LUẬT
BÁO CHÍ
Để bảo đảm quyền
tự do báo chí,
quyền tự do ngôn
luận trên báo
chí của công dân,
phù hợp với lợi
ích của chủ
nghĩa xã hội và
của nhân dân ;
Để phát huy vai
trò của báo chí
trong sự nghiệp
xây dựng chủ
nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc
theo đường lối đổi
mới của Đảng cộng
sản Việt Nam ;
Căn cứ vào Điều
4, Điều 67 và Điều
83 của Hiến pháp
nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt
Nam ;
Luật này quy định
chế độ báo chí.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1.
Vai trò, chức
năng của báo chí
Báo chí ở nước
Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt
Nam là phương
tiện thông tin
đại chúng thiết
yếu đối với đời
sống xã hội ; là
cơ quan ngôn
luận của các tổ
chức của Đảng,
cơ quan Nhà
nước, tổ chức xã
hội (dưới đây
gọi chung là tổ
chức) ; là diễn
đàn của nhân
dân.
Điều 2.
Bảo đảm quyền tự
do báo chí,
quyền tự do ngôn
luận trên báo
chí
Nhà nước tạo
điều kiện thuận
lợi để công dân
thực hiện quyền
tự do báo chí,
quyền tự do ngôn
luận trên báo
chí và để báo
chí phát huy
đúng vai trò của
mình.
Báo chí, nhà báo
hoạt động trong
khuôn khổ pháp
luật và được Nhà
nước bảo hộ ;
không một tổ
chức, cá nhân
nào được hạn
chế, cản trở báo
chí, nhà báo
hoạt động. Không
ai được lạm dụng
quyền tự do báo
chí, quyền tự do
ngôn luận trên
báo chí để xâm
phạm lợi ích của
Nhà nước, tập
thể và công dân.
Báo chí không bị
kiểm duyệt trước
khi in, phát
sóng.
Điều 3.
Các loại hình
báo chí
Báo chí nói
trong Luật này
là báo chí Việt
Nam, gồm : báo
in (báo, tạp
chí, bản tin
thời sự, bản tin
thông tấn) ; báo
nói (chương
trình phát
thanh) ; báo
hình (chương
trình truyền
hình, chương
trình nghe -
nhìn thời sự
được thực hiện
bằng các phương
tiện kỹ thuật
khác nhau), bằng
tiếng Việt,
tiếng các dân
tộc thiểu số
Việt Nam, tiếng
nước ngoài.
CHƯƠNG II
QUYỀN TỰ DO BÁO
CHÍ, QUYỀN TỰ DO
NGÔN LUẬN
TRÊN BÁO CHÍ CỦA
CÔNG DÂN
Điều 4.
Quyền tự do báo
chí, quyền tự do
ngôn luận trên
báo chí của công
dân Công dân có
quyền :
1- Được thông
tin qua báo chí
về mọi mặt của
tình hình đất
nước và thế giới
;
2- Tiếp xúc,
cung cấp thông
tin cho cơ quan
báo chí và nhà
báo; gửi tin,
bài, ảnh và tác
phẩm khác cho
báo chí mà không
chịu sự kiểm
duyệt của tổ
chức, cá nhân
nào và chịu
trách nhiệm
trước pháp luật
về nội dung
thông tin ;
3- Phát biểu ý
kiến về tình
hình đất nước và
thế giới ;
4- Tham gia ý
kiến xây dựng và
thực hiện đường
lối, chủ trương,
chính sách của
Đảng, pháp luật
của Nhà nước ;
5- Góp ý kiến,
phê bình, kiến
nghị, khiếu nại,
tố cáo trên báo
chí đối với các
tổ chức của
Đảng, cơ quan
Nhà nước, tổ
chức xã hội và
thành viên của
các tổ chức đó.
Điều 5.
Trách nhiệm của
báo chí đối với
quyền tự do báo
chí, quyền tự do
ngôn luận trên
báo chí của công
dân
Cơ quan báo chí
có trách nhiệm :
1- Đăng, phát
sóng tác phẩm, ý
kiến của công
dân ; trong
trường hợp không
đăng, phát sóng
phải trả lời và
nói rõ lý do ;
2- Trả lời hoặc
yêu cầu tổ chức,
người có chức vụ
trả lời bằng thư
hoặc trên báo
chí về kiến
nghị, khiếu nại,
tố cáo của công
dân gửi đến.
CHƯƠNG III
NHIỆM VỤ VÀ
QUYỀN HẠN CỦA
BÁO CHÍ
Điều 6.
Nhiệm vụ và
quyền hạn của
báo chí
Báo chí có nhiệm
vụ và quyền hạn
sau đây :
1- Thông tin
trung thực về
mọi mặt của tình
hình đất nước và
thế giới ;
2- Tuyên truyền,
phổ biến đường
lối, chủ trương,
chính sách của
Đảng, pháp luật
của Nhà nước,
thành tựu văn
hoá, khoa học,
kỹ thuật trong
nước và thế giới
theo tôn chỉ,
mục đích của cơ
quan báo chí ;
góp phần nâng
cao kiến thức,
đáp ứng nhu cầu
văn hoá lành
mạnh của nhân
dân, bảo vệ
truyền thống tốt
đẹp của dân tộc,
xây dựng và phát
triển dân chủ xã
hội chủ nghĩa,
tăng cường khối
đoàn kết toàn
dân, xây dựng
chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ
quốc ;
3- Phản ánh và
hướng dẫn dư
luận xã hội ;
làm diễn đàn
thực hiện quyền
tự do ngôn luận
của nhân dân ;
4- Phát hiện,
biểu dương gương
tốt, nhân tố mới
; đấu tranh
chống các hành
vi vi phạm pháp
luật và các hiện
tượng tiêu cực
xã hội khác ;
5- Mở rộng sự
hiểu biết lẵn
nhau giữa các
nước và các dân
tộc, tham gia
vào sự nghiệp
của nhân dân thế
giới vì hoà
bình, độc lập
dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã
hội.
Điều 7.
Cung cấp thông
tin cho báo chí
Trong phạm vi
quyền hạn, nhiệm
vụ của mình, các
tổ chức có quyền
và nghĩa vụ cung
cấp thông tin
cho báo chí,
giúp cho báo chí
thông tin chính
xác, kịp thời và
chịu trách nhiệm
trước pháp luật
về nội dung
thông tin.
Đối với vụ án
đang được điều
tra hoặc chưa
xét xử thì các
cơ quan tiến
hành tố tụng có
quyền không cung
cấp thông tin
cho báo chí,
nhưng báo chí có
quyền thông tin
theo các nguồn
tài liệu của
mình và chịu
trách nhiệm
trước pháp luật
về nội dung
thông tin.
Báo chí có quyền
và nghĩa vụ
không tiết lộ
tên người cung
cấp thông tin
nếu có hại cho
người đó, trừ
trường hợp có
yêu cầu của Viện
trưởng Viện kiểm
sát nhân dân
hoặc Chánh án
Toà án nhân dân
cấp tỉnh và
tương đương trở
lên cần thiết
cho việc điều
tra, xét xử tội
phạm nghiêm
trọng.
Điều 8.
Trả lời trên báo
chí
Người đứng đầu
cơ quan báo chí
có quyền yêu cầu
các tổ chức,
người có chức vụ
trả lời vấn đề
mà công dân nêu
ra trên báo chí
; các tổ chức,
người có chức vụ
có trách nhiệm
trả lời trên báo
chí.
Tổ chức, công
dân có quyền yêu
cầu cơ quan báo
chí trả lời về
vấn đề mà báo
chí đã thông tin
; cơ quan báo
chí có trách
nhiệm trả lời.
Cơ quan báo chí
phát hiện hoặc
nhận được khiếu
nại, tố cáo của
công dân về
những việc có
dấu hiệu phạm
tội thì phải báo
ngay cho cơ quan
điều tra hoặc
Viện kiểm sát
bằng văn bản ;
cơ quan điều
tra, Viện kiểm
sát có trách
nhiệm thụ lý và
trả lời cho báo
chí cách giải
quyết.
Điều 9.
Cải chính trên
báo chí
Báo chí thông
tin sai sự thật,
xuyên tạc, vu
khống xúc phạm
danh dự của tổ
chức, danh dự,
nhân phẩm của
công dân thì
phải cải chính
và xin lỗi hoặc
đăng, phát sóng
lời cải chính
của tổ chức,
công dân. Trong
trường hợp báo
chí không cải
chính hoặc cải
chính không thoả
đáng ; không
đăng, phát sóng
lời cải chính
của tổ chức,
công dân mà
không có lý do
chính đáng thì
họ có quyền
khiếu nại với cơ
quan chủ quản
báo chí hoặc yêu
cầu Toà án xét
xử.
Lời cải chính
của cơ quan báo
chí của tổ chức,
công dân phải
được đăng, phát
sóng kịp thời và
tương xứng với
thông tin cần
cải chính.
Điều 10.
Những điều không
được thông tin
trên báo chí
Để quyền tự do
ngôn luận trên
báo chí được sử
dụng đúng đắn,
báo chí phải
tuân theo những
điều sau đây :
1- Không được
kích động nhân
dân chống Nhà
nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa
Việt Nam, phá
hoại khối đoàn
kết toàn dân ;
2- Không được
kích động bạo
lực, tuyên
truyền chiến
tranh xâm lược,
gây hận thù giữa
các dân tộc và
nhân dân các
nước, kích động
dâm ô, đồi trụy,
tội ác ;
3- Không được
tiết lộ bí mật
Nhà nước : bí
mật quân sự, an
ninh, kinh tế,
đối ngoại và
những bí mật
khác do pháp
luật quy định ;
4- Không được
đưa tin sai sự
thật, xuyên tạc,
vu khống nhằm
xúc phạm danh dự
của tổ chức,
danh dự, nhân
phẩm của công
dân.
CHƯƠNG IV
TỔ CHỨC BÁO CHÍ
VÀ NHÀ BÁO
Điều 11.
Cơ quan báo chí
Cơ quan báo chí
là cơ quan thực
hiện một loại
hình báo chí nói
tại Điều 3 của
Luật này.
Điều 12.
Cơ quan chủ quản
báo chí
Cơ quan chủ quản
báo chí là tổ
chức đứng tên
xin cấp giấy
phép hoạt động
của báo chí và
trực tiếp quản
lý cơ quan báo
chí.
Cơ quan chủ quản
báo chí có nhiệm
vụ và quyền hạn
sau đây :
1- Xác định, chỉ
đạo thực hiện
tôn chỉ, mục
đích, đối tượng
phục vụ và phạm
vi phát hành chủ
yếu, công suất,
thời gian, tần
số, phạm vi toả
sóng và ngôn ngữ
thể hiện của cơ
quan báo chí
được quy định
trong giấy phép
;
2- Bổ nhiệm,
miễn nhiệm người
đứng đầu cơ quan
báo chí thuộc
quyền mình, sau
khi trao đổi ý
kiến với cơ quan
quản lý Nhà nước
về báo chí.
Điều 13.
Người đứng đầu
cơ quan báo chí
1- Người đứng
đầu cơ quan báo
chí là Tổng biên
tập (báo in)
hoặc Tổng giám
đốc, Giám đốc
(đài phát thanh,
đài truyền hình,
cơ sở thực hiện
chương trình
nghe - nhìn thời
sự) ;
2- Người đứng
đầu cơ quan báo
chí phải là
người có quốc
tịch Việt Nam,
có địa chỉ
thường trú tại
Việt Nam, có đủ
các tiêu chuẩn
chính trị, đạo
đức và nghiệp vụ
báo chí do Nhà
nước quy định ;
3- Người đứng
đầu cơ quan báo
chí lãnh đạo và
quản lý cơ quan
báo chí về mọi
mặt, bảo đảm
thực hiện tôn
chỉ, mục đích
của cơ quan báo
chí và chịu
trách nhiệm
trước thủ trưởng
cơ quan chủ quản
và trước pháp
luật về mọi hoạt
động của cơ quan
báo chí.
Điều 14.
Nhà báo
Nhà báo phải là
người có quốc
tịch Việt Nam,
có địa chỉ
thường trú tại
Việt Nam, có đủ
các tiêu chuẩn
chính trị, đạo
đức và nghiệp vụ
báo chí do Nhà
nước quy định,
đang hoạt động
hoặc công tác
thường xuyên với
một cơ quan báo
chí Việt Nam và
được cấp thẻ nhà
báo.
Điều 15.
Quyền và nghĩa
vụ của nhà báo
Nhà báo có quyền
và nghĩa vụ sau
đây :
1- Nhà báo có
quyền và nghĩa
vụ thông tin
trung thực, phản
ánh ý kiến,
nguyện vọng của
nhân dân, góp
phần thực hiện
quyền tự do báo
chí, quyền tự do
ngôn luận trên
báo chí của công
dân ;
2- Nhà báo có
quyền hoạt động
báo chí trên
lãnh thổ Cộng
hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ;
3- Nhà báo chịu
trách nhiệm về
nội dung tác
phẩm báo chí của
mình ; có quyền
khước từ việc
biên soạn hoặc
tham gia biên
soạn tác phẩm
báo chí trái với
Luật này ;
4- Nhà báo được
hưởng một chế độ
ưu tiên, ưu đãi
cần thiết cho
hoạt động báo
chí theo quy
định của Hội
đồng bộ trưởng ;
Không ai được đe
doạ, uy hiếp
tính mạng, xúc
phạm danh dự,
nhân phẩm của
nhà báo hoặc phá
huỷ, thu giữ
phương tiện, tài
liệu, cản trở
nhà báo trong
hoạt động nghề
nghiệp đúng pháp
luật.
Không ai được
lạm dụng danh
nghĩa nhà báo để
làm việc vi phạm
pháp luật.
Điều 16.
Hội nhà báo Việt
Nam
Hội nhà báo Việt
Nam có quyền và
nghĩa vụ tham
gia xây dựng và
góp phần thực
hiện chính sách
thông tin - báo
chí ; bảo vệ các
quyền và lợi ích
hợp pháp của nhà
báo.
CHƯƠNG V
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BÁO CHÍ
Điều 17.
Quản lý Nhà nước
về báo chí
Quản lý Nhà nước
về báo chí bao
gồm :
1- Xây dựng pháp
luật, quy hoạch,
kế hoạch, chính
sách phát triển
sự nghiệp báo
chí, chính sách
tài trợ báo chí,
chính sách đối
với nhà báo ;
2- Ban hành quy
chế hoạt động
báo chí, cấp
giấy phép hoạt
động báo chí ;
3- Hướng dẫn,
kiểm tra việc
thực hiện phương
hướng, nhiệm vụ
báo chí và các
quy định pháp
luật về báo chí
; xử lý các vi
phạm theo quy
định của pháp
luật.
Trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền
hạn của mình,
Hội đồng bộ
trưởng thực hiện
quyền quản lý
Nhà nước về báo
chí trong cả
nước, Uỷ ban
nhân dân tỉnh,
thành phố trực
thuộc trung ương
và cấp tương
đương thực hiện
quyền quản lý
Nhà nước về báo
chí ở địa phương
theo sự phân cấp
do Hội đồng bộ
trưởng quy định.
Điều 18.
Điều kiện hoạt
động của báo chí
Tổ chức muốn
thành lập cơ
quan báo chí
phải có đủ các
điều kiện sau
đây :
1- Có người đủ
tiêu chuẩn để
đứng đầu cơ quan
báo chí theo quy
định tại Điều 13
của Luật này ;
2- Xác định rõ
tên gọi, tôn
chỉ, mục đích,
đối tượng phục
vụ, phạm vi phát
hành chủ yếu,
công suất, thời
gian, tần số,
phạm vi toả sóng
và ngôn ngữ thể
hiện của cơ quan
báo chí ;
3- Có trụ sở
chính và có các
điều kiện cần
thiết khác bảo
đảm cho hoạt
động của cơ quan
báo chí.
Điều 19.
Cấp giấy phép
hoạt động báo
chí
Cơ quan báo chí
phải có giấy
phép do cơ quan
quản lý Nhà nước
về báo chí cấp
mới được hoạt
động. Trong
trường hợp không
cấp giấy phép
thì chậm nhất là
ba mươi ngày, kể
từ ngày nhận
được đơn xin
phép, cơ quan
quản lý Nhà nước
về báo chí phải
trả lời, nói rõ
lý do. Tổ chức
bị từ chối cấp
giấy phép có
quyền khiếu nại
với Chủ tịch Hội
đồng bộ trưởng.
Điều 20.
Hiệu lực của
giấy phép
Cơ quan báo chí
phải thực hiện
đúng những điều
ghi trong giấy
phép ; nếu muốn
thay đổi tên
gọi, tôn chỉ,
mục đích, đối
tượng phục vụ,
ngôn ngữ thể
hiện, phạm vi
phát hành chủ
yếu, kỳ hạn xuất
bản thì phải xin
phép lại.
Việc xác định,
thay đổi công
suất, thời gian,
tần số, phạm vi
toả sóng phải
được phép của cơ
quan quản lý Nhà
nước về tần số
vô tuyền điện.
Không được
chuyển nhượng
giấy phép hoạt
động báo chí cho
cơ quan, tổ chức
khác.
Điều 21.
Xuất bản ấn phẩm
báo chí khác,
phát sóng chương
trình đặc biệt,
chương trình phụ
Cơ quan báo chí,
tổ chức khác
muốn xuất bản
đặc san, số phụ
; đài phát
thanh, đài
truyền hình muốn
phát sóng chương
trình đặc biệt,
chương trình phụ
khác với tôn
chỉ, mục đích,
ngôn ngữ thể
hiện ghi trong
giấy phép thì
phải xin phép cơ
quan quản lý Nhà
nước về báo chí.
Điều 22.
In báo chí, phát
sóng chương
trình phát
thanh, truyền
hình
Cơ sở in có
trách nhiệm thực
hiện hợp đồng,
bảo đảm thời
gian phát hành
của báo chí ;
không được in
báo chí không có
giấy phép, không
được in lại tác
phẩm báo chí đã
có lệnh cấm lưu
hành của cơ quan
quản lý Nhà nước
về báo chí.
Cơ sở kỹ thuật
phát sóng cho
đài phát thanh,
đài truyền hình
có trách nhiệm
bảo đảm phạm vi
toả sóng quy
định.
Đài phát thanh,
đài truyền hình,
cơ sở thực hiện
chương trình
nghe - nhìn thời
sự không được
phát nội dung
tác phẩm báo chí
đã có lệnh cấm
lưu hành hoặc
tịch thu.
Điều 23.
Lưu chiểu
Báo chí in phải
nộp lưu chiểu
trước khi phát
hành ; báo nói,
báo hình phải
lưu giữ bản
thảo, phim nhựa,
băng, đĩa, ghi
âm, ghi hình
theo quy định
của Hội đồng bộ
trưởng.
Điều 24.
Phát hành báo
chí
Cơ quan báo chí
được tổ chức
phát hành hoặc
uỷ thác cho tổ
chức, cá nhân có
đăng ký phát
hành.
Không ai được
cản trở việc
phát hành báo
chí tới người
đọc, nếu không
có lệnh cấm lưu
hành.
Không một tổ
chức, cá nhân
nào được lưu
hành ấn phẩm báo
chí không có
giấy phép xuất
bản hoặc đã có
lệnh cấm.
Điều 25.
Quảng cáo
Báo chí được
đăng, phát sóng
quảng cáo và thu
tiền quảng cáo.
Nội dung quảng
cáo phải tách
biệt với nội
dung tuyên
truyền và không
được vi phạm quy
định tại Điều 10
của Luật này.
Điều 26.
Họp báo
Tổ chức, công
dân muốn họp báo
phải báo trước
cho cơ quan quản
lý Nhà nước về
báo chí. Nghiêm
cấm họp báo có
nội dung vi phạm
quy định tại
Điều 10 của Luật
này.
CHƯƠNG VI
KHEN THƯỞNG VÀ
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 27.
Khen thưởng
Cơ quan báo chí,
nhà báo, tổ chức
và công dân có
thành tích và
cống hiến vào
hoạt động báo
chí thì được
khen thưởng theo
quy định của Nhà
nước. Nhà báo có
thành tích xuất
sắc thì được
tặng danh hiệu
vinh dự Nhà
nước.
Điều 28.
Xử lý vi phạm
1- Cơ quan báo
chí, tổ chức
khác vi phạm quy
định về giấy
phép hoạt động
báo chí, về nội
dung thông tin
trên báo chí, về
cải chính do
thông tin sai sự
thật, xuyên tạc,
vu khống và các
quy định khác
của Luật này thì
tuỳ theo mức độ
nhẹ hoặc nặng mà
bị cảnh cáo,
phạt tiền, thu
hồi, tịch thu ấn
phẩm, băng, đĩa
ghi âm, ghi
hình, đình bản
tạm thời hoặc
thu hồi giấy
phép theo quy
định của pháp
luật xử phạt vi
phạm hành chính.
Cơ quan báo chí,
công dân thông
tin gây thiệt
hại cho tổ chức,
công dân khác
thì phải bồi
thường thiệt hại
theo quy định
của pháp luật
dân sự.
2- Người chịu
trách nhiệm
chính về những
hành vi quy định
tại khoản 1 Điều
này thì tuỳ theo
mức độ nhẹ hoặc
nặng mà bị xử lý
kỷ luật, xử phạt
hành chính hoặc
truy cứu trách
nhiệm hình sự.
3- Người vi phạm
các quy định về
cung cấp thông
tin, trả lời
trên báo chí,
thành lập cơ
quan báo chí,
phát hành, quảng
cáo, họp báo,
cản trở hoạt
động báo chí,
xúc phạm danh
dự, nhân phẩm
nhà báo và các
quy định khác
của Luật này thì
tuỳ theo mức độ
nhẹ hoặc nặng mà
bị xử lý kỷ
luật, xử phạt
hành chính hoặc
truy cứu trách
nhiệm hình sự.
CHƯƠNG VII
ĐIỀU KHOẢN CUỐI
CÙNG
Điều 29
Luật này thay thế
Luật số 100
SL-L002 ngày 20
tháng 5 năm 1957
quy định chế độ
báo chí.
Những quy định
trước đây trái với
Luật này đều bãi
bỏ.
Điều 30
Căn cứ vào quy định
của Luật này, Hội
đồng bộ trưởng
ban hành quy chế
hoạt động của
báo chí nước
ngoài tại Việt
Nam và quy chế
hoạt động của
báo chí Việt Nam
liên quan đến nước
ngoài.
Điều 31
Hội đồng bộ trưởng
quy định chi tiết
thi hành Luật
này.
------------------------------------
Luật này đã được
Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
khoá VIII, kỳ họp
thứ 6 thông qua
ngày 28 tháng 12
năm 1989.