LUẬT
THƯƠNG MẠI
LỜI NÓI ĐẦU
Luật thương mại là cơ sở pháp lý
để phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, trong đó kinh tế Nhà nước
giữ vai trò chủ đạo và cùng với
kinh tế hợp tác xã là nền tảng của
nền kinh tế quốc dân; phát triển
thị trường hàng hoá và dịch vụ
thương mại trên các vùng của đất
nước; mở rộng giao lưu thương mại
với nước ngoài; góp phần đẩy mạnh
sản xuất, cải thiện đời sống
nhân dân, bảo vệ lợi ích chính
đáng của người sản xuất, người
tiêu dùng và lợi ích hợp pháp của
thương nhân, góp phần tích luỹ
nhằm thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế
tăng trưởng nhanh và bền vững
theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh.
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992;
Luật này quy định hoạt động
thương mại tại nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
MỤC 1
PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG
ÁP DỤNG
CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI
Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh của Luật
thương mại
Luật thương mại điều chỉnh các
hành vi thương mại, xác định địa
vị pháp lý của thương nhân và
quy định những nguyên tắc, chuẩn
mực trong hoạt động thương mại tại
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Điều 2.
Đối tượng áp dụng của Luật
thương mại
1- Đối tượng áp dụng của Luật
thương mại là thương nhân hoạt động
thương mại tại Việt Nam.
2- Đối với những người buôn bán
rong, quà vặt có vốn kinh doanh,
doanh thu, thu nhập thấp, Chính
phủ ban hành Quy chế riêng theo
những nguyên tắc cơ bản của Luật
này.
Điều 3.
Áp dụng Luật thương mại và các
luật liên quan
Các hoạt động thương mại phải
tuân theo các quy định của Luật
này và các quy định pháp luật
khác có liên quan.
Điều 4.
Áp dụng điều ước quốc tế, pháp
luật nước ngoài và tập quán
thương mại quốc tế trong hoạt
động thương mại với nước ngoài
1- Trong trường hợp điều ước
quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
tham gia có quy định khác với
quy định của Luật này thì các
bên trong hợp đồng áp dụng quy
định của điều ước quốc tế đó.
2- Các bên trong hợp đồng được
thoả thuận áp dụng pháp luật
nước ngoài nếu pháp luật nước
ngoài không trái với pháp luật
Việt Nam hoặc trong trường hợp
điều ước quốc tế mà nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký
kết hoặc tham gia có quy định áp
dụng pháp luật nước ngoài.
3- Các bên trong hợp đồng được
thoả thuận áp dụng tập quán
thương mại quốc tế nếu tập quán
thương mại quốc tế đó không trái
với pháp luật Việt Nam.
Điều 5.
Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1- Hành vi thương mại là hành
vi của thương nhân trong hoạt động
thương mại làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ giữa các thương nhân
với nhau hoặc giữa thương nhân
với các bên có liên quan;
2- Hoạt động thương mại là việc
thực hiện một hay nhiều hành vi
thương mại của thương nhân, bao
gồm việc mua bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ thương mại và các
hoạt động xúc tiến thương mại
nhằm mục đích lợi nhuận hoặc
nhằm thực hiện các chính sách
kinh tế - xã hội;
3- Hàng hoá gồm máy móc, thiết
bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật
liệu, hàng tiêu dùng, các động
sản khác được lưu thông trên thị
trường, nhà ở dùng để kinh doanh
dưới hình thức cho thuê, mua,
bán;
4-
Dịch vụ thương mại gồm những dịch
vụ gắn với việc mua bán hàng hoá;
5- Xúc tiến thương mại là hoạt động
nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội
mua bán hàng hoá và cung ứng dịch
vụ thương mại;
6- Thương nhân gồm cá nhân, pháp
nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có
đăng ký kinh doanh hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường
xuyên;
7- Sản nghiệp thương mại là toàn
bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng hợp pháp của
thương nhân, phục vụ cho hoạt động
thương mại như trụ sở, cửa hàng,
kho tàng, trang thiết bị, hàng
hoá, tên thương mại, biển hiệu,
nhãn hiệu hàng hoá, mạng lưới
tiêu thụ hàng hoá và cung ứng
dịch vụ.
MỤC 2
NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT
ĐỘNG
THƯƠNG MẠI VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG
MẠI
Điều 6.
Quyền hoạt động thương mại
Cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác,
hộ gia đình có đủ điều kiện theo
quy định của pháp luật được hoạt
động thương mại trong các lĩnh vực,
tại các địa bàn mà pháp luật
không cấm.
Để đảm bảo lợi ích quốc gia, Nhà
nước độc quyền kinh doanh thương
mại trong một số lĩnh vực, tại một
số địa bàn, đối với một số mặt
hàng, dịch vụ theo danh mục do
Chính phủ công bố.
Nhà nước bảo hộ quyền hoạt động
thương mại hợp pháp và tạo điều
kiện thuận lợi cho thương nhân
trong hoạt động thương mại.
Điều 7.
Quyền bình đẳng trước pháp luật
và hợp tác trong hoạt động
thương mại
Nhà nước bảo đảm quyền bình đẳng
trước pháp luật của các thương
nhân thuộc các thành phần kinh tế
trong hoạt động thương mại.
Thương nhân được hợp tác trong
hoạt động thương mại theo các
hình thức do pháp luật quy định.
Điều 8.
Cạnh tranh trong thương mại
1-
Thương nhân được cạnh tranh hợp
pháp trong hoạt động thương mại.
2- Nghiêm cấm các hành vi cạnh
tranh gây tổn hại đến lợi ích quốc
gia và các hành vi sau đây:
a) Đầu cơ để lũng đoạn thị trường;
b) Bán phá giá để cạnh tranh;
c) Dèm pha thương nhân khác;
d) Ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc,
đe dọa nhân viên hoặc khách hàng
của thương nhân khác;
đ) Xâm phạm quyền về nhãn hiệu
hàng hoá, các quyền khác về sở hữu
công nghiệp của thương nhân khác;
e) Các hành vi cạnh tranh bất hợp
pháp khác.
Điều 9.
Bảo vệ lợi ích chính đáng của
người sản xuất, người tiêu dùng
1- Thương nhân có nghĩa vụ thông
tin đầy đủ, trung thực về hàng
hoá và dịch vụ mà mình cung ứng.
2- Thương nhân phải bảo đảm tính
hợp pháp của hàng hoá bán ra.
3- Cấm thương nhân:
a) Nâng giá, ép giá gây thiệt
hại cho người sản xuất, người
tiêu dùng;
b) Lừa dối khách hàng, gây nhầm
lẫn cho khách hàng;
c) Bán hàng giả;
d) Bán hàng kém chất lượng, sai
quy cách lẫn với hàng đã đăng
ký;
đ) Quảng cáo dối trá;
e) Khuyến mại bất hợp pháp.
4- Người tiêu dùng được thành lập
tổ chức để bảo vệ lợi ích chính
đáng của mình theo quy định của
pháp luật.
5- Trong trường hợp lợi ích của
mình bị xâm phạm, người tiêu
dùng có quyền khiếu nại thương
nhân đến cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền hoặc khởi kiện thương nhân
tại Toà án theo quy định của
pháp luật.
Điều 10.
Chính sách đối với doanh nghiệp
Nhà nước
Nhà nước đầu tư về tài chính, cơ
sở vật chất - kỹ thuật, nhân lực
để phát triển các doanh nghiệp
Nhà nước kinh doanh những mặt
hàng thiết yếu nhằm bảo đảm cho
doanh nghiệp Nhà nước giữ vai
trò chủ đạo trong hoạt động
thương mại, là một trong những
công cụ của Nhà nước để điều tiết
cung cầu, ổn định giá cả nhằm
góp phần thực hiện những mục
tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhà nước có chính sách phát
triển các doanh nghiệp công ích,
các doanh nghiệp hoạt động trong
những lĩnh vực không thu lợi
nhuận hoặc lợi nhuận thấp mà các
thành phần kinh tế khác không
kinh doanh.
Điều 11.
Chính sách đối với hợp tác xã và
các hình thức kinh tế hợp tác
khác trong thương mại
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu,
quyền và lợi ích hợp pháp khác của
hợp tác xã và các hình thức kinh
tế hợp tác khác trong thương mại;
có chính sách ưu đãi, hỗ trợ và
tạo điều kiện cho hợp tác xã và
các hình thức kinh tế hợp tác
khác đổi mới và phát triển; bảo
đảm để kinh tế Nhà nước cùng với
kinh tế hợp tác xã trở thành nền
tảng của nền kinh tế quốc dân.
Điều 12.
Chính sách đối với thương nhân
thuộc các thành phần kinh tế cá
thể, tư bản tư nhân
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu,
quyền và lợi ích hợp pháp khác của
thương nhân thuộc các thành phần
kinh tế cá thể, tư bản tư nhân
trong thương mại; khuyến khích,
tạo điều kiện thuận lợi cho
thương nhân thuộc các thành phần
này hợp tác, liên doanh, liên kết
với doanh nghiệp Nhà nước dưới
hình thức đại lý hoặc hình thành
các doanh nghiệp tư bản Nhà nước,
các hình thức sở hữu hỗn hợp
khác nhằm phát huy tiềm năng
của các thành phần kinh tế, tạo
nội lực cho các doanh nghiệp
thương mại Việt Nam phát triển,
mở rộng thương mại hàng hoá và dịch
vụ thương mại.
Điều 13.
Chính sách thương mại đối với
nông thôn
Nhà nước có chính sách phát
triển thương mại đối với thị
trường nông thôn, tạo điều kiện
mở rộng và phát triển chợ nông
thôn. Doanh nghiệp Nhà nước đóng
vai trò chủ lực cùng với hợp tác
xã và các thành phần kinh tế
khác thực hiện việc bán vật tư
nông nghiệp, hàng công nghiệp,
mua nông sản nhằm góp phần nâng
cao sức mua của nông dân và tạo
tiền đề thúc đẩy việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển
sản xuất hàng hoá, thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông thôn.
Điều 14.
Chính sách thương mại đối với
miền núi, hải đảo, vùng sâu,
vùng xa
Nhà nước có chính sách phát triển
thương mại ở miền núi, hải đảo,
vùng sâu, vùng xa; có chính sách
tiêu thụ sản phẩm của địa phương;
có chính sách và biện pháp ưu
đãi về thuế, tín dụng đối với
các thương nhân kinh doanh một số
mặt hàng thiết yếu; trợ giá, trợ
cước cho những doanh nghiệp được
giao nhiệm vụ cung ứng các mặt
hàng phục vụ việc thực hiện
chính sách xã hội và có chính
sách đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất, kết cấu hạ tầng để mở rộng
giao lưu kinh tế ở các vùng này.
Điều 15.
Chính sách lưu thông hàng hoá và
dịch vụ thương mại
Nhà nước khuyến khích, tạo điều
kiện mở rộng lưu thông hàng hoá,
phát triển dịch vụ thương mại mà
pháp luật không hạn chế hoặc
không cấm.
Trong trường hợp cần thiết Nhà
nước có thể sử dụng các biện
pháp kinh tế, hành chính để tác
động vào thị trường nhằm bảo đảm
cân đối cung cầu hoặc thực hiện
các chính sách kinh tế - xã hội.
Cấm lưu thông hàng hoá, cung ứng
dịch vụ gây phương hại đến quốc
phòng, an ninh, trật tự an toàn
xã hội, truyền thống lịch sử,
văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ
tục Việt Nam, môi trường sinh
thái, sản xuất và sức khoẻ của
nhân dân.
Cấm mọi hành vi cản trở lưu
thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ
hợp pháp trên thị trường.
Chính phủ công bố danh mục hàng
hoá cấm lưu thông, dịch vụ
thương mại cấm thực hiện,
danh mục hàng hoá, dịch vụ hạn
chế kinh doanh, kinh doanh có
điều kiện.
Điều 16.
Chính sách ngoại thương
Nhà nước thống nhất quản lý ngoại
thương, có chính sách mở rộng
giao lưu hàng hoá với nước ngoài
trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ
quyền, bình đẳng, cùng có lợi
theo hướng đa phương hoá, đa dạng
hoá; khuyến khích các thành phần
kinh tế sản xuất hàng xuất khẩu
và tham gia xuất khẩu theo quy định
của pháp luật; có chính sách ưu
đãi để đẩy mạnh xuất khẩu, tạo
các mặt hàng xuất khẩu có sức cạnh
tranh, tăng xuất khẩu dịch vụ
thương mại; hạn chế nhập khẩu những
mặt hàng trong nước đã sản xuất
được và có khả năng đáp ứng nhu
cầu, bảo hộ hợp lý sản xuất
trong nước; ưu tiên nhập khẩu vật
tư, thiết bị, công nghệ cao, kỹ
thuật hiện đại để phát triển sản
xuất, phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chính phủ quy định các chính
sách cụ thể về ngoại thương
trong từng thời kỳ và chính sách
đối với người Việt Nam định cư ở
nước ngoài tham gia phát triển
ngoại thương.
MỤC 3
THƯƠNG NHÂN
Điều 17.
Điều kiện để trở thành thương
nhân
Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,
pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia
đình có đủ điều kiện để kinh
doanh thương mại theo quy định của
pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động
thương mại thì được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh và trở
thành thương nhân.
Điều 18.
Những trường hợp không được công
nhận là thương nhân
Những người sau đây không được
công nhận là thương nhân:
1- Người không có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ, người mất năng
lực hành vi dân sự, người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự;
2- Người đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, người đang phải
chấp hành hình phạt tù;
3- Người đang trong thời gian bị
Toà án tước quyền hành nghề vì
phạm các tội buôn lậu, đầu cơ,
buôn bán hàng cấm, làm hàng giả,
buôn bán hàng giả, kinh doanh
trái phép, trốn thuế, lừa dối
khách hàng và các tội khác theo
quy định của pháp luật.
Điều 19.
Đăng ký kinh doanh
Việc đăng ký kinh doanh được
thực hiện tại cơ quan quản lý
Nhà nước có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật.
Điều 20.
Nội dung đăng ký kinh doanh
Nội dung đăng ký kinh doanh gồm:
1- Tên thương nhân, tên người
đại diện có thẩm quyền;
2- Tên thương mại, biển hiệu;
3- Địa chỉ giao dịch chính thức;
4- Ngành nghề kinh doanh;
5- Vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư
ban đầu;
6- Thời hạn hoạt động;
7- Chi nhánh, cửa hàng, Văn
phòng đại diện nếu có.
Trong quá trình hoạt động, nếu
có thay đổi về nội dung đã đăng
ký, thương nhân phải đăng ký những
thay đổi này.
Điều 21.
Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh
1- Cơ quan đăng ký kinh doanh có
trách nhiệm giải quyết việc đăng
ký kinh doanh trong thời hạn
mười lăm ngày, kể từ ngày nhận
được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ.
2- Trong trường hợp không cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, cơ quan đăng ký kinh
doanh phải trả lời bằng văn bản
nêu rõ lý do cho đương sự trong
thời hạn quy định tại khoản 1
Điều này.
3- Trong trường hợp không được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, đương sự có quyền khiếu
nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền hoặc khởi kiện tại Toà án
theo quy định của pháp luật.
Điều 22.
Công bố nội dung đăng ký kinh
doanh
Thương nhân phải công bố nội
dung đăng ký kinh doanh trên báo
Trung ương, địa phương theo quy
định của pháp luật.
Điều 23.
Cung cấp thông tin về nội dung
đăng ký kinh doanh
Cá nhân, cơ quan, tổ chức được
yêu cầu cơ quan đăng ký kinh
doanh cung cấp thông tin về nội
dung đăng ký kinh doanh, cấp bản
sao giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh hoặc bản trích lục nội
dung giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh và phải trả lệ phí.
Điều 24.
Tên thương mại, biển hiệu
1- Thương nhân phải có tên
thương mại, biển hiệu.
Tên thương mại có thể kèm theo
biểu tượng.
2- Tên thương mại và biển hiệu
không được vi phạm truyền thống
lịch sử, văn hoá, đạo đức và
thuần phong mỹ tục Việt Nam.
3- Tên thương mại, biển hiệu
phải được viết bằng tiếng Việt
Nam; tên thương mại, biển hiệu
có thể được viết thêm bằng tiếng
nước ngoài với kích thước nhỏ
hơn.
4- Tên thương mại phải được ghi
trong các hoá đơn, chứng từ,
giấy tờ giao dịch của thương
nhân.
Điều 25.
Sổ kế toán và việc lưu giữ hoá
đơn, chứng từ, giấy tờ có liên
quan
1- Thương nhân phải mở sổ kế
toán, phải ghi chép, lưu giữ sổ
kế toán, hóa đơn, chứng từ, giấy
tờ có liên quan đến hoạt động
thương mại theo quy định của
pháp luật.
2- Việc huỷ sổ kế toán, hoá đơn,
chứng từ, giấy tờ có liên quan
đến hoạt động thương mại được
thực hiện theo thủ tục do pháp
luật quy định.
Điều 26.
Đăng ký thuế, kê khai thuế và
nộp thuế
Thương nhân phải đăng ký thuế,
kê khai thuế và nộp thuế.
Điều 27.
Văn phòng đại diện, Chi nhánh
của thương nhân
1- Thương nhân được đặt Chi
nhánh, Văn phòng đại diện ở
trong nước, ở nước ngoài theo
quy định của pháp luật.
2- Nội dung và phạm vi hoạt động
của Chi nhánh, Văn phòng đại diện
phải phù hợp với nội dung hoạt động
của thương nhân.
Điều 28.
Mở và sử dụng tài khoản
Thương nhân mở và sử dụng tài
khoản tại ngân hàng theo quy
định của pháp luật.
Điều 29.
Niêm yết giá
Thương nhân phải niêm yết giá
hàng hoá, dịch vụ tại địa điểm
mua bán hàng hoặc cung ứng dịch
vụ. Việc niêm yết giá phải rõ
ràng, không gây nhầm lẫn cho
khách hàng.
Điều 30.
Lập hoá đơn, chứng từ
Khi bán hàng, cung ứng dịch vụ,
thương nhân phải lập hoá đơn,
chứng từ hợp pháp và giao cho
khách hàng một bản.
Điều 31.
Điều hành hoạt động thương mại
1- Thương nhân có thể trực tiếp
quản lý, điều hành hoặc thuê
người quản lý, điều hành hoạt
động thương mại.
Việc thuê người quản lý, điều
hành hoạt động thương mại phải
được lập thành văn bản hợp đồng.
2- Thương nhân phải chịu trách
nhiệm về những hoạt động thương
mại của người mình thuê theo nội
dung đã thoả thuận trong hợp
đồng.
3- Người được thuê quản lý, điều
hành phải chịu trách nhiệm với
thương nhân theo hợp đồng đã ký
với thương nhân.
Điều 32.
Thuê, cho thuê, chuyển nhượng sản
nghiệp thương mại
Thương nhân được thuê, cho thuê,
chuyển nhượng sản nghiệp thương
mại theo quy định của pháp luật.
Điều 33.
Hoạt động thương mại với nước
ngoài
Thương nhân chỉ được hoạt động
thương mại với nước ngoài nếu có
đủ các điều kiện do Chính phủ
quy định sau khi đã đăng ký với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Điều 34.
Tạm ngừng hoạt động thương mại
Trong trường hợp tạm ngừng hoạt
động thương mại, thương nhân
phải
niêm yết thời hạn tạm ngừng tại
địa chỉ giao dịch chính thức của
thương nhân;
nếu tạm ngừng hoạt động thương
mại trên ba mươi ngày thì ngoài
việc niêm yết, thương nhân phải
thông báo với cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh và
cơ quan thuế.
Điều 35.
Chấm dứt hoạt động thương mại
1- Hoạt động thương mại của
thương nhân chấm dứt trong những
trường hợp sau đây:
a) Thương nhân tự chấm dứt hoạt
động thương mại;
b) Hết thời hạn hoạt động theo
giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh;
c) Thương nhân bị tuyên bố phá
sản hoặc giải thể;
d) Theo quyết định của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền;
đ) Thương nhân là cá nhân chết
mà không có người thừa kế hoặc
người thừa kế không tiếp tục hoạt
động thương mại.
2- Quyền và nghĩa vụ của thương
nhân trong trường hợp chấm dứt
hoạt động thương mại được thực
hiện theo quy định của pháp
luật.
Điều 36.
Xoá đăng ký kinh doanh
1- Thương nhân phải làm thủ tục
xoá đăng ký kinh doanh tại cơ
quan đăng ký kinh doanh chậm nhất
là mười lăm ngày, kể từ ngày chấm
dứt hoạt động.
2- Trong trường hợp phá sản,
thương nhân phải làm thủ tục xoá
đăng ký kinh doanh chậm nhất là
mười lăm ngày, kể từ ngày quyết
định của Toà án tuyên bố phá sản
có hiệu lực pháp luật.
3- Trong trường hợp giải thể,
thương nhân phải làm thủ tục xóa
đăng ký kinh doanh chậm nhất là
mười lăm ngày, kể từ ngày có
quyết định giải thể.
4- Trong trường hợp thương nhân
là cá nhân chết mà không có
người thừa kế thì trong thời hạn
một tháng kể từ ngày thương nhân
chết, cơ quan đăng ký kinh doanh
xoá đăng ký kinh doanh.
5- Trong trường hợp thương nhân
chấm dứt hoạt động thương mại
theo quyết định của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thì thương
nhân phải làm thủ tục xoá đăng
ký kinh doanh trong thời hạn
mười lăm ngày, kể từ ngày nhận
được quyết định.
MỤC 4
THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Điều 37.
Hình thức hoạt động
Thương nhân nước ngoài có đủ điều
kiện theo quy định của pháp luật
Việt Nam được phép đặt Văn phòng
đại diện, Chi nhánh tại Việt Nam.
Điều 38.
Văn phòng đại điện
Văn phòng đại diện của thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam là
đơn vị phụ thuộc của thương nhân
nước ngoài, được thành lập theo
pháp luật Việt Nam để xúc tiến
thương mại.
Thương nhân nước ngoài chịu
trách nhiệm trước pháp luật Việt
Nam về hoạt động của Văn phòng
đại diện tại Việt Nam.
Điều 39.
Chi nhánh
Chi nhánh của thương nhân nước
ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ
thuộc của thương nhân nước
ngoài, được thành lập và hoạt
động thương mại tại Việt Nam
theo quyết định của Chính phủ
Việt Nam.
Thương nhân nước ngoài chịu
trách nhiệm trước pháp luật Việt
Nam về hoạt động cuả Chi nhánh
tại Việt Nam.
Điều 40.
Nội dung hoạt động
Nội dung hoạt động của Văn phòng
đại diện, Chi nhánh của thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam phải
phù hợp với pháp luật Việt Nam
và nội dung hoạt động của thương
nhân nước ngoài.
Điều 41.
Quyền của Văn phòng đại diện
Văn phòng đại diện của thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam có
những quyền sau đây:
1- Hoạt động đúng mục đích, phạm
vi và thời hạn được quy định
trong giấy phép;
2- Thuê trụ sở, nhà ở; thuê, mua
các phương tiện, vật dụng cần
thiết cho hoạt động của Văn
phòng đại diện;
3- Tuyển dụng lao động là người
Việt Nam, người nước ngoài để
làm việc tại Văn phòng đại diện
theo quy định của pháp luật Việt
Nam;
4- Mở tài khoản bằng ngoại tệ,
bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại
tệ tại ngân hàng được phép hoạt
động tại Việt Nam và chỉ được sử
dụng tài khoản này vào hoạt động
của Văn phòng đại diện;
5- Nhập khẩu các vật dụng cần
thiết cho hoạt động của Văn
phòng đại diện và phải nộp thuế
theo quy định của pháp luật Việt
Nam;
6- Có con dấu mang tên Văn phòng
đại diện theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
Điều 42.
Nghĩa vụ của Văn phòng đại diện
Văn phòng đại diện của thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam có
những nghĩa vụ sau đây:
1- Tuân thủ pháp luật Việt Nam;
2- Không được mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ thương mại;
3- Không được ký kết hợp đồng
thương mại, trừ trường hợp có
giấy uỷ quyền hợp pháp của
thương nhân nước ngoài;
4- Nộp thuế, phí, lệ phí theo
quy định của pháp luật Việt Nam;
5- Báo cáo hoạt động của Văn
phòng đại diện theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
Điều 43.
Quyền của Chi nhánh
Chi nhánh của thương nhân nước
ngoài tại Việt Nam có những
quyền sau đây:
1- Thực hiện các hoạt động
thương mại được quy định trong
giấy phép;
2- Thuê trụ sở, nhà ở; thuê, mua
các phương tiện, vật dụng cần
thiết cho hoạt động của Chi
nhánh;
3-Tuyển dụng lao động là người
Việt Nam, người nước ngoài để
làm việc tại Chi nhánh theo quy
định của pháp luật Việt Nam;
4- Giao dịch, ký kết hợp đồng
thương mại tại Việt Nam phù hợp
với nội dung hoạt động được quy
định trong giấy phép;
5- Mở tài khoản bằng đồng Việt
Nam, bằng ngoại tệ tại ngân hàng
được phép hoạt động tại Việt Nam;
6- Nhập khẩu các vật dụng cần
thiết cho hoạt động của Chi
nhánh và phải nộp thuế theo quy
định của pháp luật Việt Nam;
7- Chuyển lợi nhuận ra nước
ngoài theo quy định của pháp
luật Việt Nam;
8- Có con dấu mang tên Chi nhánh
theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
Điều 44.
Nghĩa vụ của Chi nhánh
Chi nhánh của thương nhân nước
ngoài tại Việt Nam có những
nghĩa vụ sau đây:
1- Tuân thủ pháp luật Việt Nam;
2- Đăng ký, kê khai và nộp thuế,
phí, lệ phí theo quy định của
pháp luật Việt Nam;
3- Thực hiện chế độ kế toán
theo quy định của pháp luật Việt
Nam; trong trường hợp cần áp
dụng chế độ kế toán thông dụng
khác thì phải được Bộ tài chính
Việt Nam chấp thuận;
4-
Báo cáo hoạt động của Chi nhánh
theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
CHƯƠNG II
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
MỤC 1
CÁC LOẠI HÀNH VI THƯƠNG MẠI
Điều 45.
Các loại hành vi thương mại
Hành vi thương mại theo quy định
của Luật này gồm:
1- Mua bán hàng hoá;
2- Đại diện cho thương nhân;
3- Môi giới thương mại;
4- Uỷ thác mua bán hàng hoá;
5- Đại lý mua bán hàng hoá;
6- Gia công trong thương mại;
7- Đấu giá hàng hoá;
8- Đấu thầu hàng hoá;
9- Dịch vụ giao nhận hàng hoá;
10- Dịch vụ giám định hàng hoá;
11- Khuyến mại;
12- Quảng cáo thương mại;
13- Trưng bày giới thiệu hàng
hoá;
14- Hội chợ, triển lãm thương mại.
MỤC 2
MUA BÁN HÀNG HOÁ
Điều 46.
Mua bán hàng hoá
Mua bán hàng hoá là hành vi
thương mại, theo đó người bán có
nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền
sở hữu hàng hoá cho người mua và
nhận tiền; người mua có nghĩa vụ
trả tiền cho người bán và nhận
hàng theo thoả thuận của hai bên.
Điều 47.
Chủ thể của quan hệ mua bán hàng
hoá
Chủ thể của quan hệ mua bán hàng
hoá là thương nhân hoặc một bên
là thương nhân.
Điều 48.
Đối tượng của mua bán hàng hoá
Đối tượng của mua bán hàng hoá
là hàng hoá theo quy định của Luật
này.
Điều 49.
Hợp đồng mua bán hàng hoá
1- Việc mua bán hàng hoá được thực
hiện trên cơ sở hợp đồng.
2- Hợp đồng mua bán hàng hoá được
thực hiện bằng lời nói, bằng văn
bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
3- Đối với các loại hợp đồng mua
bán hàng hoá mà pháp luật quy định
phải được lập thành văn bản thì
phải tuân theo các quy định đó;
điện báo, telex, fax, thư điện tử
và các hình thức thông tin điện
tử khác cũng được coi là hình thức
văn bản.
Điều 50.
Nội dung chủ yếu của hợp đồng
mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hoá phải
có các nội dung chủ yếu sau đây:
1- Tên hàng;
2- Số lượng;
3- Quy cách, chất lượng;
4- Giá cả;
5- Phương thức thanh toán;
6- Địa điểm và thời hạn giao nhận
hàng.
Ngoài các nội dung chủ yếu quy định
tại Điều này, các bên có thể thoả
thuận các nội dung khác trong hợp
đồng.
Điều 51.
Chào hàng và chấp nhận chào hàng
1- Chào hàng là một đề nghị giao
kết hợp đồng mua bán hàng hoá
trong một thời hạn nhất định, được
chuyển cho một hay nhiều người
đã xác định và phải có các nội
dung chủ yếu của hợp đồng mua
bán hàng hoá theo quy định tại
Điều 50 của Luật này.
Chào hàng gồm chào bán hàng và
chào mua hàng.
2- Chấp nhận chào hàng là thông
báo của bên được chào hàng chuyển
cho bên chào hàng về việc chấp
thuận toàn bộ các nội dung đã
nêu trong chào hàng.
Điều 52.
Sửa đổi, bổ sung chào hàng
1- Trong trường hợp bên được
chào hàng có sửa đổi, bổ sung
một trong những nội dung chủ yếu
của chào hàng thì hành vi đó
được coi là từ chối chào hàng và
hình thành một chào hàng mới.
2- Trong trường hợp bên được
chào hàng sửa đổi, bổ sung nội
dung chào hàng nhưng không làm
thay đổi một trong những nội
dung chủ yếu của chào hàng thì
hành vi đó được coi là chấp nhận
chào hàng, trừ trường hợp người
chào hàng từ chối ngay những sửa
đổi, bổ sung đó.
Điều 53.
Thời hạn trách nhiệm của bên
chào hàng và bên chấp nhận chào
hàng
1- Thời hạn trách nhiệm của bên
chào hàng bắt đầu từ thời điểm
chào hàng được chuyển đi cho bên
được chào hàng đến hết thời hạn
chấp nhận chào hàng.
Trong trường hợp không xác định
thời hạn chấp nhận chào hàng thì
thời hạn trách nhiệm của bên
chào hàng là ba mươi ngày, kể từ
ngày chào hàng được chuyển đi
cho bên được chào hàng.
2- Thời hạn trách nhiệm của bên
chấp nhận chào hàng bắt đầu từ
thời điểm chấp nhận chào hàng được
chuyển đi cho bên chào hàng.
Điều 54.
Chấp nhận chào hàng sau khi hết
thời hạn chấp nhận chào hàng
Trong trường hợp bên chào hàng
nhận được chấp nhận chào hàng
sau khi hết thời hạn chấp nhận
chào hàng thì chấp nhận đó không
có hiệu lực, trừ trường hợp bên
chào hàng thông báo ngay cho bên
được chào hàng về việc chấp nhận
của mình.
Điều 55.
Thời điểm ký kết hợp đồng mua
bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hoá được
coi là đã ký kết kể từ thời điểm
các bên có mặt ký vào hợp đồng.
Trong trường hợp các bên không
cùng có mặt để ký hợp đồng, hợp
đồng mua bán hàng hoá được coi
là đã ký kết kể từ thời điểm bên
chào hàng nhận được thông báo
chấp nhận toàn bộ các điều kiện
đã ghi trong chào hàng trong
thời hạn trách nhiệm của người
chào hàng.
Điều 56.
Hiệu lực của giao dịch và đàm
phán trước khi hợp đồng mua bán
hàng hoá được ký kết
Từ thời điểm hợp đồng mua bán
hàng hoá được ký kết, mọi thư từ
giao dịch và đàm phán trước đó về
hợp đồng đều hết hiệu lực, trừ
trường hợp các bên có thoả thuận
khác.
Điều 57.
Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng
mua bán hàng hoá
Các bên có thể thoả thuận sửa
đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng
mua bán hàng hoá theo trình tự
và thủ tục phù hợp với từng loại
hợp đồng.
Điều 58.
Thời điểm chuyển quyền sở hữu
hàng hoá
Quyền sở hữu hàng hoá được
chuyển từ người bán sang người
mua kể từ thời điểm người bán
giao hàng cho người mua, nếu hai
bên không có thoả thuận khác
hoặc pháp luật không có quy định
khác.
Điều 59.
Chuyển quyền sở hữu hàng hoá có
điều kiện
Trong trường hợp hợp đồng mua
bán hàng hoá có thoả thuận điều
kiện bắt buộc mà thiếu điều kiện
này người bán không thể giao
hàng cho người mua
hoặc người mua không thể nhận
hàng của người bán thì quyền sở
hữu hàng hoá chỉ được chuyển từ
người bán sang người mua khi
điều kiện đó đã được thực hiện.
Điều 60.
Nghĩa vụ giao hàng và chứng từ
liên quan
1- Người bán phải giao hàng đúng
số lượng, chất lượng, quy cách,
bao bì và đúng thời hạn theo
thoả thuận trong hợp đồng.
2- Trong trường hợp chất lượng
hàng hoá không được xác định cụ
thể trong hợp đồng thì người bán
phải giao hàng có chất lượng
trung bình của loại hàng hoá đó
được lưu thông trên thị trường tại
thời điểm giao hàng.
3- Trong trường hợp bao bì hàng
hoá không được quy định cụ thể
trong hợp đồng thì người bán
phải giao hàng với bao bì thường
dùng cho loại hàng này. Bao bì
phải bảo đảm an toàn hàng hoá
trong quá trình vận chuyển, có
tính đến khả năng chuyển tải
trong điều kiện bốc dỡ thông
thường và phải phù hợp với thời
gian, phương tiện vận tải.
4- Người bán có thể uỷ quyền cho
người thứ ba thực hiện nghĩa vụ
giao hàng nếu được người mua
chấp thuận. Trong trường hợp
này, người bán vẫn phải chịu
trách nhiệm đối với người mua
về việc giao hàng của người được
uỷ quyền.
5- Người bán chỉ có thể giao
hàng trước thời hạn, giao hàng từng
phần khi có sự thoả thuận trong
hợp đồng hoặc khi được người mua
chấp thuận.
6- Người bán có nghĩa vụ giao
các chứng từ liên quan đến hàng
hoá theo thoả thuận trong hợp đồng.
Điều 61.
Kiểm tra chất lượng hàng hoá
trước khi giao hàng
Trước khi giao hàng, người bán
phải kiểm tra chất lượng hàng
hoá, chịu chi phí kiểm tra và
cung cấp giấy chứng nhận chất
lượng theo các điều kiện đã thoả
thuận với người mua. Trong
trường hợp không có thoả thuận
cụ thể về việc kiểm tra thì
người bán phải kiểm tra chất
lượng hàng hoá theo các điều
kiện thường được áp dụng đối với
loại hàng hoá này.
Điều 62.
Người mua, đại diện của người
mua tham dự việc kiểm tra chất
lượng hàng hoá tại nơi giao hàng
1- Trong trường hợp hợp đồng
mua bán có thoả thuận để người
mua hoặc đại diện của người mua
tham dự việc kiểm tra chất lượng
hàng hoá trước khi giao hàng thì
người bán phải bảo đảm cho người
mua hoặc đại diện của người mua
có điều kiện tham dự việc kiểm
tra.
2- Trong trường hợp người bán có
thông báo cho người mua tham dự
việc kiểm tra chất lượng hàng
hoá theo thoả thuận trong hợp
đồng mà người mua hoặc đại diện
của người mua vắng mặt thì người
bán có quyền giao hàng theo hợp
đồng.
3- Trong trường hợp người mua
hoặc đại diện người mua tham dự
việc kiểm tra chất lượng hàng
hoá, người bán vẫn phải chịu
trách nhiệm về chất lượng hàng
hoá.
Điều 63.
Quyền nhận tiền bán hàng
Người bán nhận tiền bán hàng
theo thoả thuận trong hợp đồng
mua bán hàng hoá. Nếu người bán
chậm nhận được hoặc không nhận
được tiền bán hàng do lỗi của
người mua thì người bán có quyền
áp dụng các biện pháp quy định
tại Chương IV của Luật này để
bảo vệ lợi ích chính đáng của
mình.
Điều 64.
Giao hàng cho người vận chuyển
Người bán được coi là hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng sau khi đã
giao hàng cho người vận chuyển
theo các điều kiện giao hàng do
hai bên thoả thuận.
Điều 65.
Giao thừa hàng, giao thiếu hàng,
giao hàng lẫn chủng loại
1- Trong trường hợp người bán
giao thừa hàng so với thoả thuận
trong hợp đồng thì người mua có
quyền từ chối hoặc nhận số hàng
thừa. Nếu người mua từ chối thì
người bán phải nhận lại số hàng
thừa và chịu chi phí liên quan
đến việc giải quyết số hàng thừa
này. Nếu người mua nhận số hàng
thừa thì người mua phải trả thêm
tiền cho số hàng đó theo giá
thoả thuận giữa hai bên.
2- Trong trường hợp người bán
giao thiếu hàng so với thoả
thuận trong hợp đồng thì người
mua có quyền nhận và chỉ phải
trả số tiền tương ứng với số
lượng hàng đã nhận hoặc áp dụng
các biện pháp quy định tại
Chương IV của Luật này để bảo vệ
lợi ích chính đáng của mình.
3- Trong trường hợp người bán
giao hàng có lẫn loại hàng không
được thoả thuận trong hợp đồng
thì người mua có quyền từ chối
nhận số hàng lẫn này.
4- Người bán không chịu trách
nhiệm về việc giao thiếu hàng
hoặc giao hàng lẫn chủng loại,
người mua không chịu trách nhiệm
về việc nhận thừa hàng nếu sau
khi hàng hoá được giao nhận xong
mà các bên không khiếu nại theo
quy định tại các điều 75 và 241
của Luật này.
Điều 66.
Hàng có bảo hành
Trong trường hợp hàng hoá mua
bán có bảo hành thì người bán phải
chịu trách nhiệm về chất lượng
hàng hoá đó trong thời hạn bảo
hành và phải chịu các chi phí về
việc bảo hành nếu các bên không
có thoả thuận khác.
Điều 67.
Quyền ngừng giao hàng của người
bán
1- Người bán có quyền ngừng giao
hàng trong các trường hợp sau
đây:
a) Nếu người mua vi phạm điều
khoản thanh toán đã thoả thuận
trong hợp đồng thì người bán có
quyền ngừng giao hàng cho đến
khi người mua thực hiện xong
việc thanh toán;
b) Nếu trước thời điểm giao hàng
người mua bị tuyên bố phá sản
hoặc mất khả năng thanh toán thì
người bán có quyền không giao
hàng và được định đoạt số hàng
này.
2- Trong trường hợp người bán
phải giữ lại và định đoạt hàng
do lỗi của người mua quy định
tại khoản 1 Điều này thì người
mua phải chịu những thiệt hại và
chi phí hợp lý có liên quan.
Điều 68.
Trách nhiệm của người bán đối với
hàng không phù hợp với hợp đồng
Người bán phải chịu trách nhiệm
về việc hàng không phù hợp với
thoả thuận trong hợp đồng, trừ
trường hợp người bán chứng minh
được là mình không có lỗi.
Trường hợp hàng không phù hợp
với thoả thuận trong hợp đồng,
người bán phải chịu hoàn toàn
trách nhiệm về thiệt hại phát
sinh, dù người bán biết hoặc
không biết về thiệt hại đó.
Điều 69.
Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu
đối với hàng hoá đã bán
Người bán có nghĩa vụ bảo đảm
quyền sở hữu cho người mua đối
với hàng hoá đã bán để người mua
không bị người thứ ba tranh
chấp. Sau thời điểm chuyển quyền
sở hữu, người bán không được có
bất kỳ hành vi nào làm phương
hại tới quyền sở hữu hàng hoá
của người mua.
Điều 70.
Hoàn trả tiền bán hàng đã nhận
Trong trường hợp người bán đã
nhận tiền bán hàng hoặc nhận
tiền ứng trước của người mua
nhưng không thực hiện nghĩa vụ
giao hàng thì người bán phải
hoàn trả lại cho người mua số
tiền bán hàng đã nhận hoặc tiền
ứng trước, kể cả trong trường
hợp được miễn trách nhiệm theo
quy định tại Điều 77 của Luật
này.
Điều 71.
Nghĩa vụ nhận hàng và thanh
toán tiền mua hàng của người mua
1- Người mua phải thực hiện các
công việc cần thiết để người bán
giao hàng, kể cả việc hướng dẫn
gửi hàng.
2- Người mua phải nhận hàng và
thanh toán tiền mua hàng theo
thoả thuận trong hợp đồng.
3- Người mua phải thanh toán
tiền mua hàng trong trường hợp
mất mát, hư hỏng hàng hoá xảy ra
sau thời điểm quyền sở hữu hàng
hoá đã được chuyển từ người bán
sang người mua, trừ trường hợp
mất mát, hư hỏng do lỗi của
người bán gây ra.
Điều 72.
Quyền chưa thanh toán tiền mua
hàng
1- Người mua có quyền chưa thanh
toán toàn bộ hoặc một phần tiền
mua hàng nếu khi nhận hàng phát
hiện thấy hàng bị hư hỏng, có
khuyết tật và chỉ thanh toán khi
người bán đã khắc phục những hư
hỏng, khuyết tật đó, trừ trường
hợp trong hợp đồng có thoả thuận
khác.
2- Người mua có quyền giữ lại
toàn bộ hoặc một phần tiền mua
hàng nếu có bằng chứng về việc
người bán lừa gạt hoặc không có
khả năng giao hàng hoặc hàng này
đang là đối tượng tranh chấp
giữa người bán với người thứ ba
cho đến khi các tình trạng này
đã được giải quyết xong.
Điều 73.
Thời hạn thanh toán tiền mua
hàng
Thời hạn mà người mua phải thanh
toán tiền mua hàng do hai bên
thoả thuận căn cứ vào thời gian
và phương thức giao hàng.
Điều 74.
Kiểm tra hàng tại nơi hàng đến
Người mua có quyền kiểm tra hàng
tại nơi hàng đến trong một thời
hạn hợp lý phù hợp với đặc tính
của từng loại hàng hoá theo hợp
đồng.
Điều 75.
Thông báo về hàng hoá không phù
hợp với hợp đồng
Trong trường hợp các bên có thỏa
thuận thời hạn thông báo về hàng
hoá không phù hợp với hợp đồng,
người mua phải thông báo cho
người bán về việc hàng không phù
hợp này trong thời hạn đã thoả
thuận; nếu hết thời hạn mà người
mua không thông báo cho người
bán thì mất quyền khiếu nại.
Điều 76.
Rủi ro đối với hàng hoá trên đường
vận chuyển