếu họ có yêu cầu,
và việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài
với nhau mà bên được nhận làm con nuôi là
trẻ em không quốc tịch thường trú tại Việt
Nam.
1.2- Theo quy định tại Điều 2, Điều 3 và
Điều 4 của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998,
“Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài” là
người có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn,
sinh sống lâu dài ở nước ngoài, không kể
người đó đã nhập quốc tịch nước ngoài hay
chưa.
Công dân Việt Nam đang tạm trú có thời hạn ở
nước ngoài (nhằm mục đích công tác, học tập,
lao động...) hoặc đã hết thời hạn tạm trú ở
nước ngoài mà không được nước ngoài cho phép
cư trú thì không thuộc diện “định cư” ở nước
ngoài (sau đây gọi là công dân Việt Nam tạm
trú ở nước ngoài). Việc kết hôn, nhận cha,
mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam tạm trú ở nước ngoài với nhau hoặc với
công dân Việt Nam thường trú ở trong nước
được thực hiện theo quy định của pháp luật
về đăng ký hộ tịch, không thuộc đối tượng
điều chỉnh của Nghị định và Thông tư này.
2. Hợp pháp hoá lãnh sự, miễn hợp pháp hoá
lãnh sự, công chứng, miễn công chứng đối với
giấy tờ của nước ngoài:
Theo quy định tại Điều 4, Điều 6 và Điều 67
của Nghị định, việc hợp pháp hoá lãnh sự,
miễn hợp pháp hoá lãnh sự, công chứng, miễn
công chứng đối với giấy tờ của nước ngoài để
sử dụng cho việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con,
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực
hiện như sau:
2.1 Về nguyên tắc, giấy tờ do cơ quan, tổ
chức nước ngoài cấp, công chứng, chứng thực
ở nước ngoài để sử dụng cho việc kết hôn,
nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam, phải được hợp pháp hoá lãnh sự.
Hợp pháp hoá lãnh sự là việc chứng thực chữ
ký, con giấu trên các giấy tờ của nước ngoài
để sử dụng tại Việt Nam. Việc chứng thực này
do Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), Sở Ngoại vụ
thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan đại diện
Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự hoặc cơ quan
khác của Việt Nam được uỷ nhiệm thực hiện
chức năng Lãnh sự ở nước ngoài tiến hành.
Thủ tục hợp pháp hoá lãnh sự được thực hiện
theo Thông tư số 01/1999/TT-BNG ngày 03
tháng 6 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
quy định thể lệ hợp pháp hoá giấy tờ, tài
liệu.
Việc miễn hợp pháp hoá lãnh sự chỉ được
thực hiện đối với:
- Giấy tờ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
của các nước đã ký kết với Việt Nam điều ước
quốc tế, trong đó có quy định về việc miễn
hợp pháp hoá lãnh sự đối với giấy tờ, tài
liệu của nhau (Danh mục các nước đã ký kết
điều ước quốc tế với Việt Nam được đính kèm
Thông tư này và được Bộ Tư pháp cập nhật khi
có sự thay đổi);
- Giấy tờ do cơ quan đại diện Ngoại giao, cơ
quan Lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam cấp
cho công dân nước đó để sử dụng tại Việt
Nam, trên nguyên tắc có đi có lại (Danh mục
các nước này được đính kèm Thông tư này và
được Bộ Tư pháp cập nhật khi có sự thay đổi
theo thông báo của Bộ Ngoại giao);
- Giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà
dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc Cămpuchia
(sau đây gọi là các nước láng giềng) cấp cho
công dân của họ thường trú ở khu vực biên
giới với Việt Nam để sử dụng cho việc kết
hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi với
công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên
giới với nước đó.
2.2- Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài, trước
khi nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
của Việt Nam, phải được dịch ra tiếng Việt,
bản dịch phải được công chứng theo quy định
của pháp luật Việt Nam, trừ giấy tờ do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền của các nước
láng giềng cấp cho công dân của họ thường
trú ở khu vực biên giới với Việt Nam để sử
dụng cho việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con,
nuôi con nuôi với công dân Việt Nam thường
trú ở khu vực biên giới với nước đó thì chỉ
cần dịch ra tiếng Việt và có cam kết bằng
văn bản của người dịch về việc dịch đúng nội
dung của thứ tiếng đó, không cần công chứng
bản dịch.
Riêng bản dịch ra tiếng Việt các giấy tờ
trong hồ sơ xin nhận trẻ em Việt Nam làm con
nuôi của người nước ngoài thường trú tại
nước mà nước đó đã ký kết hoặc gia nhập điều
ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với
Việt Nam phải được công chứng tại cơ quan
đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của
Việt Nam ở nước đó.
3- Thời hạn có giá trị của giấy tờ
Thời hạn có giá trị 6 tháng của giấy tờ quy
định tại điểm a và b khoản 1 Điều 13 điểm d
và c khoản 1 Điều 41 và điểm b khoản 1 Điều
69 của Nghị định được tính kể từ ngày cấp
các giấy tờ đó đến ngày nộp hồ sơ tại Sở tư
pháp (đối với việc kết hôn hoặc tại cơ quan
con nuôi quốc tế của Việt Nam thuộc Bộ Tư
pháp (sau đây gọi là cơ quan con nuôi quốc
tế) (đối với việc xin nhận con nuôi).
4- Trách nhiệm của Sở tư pháp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Nghị
định, Sở tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh trong việc thực hiện quản lý nhà nước
về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài, thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ (trừ
hồ sơ xin nhận con nuôi do cơ quan con nuôi
quốc tế tiếp nhận), thu lệ phí, nghiên cứu,
thẩm tra hồ sơ, đề xuất ý kiến trình Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh giải quyết đối với từng
trường hợp cụ thể và các nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể khác theo quy định của Nghị định.
Đối với các việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con,
nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, Sở tư
pháp kiểm tra, xem xét và cho ý kiến về từng
trường hợp cụ thể để Uỷ ban nhân dân cấp xã
ở khu vực biên giới quyết định.
5- Cấp bản sao các giấy tờ hộ tịch.
Sau khi ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn,
nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi mà đương sự
yêu cầu cấp bản sao Giấy chứng nhận kết hôn,
Quyết định cho nhận cha, mẹ, con, Quyết định
cho nhận con nuôi, Sở tư pháp căn cứ vào sổ
gốc để cấp bản sao cho đương sự; bản sao do
giám đốc Sở tư pháp hoặc người được Giám đốc
uỷ quyền ký và đóng dấu của Sở tư pháp.
6- Trách nhiệm báo cáo, thống kê
Sở tư pháp có trách nhiệm thực hiện nghiêm
chỉnh việc gửi báo cáo, số liệu thống kê
định kỳ 6 tháng và hàng năm cho Bộ Tư pháp
và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình
giải quyết việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con,
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (theo mẫu
do Bộ Tư pháp quy định).
Số liệu thống kê kèm theo báo cáo 6 tháng
được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày
30 tháng 6; số liệu thống kê kèm theo báo
cáo hàng năm được tính từ ngày 01 tháng 01
đến hết ngày 31 tháng 12 của năm đó. Báo cáo
6 tháng phải được gửi trước ngày 31 tháng 7
và báo cáo hàng năm phải được gửi trước ngày
31 tháng 1 của năm sau.
7- Thanh tra, kiểm tra
Bộ Tư pháp chủ động hoặc phối hợp với các
Bộ, ngành hữu quan tiến hành thanh tra, kiểm
tra tình hình thi hành Nghị định theo chức
năng chuyên ngành, nhằm kịp thời phát hiện,
uốn nắn và xử lý theo thẩm quyền những vi
phạm trong việc đăng ký kết hôn, nhận cha,
mẹ, con, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
II- HƯỚNG DẪN MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ TRÌNH TỰ,
THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN, NHẬN CHA, MẸ, CON,
NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1- Đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1- Về một số giấy tờ trong hồ sơ đăng ký
kết hôn.
1.1.1- Mỗi bên phải làm Tờ khai đăng ký kết
hôn có dán ảnh (theo mẫu quy định) có xác
nhận của cơ quan có thẩm quyền sau đây về
việc hiện tại đương sự là người không có vợ
hoặc không có chồng:
- Đối với công dân Việt Nam thường trú ở
trong nước, thì do cơ quan có thẩm quyền xác
nhận theo quy định của pháp luật về đăng ký
hộ tịch.
- Đối với công dân Việt Nam định cư ở nước
ngoài, thì do cơ quan có thẩm quyền của nước
nơi người đó định cư hoặc do cơ quan đại
diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của
Việt Nam tại nước đó xác nhận.
- Đối với người nước ngoài thường trú ở nước
ngoài, thì do cơ quan có thẩm quyền của nước
nơi người đó có quốc tịch và thường trú xác
nhận. Nếu pháp luật nước ngoài không quy
định việc xác nhận vào tờ khai dăng ký kết
hôn hoặc không cấp giấy tờ xác nhận về tình
trạng hôn nhân, thì thay thế bằng văn bản
tuyên thệ của người đó về việc hiện tại
không có vợ hoặc không có chồng; hình thức
của việc tuyên thệ phải phù hợp với pháp
luật của nước đó.
- Đối với người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam, thì do Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi
người đó thường trú xác nhận.
1.1.2- Giấy tờ xác nhận hiện tại đương sự
không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh tâm
thần nhưng chưa đến mức không có khả năng
nhận thức được hành vi của mình do tổ chức y
tế chuyên khoa về tâm thần của Việt Nam từ
cấp tỉnh trở lên hoặc do tổ chức y tế chuyên
khoa về tâm thần của nước ngoài, nơi người
đó thường trú xác nhận.
1.1.3- Trong trường hợp công dân Việt Nam đã
có bản án, quyết định ly hôn (với nhau hoặc
với người nước ngoài) do Toà án hoặc cơ quan
có thẩm quyền khác của nước ngoài xét xử,
quyết định thì phải làm thủ tục ghi chú vào
sổ tại Sở tư pháp và nộp giấy xác nhận của
Sở tư pháp về việc đã ghi chú bản án, quyết
định ly hôn đó (nếu ghi chú tại nơi khác);
nếu ly hôn tại Toà án Việt Nam thì nộp bản
sao bản án hoặc trích lục án ly hôn đã có
hiệu lực pháp luật. Người nước ngoài kết hôn
và ly hôn với nhau ở nước ngoài thì không
cần ghi chú việc ly hôn, chỉ cần nộp bản sao
bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực
pháp luật; nếu kết hôn với nhau tại Việt Nam
hoặc kết hôn với công dân Việt Nam tại Việt
Nam và ly hôn ở nước ngoài, thì phải làm thủ
tục ghi chú.
Thủ tục ghi chú bản án, quyết định ly hôn
nói tại điểm này được thực hiện theo quy
định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
1.1.4- Trong trường hợp đương sự có vợ hoặc
chồng đã chết, thì phải nộp bản sao giấy
chứng tử.
1.2- Về thủ tục nộp hồ sơ kết hôn:
Theo quy định tại Điều 14 của Nghị định, về
nguyên tắc, khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn,
cả hai bên nam nữ đều phải có mặt. Trong
trường hợp một bên do ốm đau, bệnh tật, bận
công tác hoặc có lý do chính đáng khác mà
không thể có mặt để trực tiếp nộp hồ sơ, thì
phải có giấy uỷ quyền cho người kia nộp thay
hồ sơ, trong đó nêu rõ lý do vắng mặt; giấy
uỷ quyền phải được chứng thực hợp lệ.
1.3- Về trình tự giải quyết hồ sơ kết hôn:
Theo quy định tại Điều 16 của Nghị định, Sở
tư pháp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh trong việc tiếp nhận, nghiên cứu,
thẩm tra hồ sơ, đề xuất việc đăng ký hoặc từ
chối đăng ký kết hôn và chịu trách nhiệm về
hồ sơ kết hôn.
Về trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn,
cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
1.3.1. Về thủ tục niêm yết việc kết hôn:
Việc niêm yết kết hôn được tiến hành trong
07 ngày liên tục tại trụ sở của Sở tư pháp
và Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú
hoặc tạm trú của công dân Việt Nam hoặc nơi
thường trú của người nước ngoài. Văn bản
niêm yết việc kết hôn phải gồm các thông tin
về hai bên nam nữ như họ và tên, giới tính,
ngày tháng năm sinh, nơi trường trú, tạm trú,
tình trạng hôn nhân (không có vợ/ chồng, có
vợ/chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã
chết), dự kiến thời gian đăng ký kết hôn (nếu
không có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn trái
pháp luật).
Trong trường hợp có khiếu nại, tố cáo việc
kết hôn, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách
nhiệm báo cáo ngay bằng văn bản cho Sở tư
pháp. Nếu không có khiếu nại, tố cáo việc
kết hôn, Uỷ ban nhân dân cấp xã không phải
báo cáo Sở tư pháp về kết quả niêm yết.
1.3.2- Trong quá trình thẩm tra hồ sơ đăng
ký kết hôn, nếu có khiếu nại, tố cáo việc
kết hôn trái pháp luật, việc kết hôn là giả
tạo (kết hôn không nhằm mục đích xây dựng
gia đình, chỉ kết hôn nhằm mục đích xuất
cảnh ra nước ngoài), Sở tư pháp tiến hành
xác minh hoặc yêu cầu đương sự đến trụ sở
của Sở để phỏng vấn, làm rõ.
Trong trường hợp nghi ngờ hồ sơ kết hôn có
giấy tờ giả mạo hoặc có vấn đề cần xác minh
thuộc chức năng của cơ quan Công an, Sở tư
pháp có công văn gửi cơ quan Công an cùng
cấp yêu cầu xác minh, kèm theo 01 bộ hồ sơ
kết hôn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 16
của Nghị định, Cơ quan Công an tiến hành xác
minh và trả lời cho Sở tư pháp trong thời
hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được công văn
yêu cầu của Sở tư pháp. Nếu hết thời hạn này
mà cơ quan Công an chưa có công văn trả lời,
Sở tư pháp vẫn đề xuất ý kiến trình Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định,
trong đó nêu rõ vấn đề đã yêu cầu Cơ quan
Công an xác minh.
1.3.3- Trong trường hợp Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh từ chối đăng ký kết hôn thì Uỷ ban có
văn bản thông báo cho đương sự, trong đó nêu
rõ lý do từ chối. Đương sự không được hoàn
trả lệ phí đăng ký kết hôn.
1.4- Về tổ chức lễ đăng ký kết hôn.
Lễ đăng ký kết hôn được tiến hành theo quy
định tại Điều 17 của Nghị định. Khi tổ chức
lễ đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ đều phải
có mặt, xuất trình chứng minh nhân dân, hộ
chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế (như giấy
thông hành hoặc giấy tờ tuỳ thân có dán ảnh)
và tự thể hiện ý chí tự nguyện kết hôn, ký
tên vào sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng
nhận kết hôn.
Trong trường hợp vì ốm đau, bệnh tật, bận
công tác hoặc có lý do chính đáng khác mà
không thể có mặt vào thời điểm đã định,
đương sự phải có đơn đề nghị Sở tư pháp cho
hoãn việc đăng ký kết hôn; đơn không cần
chứng thực. Thời hạn tạm hoãn việc kết hôn
không được quá 90 ngày, kể từ ngày Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận
kết hôn. Nếu quá thời hạn này mà vẫn không
tổ chức đăng ký kết hôn được do vắng mặt
đương sự, Sở tư pháp báo cáo bằng văn bản
cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về việc này.
Nếu sau đó đương sự mới yêu cầu tổ chức đăng
ký kết hôn, thì phải làm lại các giấy tờ
theo thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.
2- Nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài
2.1- Về điều kiện xin nhận cha, mẹ, con:
Theo quy định tại Điều 28 của Nghị định, Sở
tư pháp chỉ tiếp nhận đơn xin nhận cha, mẹ,
con, nếu bên nhận và bên được nhận đều còn
sống vào thời điểm nộp đơn yêu cầu, tự
nguyện đồng ý và không có tranh chấp; nếu
trong quá trình giải quyết hồ sơ mà một
trong hai bên chết, không có tranh chấp, thì
việc nhận cha, mẹ, con vẫn tiếp tục được
giải quyết; nếu cả hai bên chết thì Sở tư
pháp đình chỉ việc giải quyết nhận cha, mẹ,
con.
Trong quá trình giải quyết hồ sơ mà phát
sinh tranh chấp giữa bên nhận và bên được
nhận là cha, mẹ, con hoặc với người thứ ba,
thì Sở tư pháp đình chỉ và hướng dẫn đương
sự nộp đơn yêu cầu Toà án nhân dân cấp tỉnh
giải quyết theo thủ tục tố tụng.
2.2- Về trình tự, thủ tục giải quyết việc
xin nhận cha, mẹ, con:
Theo quy định tại Điều 30 và Điều 32 của
Nghị định, cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
2.2.1- Trong trường hợp người xin nhận cha,
mẹ, con có các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ
để chứng minh về quan hệ cha, mẹ, con (như
thư từ, phim, ảnh, băng, đĩa hình, kết quả
giám định về mặt y học...) thì nộp cùng đơn
xin nhận cha, mẹ, con; nếu không có các giấy
tờ, tài liệu, chứng cứ đó, thì Sở tư pháp
vẫn xem xét giải quyết (nếu hồ sơ đầy đủ và
hợp lệ).
Trong trường hợp người con chưa đăng ký khai
sinh, thì có thể cho phép kết hợp giải quyết
việc xin nhận cha, mẹ, con trước và đăng ký
khai sinh sau.
2.2.2- Về thủ tục niêm yết việc nhận cha,
mẹ, con: Việc niêm yết được tiến hành trong
thời hạn 15 ngày liên tục tại trụ sở của Sở
tư pháp và trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã,
nơi thường trú của người được nhận là cha,
mẹ, con.
Văn bản niêm yết phải gồm các thông tin về
người nhận và người được nhận là cha, mẹ,
con như họ và tên, giới tính, ngày tháng năm
sinh, nơi thường trú, số chứng minh nhân dân
hoặc hộ chiếu, dự kiến thời gian đăng ký
việc nhận cha, mẹ, con (nếu không có khiếu
nại, tố cáo việc nhận cha, mẹ, con).
Trong thời hạn niêm yết, nếu có khiếu nại,
tố cáo việc nhận cha, mẹ, con, thì Uỷ ban
nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo ngay
bằng văn bản cho Sở tư pháp; nếu không có
khiếu nại, tố cáo việc nhận cha, mẹ, con, Uỷ
ban nhân dân cấp xã không phải báo cáo Sở tư
pháp về kết quả niêm yết.
2.2.3- Quyết định công nhận việc nhận cha,
mẹ, con có giá trị kể từ ngày trao cho các
bên đương sự và ghi vào sổ đăng ký.
2.2.4- Trong trường hợp từ chối hoặc đình
chỉ việc giải quyết nhận cha, mẹ, con, đương
sự không được hoàn trả lệ phí.
3- Đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài
3.1- Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của
Nghị định, thì về nguyên tắc, chỉ giải quyết
cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam
làm con nuôi (sau đây gọi là người xin nhận
con nuôi), nếu người đó thường trú tại nước
mà nước đó đã ký kết hoặc cùng gia nhập điều
ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với
Việt Nam (Danh mục các nước được đính kèm
Thông tư này và được Bộ Tư pháp cập nhật khi
có sự thay đổi). Đối với trường hợp ngoại lệ
chỉ xem xét giải quyết cho người nước ngoài
thường trú tại nước mà nước đó chưa ký kết
hoặc chưa cùng gia nhập điều ước quốc tế về
hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam xin nhận
trẻ em Việt Nam làm con nuôi, nếu xin đích
danh trẻ em sau đây đang sống tại gia đình:
- Bị mồ côi cả cha và mẹ hoặc mồ côi mẹ (hoặc
cha) còn người kia không rõ là ai;
- Bị tàn tật;
- Có quan hệ họ hàng, thân thích với người
xin nhận con nuôi.
Quan hệ họ hàng là quan hệ giữa cô, cậu, dì,
chú, bác với nhau (theo bên nội hoặc bên
ngoại); quan hệ thân thích là quan hệ giữa
bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con
riêng của chồng.
Người xin nhận trẻ em mồ côi, tàn tật làm
con nuôi nói tại điểm này mà không có quan
hệ họ hàng, thân thích, thì phải có thời
gian sinh sống, làm việc, học tập, lao động
tại Việt Nam ít nhất từ 6 tháng trở lên.
3.2- Về thủ tục nộp hồ sơ xin nhận con nuôi:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 41 của Nghị
định, hồ sơ xin nhận con nuôi phải được nộp
tại cơ quan con nuôi quốc tế thông qua đường
ngoại giao hoặc thông qua tổ chức con nuôi
của nước ngoài hữu quan được phép hoạt động
tại Việt Nam (sau đây gọi là Văn phòng con
nuôi nước ngoài).
Đối với hồ sơ xin nhận con nuôi của người
thường trú tại nước mà nước đó chưa ký két
hoặc gia nhập điều ước quốc tế về hợp tác
nuôi con nuôi với Việt Nam thì phải do người
xin nhận con nuôi trực tiếp nộp tại cơ quan
con nuôi quốc tế.
3.3- Về trình tự giới thiệu trẻ em làm con
nuôi:
3.3.1- Việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi
theo quy định tại Điều 51 của Nghị định chỉ
được thực hiện đối với trường hợp người xin
nhận con nuôi thường trú tại nước mà nước đó
đã ký kết hoặc cùng gia nhập điều ước quốc
tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam.
Đối với các trường hợp này cũng chỉ được
giới thiệu trẻ em đang sống tại các cơ sở
nuôi dướng làm con nuôi; không giới thiệu
trẻ em đang sống tại gia đình.
3.3.2- Sau khi nhận được hồ sơ, căn cứ vào
nguyện vọng của người xin nhận con nuôi
(muốn nhận trẻ em tại tỉnh, thành phố nào),
Cơ quan con nuôi quốc tế gửi công văn kèm
theo bản chụp đơn và nội dung hồ sơ trích
ngang của người xin nhận con nuôi cho Sở tư
pháp để Sở tư pháp hướng dẫn cơ sở nuôi
dưỡng giới thiệu trẻ em có đủ điều kiện theo
quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện
vọng của người xin nhận con nuôi, để cho làm
con nuôi.
Trong trường hợp người xin nhận con nuôi
không thể hiện rõ ý muốn xin nhận trẻ em tại
tỉnh, thành phố nào, thì Cơ quan con nuôi
quốc tế có công văn gửi cho Sở tư pháp, nơi
có cơ sở nuôi dưỡng có khả năng giới thiệu
trẻ em, thực hiện việc giới thiệu đó.
3.3.3- Theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của
Nghị định, cơ sở nuôi dưỡng chỉ được giới
thiệu trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng
của mình làm con nuôi.
Trong trường hợp không có trẻ em có đủ điều
kiện và phù hợp với nguyện vọng của người
xin nhận con nuôi, thì trong thời hạn 07
ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở tư
pháp, người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng phải
trả lời bằng văn bản cho Sở tư pháp, để Sở
tư pháp báo cáo cho cơ quan con nuôi quốc
tế.
Trong trường hợp xác định được trẻ em có đủ
điều kiện và phù hợp với nguyện vọng của
người xin nhận con nuôi, người đứng đầu cơ
sở nuôi dưỡng có trách nhiệm trả lời bằng
văn bản cho Sở tư pháp để Sở tư pháp báo cáo
cho Cơ quan con nuôi quốc tế. Văn bản trả
lời của cơ sở nuôi dưỡng bao gồm các thông
tin về trẻ em được giới thiệu làm con nuôi
như họ và tên; giới tính; ngày tháng năm
sinh; dân tộc, quốc tịch; nơi cư trú; nơi
sinh (nếu là trẻ sơ sinh); quê quán (nếu
biết rõ); họ và tên cha, mẹ (nếu biết rõ);
tình trạng sức khoẻ (chiều cao, cân nặng...);
khả năng được cho làm con nuôi; các nhu cầu,
sở thích đặc biệt của trẻ em (nếu có); các
thông tin khác về trẻ em (như mồ côi, bị bỏ
rơi, tàn tật...). Kèm theo văn bản 02 tấm
ảnh (9x12 hoặc 10 x 15) của trẻ em.
3.3.4- Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 của
Nghị định, trong trường hợp xác định được
trẻ em có đủ điều kiện và phù hợp với nguyện
vọng của người xin nhận con nuôi, Cơ quan
con nuôi quốc tế thông báo bằng văn bản cho
người xin nhận con nuôi (thông qua Cơ quan
con nuôi quốc tế của nước đó hoặc Văn phòng
con nuôi nước ngoài). Trong văn bản ấn định
rõ thời gian mà người xin nhận con nuôi phải
trả lời về việc đồng ý hay không đồng ý về
trẻ em được giới thiệu làm con nuôi.
3.3.5- Theo quy định tại khoản 4 Điều 51 của
Nghị định, trong trường hợp người xin nhận
con nuôi đồng ý nhận trẻ em được giới thiệu
làm con nuôi, Cơ quan con nuôi quốc tế có
công văn gửi Sở tư pháp để Sở tư pháp hướng
dẫn cơ sở nuôi dưỡng làm hồ sơ của trẻ em.
Người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng có trách
nhiệm làm hồ sơ của trẻ em gồm các giấy tờ
theo quy định tại Điều 44 của Nghị định.
Trong trường hợp Người xin nhận con nuôi từ
chối nhận trẻ em đã được giới thiệu, Cơ quan
con nuôi quốc tế có công văn gửi Sở tư pháp
để Sở tư pháp thông báo lại cho cơ sở nuôi
dướng biết để giới thiệu cho người khác. Nếu
người xin nhận con nuôi muốn xin trẻ em khác
làm con nuôi, thì hồ sơ của người này chỉ
được xem xết giải quyết sau 12 tháng, kể từ
ngày người đó từ chối nhận trẻ em đã được
giới thiệu.
3.4- Về trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ
xin nhận con nuôi:
3.4.1- Theo quy định tại các điều từ Điều 45
đến Điều 49 của Nghị định, Sở tư pháp có
trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
trong việc thẩm tra và chịu trách nhiệm về
toàn bộ hồ sơ của trẻ em được cho làm con
nuôi, bảo đảm đúng tiến độ, giải quyết hồ sơ
theo quy định.
Nếu xét thấy hồ sơ của trẻ em có đủ các giấy
tờ cần thiết theo quy định tại Điều 44 của
Nghị định, mọi giấy tờ đều hợp lệ, nguồn gốc
của trẻ em rõ ràng, trẻ em có đủ điều kiện
để cho làm con nuôi, thì Sở tư pháp gửi công
văn báo cáo Cơ quan con nuôi quốc tế, kèm
theo 01 bộ hồ sơ của trẻ em.
Trong trường hợp xét thấy trẻ em có nguồn
gốc không rõ ràng hoặc có nghi ngờ trong hồ
sơ có giấy tờ giả mạo hoặc nghi ngờ có dấu
hiệu mua bán, đánh tráo, bắt cóc trẻ em làm
con nuôi, Sở tư pháp có công văn gửi cơ quan
Công an cùng cấp yêu cầu xác minh, kèm 01 bộ
hồ sơ của trẻ em. Theo quy định tại khoản 2
Điều 45 của Nghị định, cơ quan Công an có
trách nhiệm xác minh và trả lời cho Sở tư
pháp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận
được công văn yêu cầu của Sở tư pháp. Nếu
hết thời hạn này mà cơ quan Công an chưa có
công văn trả lời, Sở tư pháp vẫn gửi văn bản
báo cáo, kèm theo 01 bộ hồ sơ, cho Cơ quan
con nuôi quốc tế xem xét. Trong báo cáo cần
nêu rõ vấn đề đã yêu cầu cơ quan công an xác
minh.
3.4.2- Theo quy định tại Điều 46 của Nghị
định, Cơ quan con nuôi quốc tế có trách
nhiệm kiểm tra toàn bộ các giấy tờ trong hồ
sơ của trẻ em. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc
chưa hợp lệ, thì Cơ quan con nuôi quốc tế
gửi công văn cho Sở tư pháp để thông báo cho
người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha mẹ
đẻ hay người giám hộ của trẻ em bổ sung,
hoàn thiện; trong công văn cần ấn định rõ
thời hạn phải bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.
Trong trường hợp hồ sơ của trẻ em đã hợp lệ
và đầy đủ các giấy tờ theo quy định tại Điều
44 của Nghị định, cơ quan con nuôi quốc tế
gửi công văn, kèm theo 01 bộ hồ sơ của người
xin nhận con nuôi cho Sở tư pháp (không gửi
trả lại hồ sơ của trẻ em). Trong công văn
của Cơ quan con nuôi quốc tế phải nêu rõ ý
kiến của mình về việc giải quyết cho trẻ em
làm con nuôi.
3.4.3- Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của
Nghị định, trong thời hạn 07 ngày, kể từ
ngày nhận được công văn trả lời của Cơ quan
con nuôi quốc tế kèm theo 01 bộ hồ sơ của
người xin nhận con nuôi, Sở tư pháp có trách
nhiệm gửi thông báo cho người xin nhận con
nuôi (có thể thông qua Văn phòng con nuôi
nước ngoài) để họ đến Việt Nam hoàn tất thủ
tục xin nhận con nuôi; trong công văn cần ấn
định rõ thời hạn mà người xin nhận con nuôi
phải có mặt tại Việt Nam.
3.4.4- Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều 7 của Nghị định, Sở tư pháp thu lệ phí
đăng ký việc con nuôi do người xin nhận con
nuôi nộp hoặc tổ chức được uỷ quyền nộp thay,
đồng thời hướng dẫn người xin nhận con nuôi
làm Bản cam kết (theo mẫu quy định) thành
04 bản chính. Sau khi người xin nhận con
nuôi hoàn tất các thủ tục, Sở tư pháp làm
báo cáo kết quả thẩm tra và đề xuất ý kiến
giải quyết việc người nước ngoài xin nhận
trẻ em làm con nuôi, trình Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh xem xét quyết định, kèm theo 01 bộ
hồ sơ của trẻ em và 01 bộ hồ sơ của người
xin nhận con nuôi.
3.4.5- Theo quy định tại Điều 48 và Điều 49
của Nghị định, việc giao nhận con nuôi chỉ
được tiến hành sau khi có Quyết định của Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép nhận
trẻ em Việt Nam làm con nuôi, người xin nhận
con nuôi đang có mặt tại Việt Nam để trực
tiếp nhận con nuôi và phải có mặt những
người theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của
Nghị định. Không chấp nhận việc uỷ quyền
giao con nuôi, nhận con nuôi. Nếu vì lý do
khách quan (ốm đau, bệnh tật, bận công
tác...) mà người xin nhận con nuôi không thể
có mặt để nhận con nuôi, thì việc giao nhận
phải hoãn lại. Trong trường hợp hai vợ chồng
cùng xin nhận con nuôi mà một trong hai
người vì lý do khách quan không thể có mặt,
thì phải có giấy uỷ quyền cho người kia;
giấy uỷ quyền phải được cơ quan có thẩm
quyền của nước đó xác nhận. Trong trường hợp
bên giao con nuôi là cha mẹ đẻ của trẻ em,
nhưng vì lý do khách quan mà một trong hai
người không thể có mặt, thì cũng phải có
giấy uỷ quyền cho người kia; giấy uỷ quyền
phải được Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người
đó cư trú, xác nhận.
Đại diện của Văn phòng con nuôi nước ngoài
có thể tham dự lễ giao nhận con nuôi với tư
cách người chứng kiến; tuyệt đối không cho
phép đại diện Văn phòng con nuôi nước ngoài
được nhận trẻ em với tư cách bên nhận.
Biên bản giao nhận con nuôi phải có đầy đủ
chữ ký của bên nhận, bên giao, đại diện Sở
tư pháp và đóng dấu của Sở tư pháp.
3.4.6- Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày
giao nhận con nuôi, Sở tư pháp có trách
nhiệm gửi cho cơ quan con nuôi quốc tế toàn
bộ các giấy tờ cần thiết theo quy định tại
khoản 6 Điều 49 của Nghị định.
4- Đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên
giới.
Trong khi giải quyết việc đăng ký kết hôn,
nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài ở khu vực biên giới, cần lưu ý
một số điểm sau đây:
4.1- Về phạm vi, đối tượng áp dụng:
Các quy định tại Chương V của Nghị định chỉ
áp dụng đối với việc đăng ký kết hôn, nhận
cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân
Việt Nam thường trú tại các xã, phường, thị
trấn ở khu vực biên giới Việt Nam với công
dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực
biên giới với Việt Nam (Danh sách các xã,
phường, thị trấn thuộc khu vực biên giới
được ban hành kèm theo Thông tư số 179/2002/TT-BQP
ngày 22 tháng 1 năm 2001 của Bộ Quốc phòng,
được đính kèm Thông tư này).
Việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con
nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu
vực biên giới Việt Nam với công dân của nước
láng giềng không thường trú ở khu vực biên
giới với Việt Nam hoặc giữa công dân Việt
Nam không thường trú ở khu vực biên giới với
Việt Nam với công dân của nước láng giếng
thường trú ở khu vực biên giới Việt Nam,
không thuộc phạm vi, đối tượng điều chỉnh
của Chương V Nghị định.
4.2- Về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn,
nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi
4.2.1- Tờ khai đăng ký kết hôn, Đơn xin nhận
cha, mẹ, con, Đơn xin nhận con nuôi được áp
dụng chung theo mẫu dành cho công dân Việt
Nam ở trong nước theo quy định của pháp luật
về đăng ký hộ tịch.
4.2.2- Thủ tục, nội dung niêm yết việc kết
hôn, nhận cha, mẹ, con được thực hiện như
việc niêm yết đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ,
con, giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong
nước theo quy định của pháp luật về đăng ký
hộ tịch.
Riêng nội dung niêm yết việc nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới
phải bao gồm các thông tin về người xin nhận
con nuôi và trẻ em như họ và tên, giới tính,
ngày tháng năm sinh (tuổi), dân tộc, quốc
tịch, nơi thường trú, nghề nghiệp, thời gian
dự định đăng ký việc nhận con nuôi.
4.2.3- Giấy chứng nhận kết hôn, Quyết định
công nhận việc nhận cha, mẹ, con, Quyết định
cho nhận con nuôi được áp dụng chung theo
mẫu dành cho công dân Việt Nam ở trong nước,
theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ
tịch.
III- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
1- Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 02 tháng 01 năm 2003.
2- Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
gia nhập có quy định khác với quy định tại
Thông tư này, thì áp dụng quy định của điều
ước quốc tế đó.
3- Căn cứ vào Nghị định, Thông tư này và
tình hình cụ thể tại địa phương, Sở tư pháp
dự thảo Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh để trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh ban hành Quy chế phối hợp giữa Sở Tư
pháp với Công an tỉnh, Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội và các Sở, ban, ngành địa
phương nhằm thực hiện tốt các quy định của
Nghị định và Thông tư này.
4- Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng
mắc hoặc phát sinh những việc mới, Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp gửi công văn
về Bộ Tư pháp để kịp thời hướng dẫn.
***************************
DANH MỤC CÁC NƯỚC THỰC HIỆN VIỆC MIỄN HỢP
PHÁP HOÁ LÃNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC GIẤY TỜ, TÀI
LIỆU VỚI VIỆT NAM
(Kèm theo Thông tư số 07/2002/TT-BTP
ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Bộ Tư pháp)
Nước ký kết Hiệp định hợp tác về nuôi con
nuôi với Việt Nam
Cộng hoà Pháp (ký ngày 01/2/2000).
Các nước ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp
với Việt Nam:
1- Liên Xô (cũ), hiện nay Liên bang Nga đang
kế thừa (ký ngày 10/12/1981)
2- Tiệp Khắc (cũ), hiện nay Cộng hoà Séc và
Cộng hoà Xlovakia là hai nước kế thừa (ký
ngày 12/10/1982).
3- Cộng hoà Cu Ba (ký ngày 30/11/1984).
4- Hungary (ký ngày 18/1/1985).
5- Bungari (ký ngày 03/10/1986).
6- Ba Lan (ký ngày 22/3/1993).
7- Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (ký ngày
06/7/1998).
8- Liên bang Nga (ký ngày 25/8/1998).
9- Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (ký ngày
19/10/1998).
10- Cộng hoà Pháp (ký ngày 24/2/1999).
11- Ukaraina (ký ngày 06/4/2000).
12- Mông Cổ (ký ngày 17/4/2000).
13- Belarút (ký ngày 14/9/2000).
14- Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên
(04/5/2002).
Các nước ký kết Hiệp định lãnh sự với Việt
Nam
(theo thông báo tại Công văn số 2630/LS-VP
ngày 15 tháng 11 năm 2002 của Bộ Ngoại giao).
1- Cộng hoà Ba Lan
2- Cộng hoà Bungary
3- Cộng hoà Cu Ba
4- Cộng hoà Hungary
5- Cộng hoà Irắc
6- Mông Cổ
7- Liên bang Nga
8- Rumani
9- Cộng hoà Séc
10- Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
11- Ucraina
12- Cộng hoà Xlôvakia
Các nước áp dụng nguyên tắc có đi có lại với
Việt Nam
(theo thông báo tại Công văn số 2630/LS-VP
ngày 15 tháng 11 năm 2002 của Bộ Ngoại
giao).
1- Cộng hoà A-rập Ai-cập
2- Vương Quốc Bỉ
3- Ca-na-đa
4- Vương Quốc Campuchia
5- Cộng hoà Liên bang Đức
6- Cộng hoà hồi giáo I-Ran
7- Cộng hoà Nam Phi
8- Nhật Bản
9- Cộng hoà Pháp
10- Vương quốc Thuỵ Điển
11- Liên bang Thuỵ Sĩ.
DANH MỤC CÁC NƯỚC ĐÃ KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH HỢP
TÁC
VỀ NUÔI CON NUÔI VỚI VIỆT NAM
(Kèm theo Thông tư số 07/2002/TT-BTP
ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Bộ Tư pháp)
1- Cộng hoà Pháp, ký ngày 01-02-2000
PHỤ LỤC 1
DANH SÁCH CÁC XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN THUỘC
KHU VỰC BIÊN GIỚI ĐÃ ĐẾN NƯỚC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(Kèm theo Thông tư số 179/2001/BQP ngày 22
tháng 01 năm 2001)
|
Tỉnh biên giới |
Huyện biên giới |
Xã biên giới |
Ghi chú |
|
1- Tuyến biên giới
Việt Nam - Trung Quốc |
|
|
|
|
1. Quảng Ninh |
1. Thị xã Móng Cái
2- Quảng Hà
3- Bình Liêu |
1- Hải Sơn
2- Hải Yên
3- Hải Hoà
4- Phường Ninh Dương
5- Phường Ka Long
6- Phường Trần Phú
7- Phường Trà Cổ
8- Quảng Sơn
9- Quảng Đức
10- Đồng Văn
11- Hoành Mô
12- Lục Hồn
13- Đồng Tâm
14- Tinh Húc
15- Vô Ngại |
|
|
2- Lạng Sơn |
1- Đình Lập
2- Lộc Bình
3- Cao Lộc
4- Văn Lang
5- Tràng Định |
1- Bắc Xa
2- Bính Xá
3- Tam Gia
4- Tú Mịch
5- Yên Khoái
6- Mẫu Sơn
7- Mẫu Sơn
8- Xuất Lễ
9- Cao Lâu
10- Lộc Thanh
11- Bảo Lâm
12- Thị trấn Đồng Đăng
13- Tân Mỹ
14- Tân Thanh
15- Thanh Long
16- Thuỵ Hùng
17- Trùng Khánh
18- Đào Viên
19- Tân Minh
20- Đội Cấn
21- Quốc Khánh |
|
|
3- Cao Bằng |
1- Thạch An
2- Quảng Hoà
3- Hạ Lang
4- Trùng Khánh
5- Trà Lĩnh
6- Hà Quảng
7- Thông Nông
8- Bảo Lạc
9- Bảo Lâm |
1- Đức Long
2- Mỹ Mung
3- Thị Trấn Tà Lùng
4- Đại Sơn
5- Cách Linh
6- Cô Ngân
7- Thị Hoa
8- Thái Đức
9- Việt Chu
10- Quang Long
11- Đồng Loan
12- Lý Quốc
13- Minh Long
14- Đàm Thuỵ
15- Chi Viễn
16- Đình Phong
17- Ngọc Khê
18- Phong Nậm
19- Ngọc Chung
20- Lăng Yên
21- Tri Phương
22- Xuân Nội
23- Hùng Quốc
24- Quang Hán
25- Cô Mười
|